2019 truong van le1

Chuyên khảo phân tích 2019 truong van le1, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Lâm sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2018

150
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên cứu sinh trưởng rừng trồng gỗ lớn

Nghiên cứu sinh trưởng rừng trồng là yếu tố then chốt để quản lý và phát triển rừng trồng gỗ lớn hiệu quả tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Việc hiểu rõ các đặc điểm sinh trưởng của các loài cây, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này, giúp đưa ra các biện pháp lâm sinh phù hợp, nâng cao năng suất và chất lượng rừng. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá sinh trưởng cây gỗ lớn trong các mô hình rừng trồng khác nhau, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển bền vững. Các mô hình trồng rừng cây gỗ lớn đã được triển khai khá sớm, trong 7 mô hình trồng rừng cây gỗ lớn được trồng theo 2 phương thức là trồng mới và trồng bổ sung. Các loài cây trồng trong mô hình là Sao đen, giáng hương, dầu con rái, muồng đen, gõ đỏ. Chúng được trồng thuần loài hoặc hỗn loài.

1.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu sinh trưởng rừng trồng

Nghiên cứu sinh trưởng rừng trồng cung cấp thông tin quan trọng về tốc độ tăng trưởng, khả năng thích nghi và năng suất của các loài cây. Thông tin này giúp các nhà quản lý rừng đưa ra các quyết định sáng suốt về việc lựa chọn loài cây, mật độ trồng, và các biện pháp chăm sóc rừng. Ngoài ra, nghiên cứu sinh trưởng còn giúp dự đoán sản lượng gỗ trong tương lai, từ đó lập kế hoạch khai thác và chế biến gỗ hiệu quả. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Mô hình trồng rừng cây gỗ lớn đã được triển khai khá sớm, trong 7 mô hình trồng rừng cây gỗ lớn được trồng theo 2 phương thức là trồng mới và trồng bổ sung.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng rừng trồng

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng rừng trồng, bao gồm điều kiện khí hậu, đất đai, nguồn nước, và các biện pháp chăm sóc rừng. Nghiên cứu cần xác định các yếu tố quan trọng nhất đối với từng loài cây và từng khu vực cụ thể. Ví dụ, độ ẩm và dinh dưỡng đất có thể ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng cây gỗ lớn. Tỷ lệ cây sống trong các mô hình thuộc nhóm trồng bổ sung cao hơn so với các mô hình trồng mới. Tỷ lệ cây sống trung bình của các mô hình trồng mới đạt 84,4% thấp hơn 3,1% so với tỷ lệ cây sống trung bình của mô hình rừng trồng bổ sung (đạt 87,0%).

II. Thách thức trong Tái sinh tự nhiên rừng trồng gỗ lớn

Tái sinh tự nhiên là quá trình quan trọng để duy trì và phát triển rừng trồng bền vững. Tuy nhiên, quá trình này thường gặp nhiều thách thức, đặc biệt trong các rừng trồng gỗ lớn tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Các yếu tố như thiếu ánh sáng, cạnh tranh với cây bụi, và tác động của con người có thể cản trở quá trình tái sinh rừng tự nhiên. Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định các yếu tố hạn chế tái sinh tự nhiên và đề xuất các biện pháp khắc phục. Thông qua kết quả kiểm kê rừng năm 2016 trên địa bàn tỉnh nói chung và Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu Phước Bửu cho thấy, các lâm phân rừng trồng đến nay đã có những hiệu quả nhất định, nhiều diện tích đã được phục hồi, tình hình tái sinh tự nhiên dưới tác rừng trồng đã xuất hiện trở lại.

2.1. Các yếu tố hạn chế tái sinh tự nhiên

Ánh sáng là yếu tố quan trọng nhất đối với tái sinh tự nhiên. Mật độ tán cây quá dày có thể hạn chế ánh sáng đến mặt đất, ngăn cản sự nảy mầm và phát triển của cây con. Ngoài ra, cạnh tranh với cây bụi và cỏ dại cũng là một thách thức lớn. Tác động của con người, như chăn thả gia súc và khai thác gỗ trái phép, cũng có thể gây hại cho cây con và cản trở quá trình tái sinh rừng tự nhiên. Mật độ cây tái sinh ở MH1 thấp nhất với 978 cây/ha, ở MH5 mật độ là 1.526 cây/ha, MH6 và MH7 có mật độ tương đồng là 1.

2.2. Ảnh hưởng của loại hình rừng trồng đến tái sinh

Loại hình rừng trồng, như rừng thuần loài hay rừng hỗn loài, có thể ảnh hưởng đến tái sinh tự nhiên. Rừng hỗn loài thường có độ đa dạng sinh học cao hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho tái sinh rừng. Ngoài ra, các biện pháp lâm sinh, như tỉa thưa và phát quang, cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình tái sinh tự nhiên. Mật độ cây tái sinh giảm khi cấp chiều cao cây tái sinh tăng. Mật độ tái sinh trong MH5, MH6 và MH7 có mật độ cao hơn so với MH1.

2.3. Đa dạng sinh học và tái sinh tự nhiên

Đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong quá trình tái sinh tự nhiên. Một hệ sinh thái đa dạng có khả năng phục hồi tốt hơn sau các tác động tiêu cực. Nghiên cứu cần đánh giá đa dạng sinh học trong các rừng trồng và xác định mối liên hệ giữa đa dạng sinh họctái sinh tự nhiên. MH1 có 16 loài cây tái sinh xuất hiện, trong đó Sao đen chiếm tỷ lệ cao nhất với 45%; MH5 có tổng cộng 15 loài, Sao đen là loài chiếm ưu thế; MH6 gồm có 15 loài; MH7 có 21 loài, Gõ mật có tỷ lệ và vai trò cao nhất với 11,1%.

III. Phương pháp Đánh giá sinh trưởng rừng trồng hiệu quả

Để đánh giá sinh trưởng rừng trồng một cách chính xác và hiệu quả, cần sử dụng các phương pháp phù hợp. Các phương pháp này bao gồm đo đạc đường kính và chiều cao cây, phân tích cấu trúc rừng, và đánh giá tăng trưởng rừng trồng theo thời gian. Nghiên cứu này sử dụng kết hợp các phương pháp khác nhau để có được cái nhìn toàn diện về sinh trưởng rừng trồng tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài đã tiến hành rút 23 OTC có diện tích 1000m2, trong các Mô hình, trên các OTC tiến hành lập 9 ODB có diện tích 25 m2 để tiến hành thu thập các chỉ tiêu về sinh trưởng, cấu trúc của cây trồng trong các mô hình, và đặc điểm của tầng cây tái sinh dưới tán rừng.

3.1. Đo đạc đường kính và chiều cao cây

Đo đạc đường kính và chiều cao cây là phương pháp cơ bản để đánh giá sinh trưởng rừng trồng. Các số liệu này được sử dụng để tính toán thể tích gỗ, trữ lượng rừng, và tăng trưởng rừng trồng. Cần thực hiện đo đạc định kỳ để theo dõi sự thay đổi của các chỉ số này theo thời gian. MH1 có N là 418 cây/ha, Hvn là 11.59 m, trữ lượng đạt 137 m3/ha; ở MH2, Giáng Hương có D1.5 cm, Hvn của Sao đen đạt 8,7 m.

3.2. Phân tích cấu trúc rừng

Phân tích cấu trúc rừng giúp hiểu rõ hơn về sự phân bố của cây theo kích thước, tuổi, và loài. Các chỉ số như mật độ cây, độ tàn che, và chỉ số đa dạng sinh học được sử dụng để mô tả cấu trúc rừng. Phân tích cấu trúc rừng giúp đánh giá khả năng tái sinh tự nhiên và đề xuất các biện pháp quản lý rừng phù hợp. Đường cong phân bố N - D của các loài cây trồng và các mô hình đều tuân thủ theo phân bố Weibull. Dạng đường cong có 1 đỉnh, lệch trái.

3.3. Đánh giá tăng trưởng rừng trồng theo thời gian

Đánh giá tăng trưởng rừng trồng theo thời gian là phương pháp quan trọng để theo dõi hiệu quả của các biện pháp lâm sinh. Các số liệu đo đạc được sử dụng để tính toán tăng trưởng đường kính, chiều cao, và thể tích gỗ. So sánh tăng trưởng của các mô hình rừng trồng khác nhau giúp xác định các mô hình hiệu quả nhất. Tăng trưởng đường kính của mô hình có xu thế giảm dần khi tuổi của mô hình tăng dần. Tăng trưởng bình quân của MH7 (Gõ đỏ) cao nhất là 0.97 cm/năm, thấp nhất tại MH1 (Sao đen) là 0.

IV. Giải pháp Thúc đẩy Tái sinh tự nhiên rừng trồng gỗ lớn

Để thúc đẩy tái sinh tự nhiên trong các rừng trồng gỗ lớn, cần áp dụng các giải pháp lâm sinh phù hợp. Các giải pháp này bao gồm tỉa thưa, phát quang, và bảo vệ cây con. Nghiên cứu này đề xuất các giải pháp cụ thể để cải thiện tái sinh tự nhiên trong các rừng trồng tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Cây tái sinh triển vọng của MH1 cao nhất, với mật độ trung bình là 240 cây/ha. Cây tái sinh triển vọng trong các MH5, MH6 và MH7 chiếm tỷ lệ không cao, giao động từ 11,2 - 12,5%.

4.1. Tỉa thưa để tăng ánh sáng

Tỉa thưa là biện pháp quan trọng để tăng ánh sáng đến mặt đất, tạo điều kiện cho cây con nảy mầm và phát triển. Cần tỉa thưa định kỳ để duy trì mật độ cây phù hợp. Việc tỉa thưa cần được thực hiện cẩn thận để tránh gây hại cho cây còn lại. Cây tái sinh trong các mô hình đều có dạng phân bố cụm do có hệ số phân tán C > 0, và chỉ số độ tụ hợp (I) đều > 0.

4.2. Phát quang để giảm cạnh tranh

Phát quang giúp loại bỏ cây bụi và cỏ dại, giảm cạnh tranh với cây con về ánh sáng, nước, và dinh dưỡng. Cần phát quang định kỳ để duy trì môi trường thuận lợi cho tái sinh tự nhiên. Cây tái sinh trong MH1 có xu thế phân bố trên mặt đất đang chuyển dần và tiệm cận với dạng phân bố lý tưởng đó là phân bố đều.

4.3. Bảo vệ cây con khỏi tác động tiêu cực

Bảo vệ cây con khỏi tác động của con người và động vật là rất quan trọng. Cần có các biện pháp ngăn chặn chăn thả gia súc và khai thác gỗ trái phép. Ngoài ra, cần phòng chống cháy rừng để bảo vệ cây con và rừng trồng. Nguồn gốc cây tái sinh ở MH1 cây tái sinh hạt chiếm 94,5%; trong khi ở MH5, 6 và 7 chiếm tỷ lệ lần lượt là 92,3%, 92,6% và 91,6%.

V. Ứng dụng Kết quả nghiên cứu vào quản lý rừng bền vững

Kết quả nghiên cứu về sinh trưởngtái sinh tự nhiên có thể được ứng dụng vào quản lý rừng trồng bền vững tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Các thông tin này giúp các nhà quản lý rừng đưa ra các quyết định sáng suốt về việc lựa chọn loài cây, mật độ trồng, và các biện pháp chăm sóc rừng. Quản lý rừng trồng bền vững giúp bảo vệ môi trường, duy trì đa dạng sinh học, và cung cấp nguồn gỗ ổn định cho xã hội. Xét tổng thể các mô hình rừng trồng theo phương thức bổ sung có mức đa dạng cao hơn so với MH1.

5.1. Lựa chọn loài cây phù hợp

Nghiên cứu giúp xác định các loài cây có sinh trưởng tốt và khả năng tái sinh tự nhiên cao trong điều kiện địa phương. Lựa chọn loài cây phù hợp giúp nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng. Phẩm chất cây tái sinh trong 4 mô hình khá tốt, tỷ lệ cây có năng lực sinh trưởng cấp độ tốt chiếm tỷ lệ cao.

5.2. Điều chỉnh mật độ trồng

Nghiên cứu giúp xác định mật độ trồng tối ưu để đạt được sinh trưởng tốt và tái sinh tự nhiên hiệu quả. Điều chỉnh mật độ trồng giúp tối ưu hóa sử dụng tài nguyên và nâng cao năng suất rừng trồng. MH7 có chỉ số đa dạng Simpson (1-λ') cao nhất, thấp nhất ở MH1.

5.3. Áp dụng các biện pháp lâm sinh phù hợp

Nghiên cứu giúp xác định các biện pháp lâm sinh phù hợp để thúc đẩy sinh trưởngtái sinh tự nhiên. Áp dụng các biện pháp lâm sinh phù hợp giúp nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng, đồng thời bảo vệ môi trường. Một số giải pháp tác động đối với các mô hình rừng trồng cây gỗ lớn.

VI. Kết luận và Hướng Nghiên cứu sinh trưởng rừng tương lai

Nghiên cứu về sinh trưởngtái sinh tự nhiên trong rừng trồng cây gỗ lớn tại Bà Rịa - Vũng Tàu cung cấp những thông tin quan trọng cho việc quản lý và phát triển rừng bền vững. Cần tiếp tục nghiên cứu để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởngtái sinh tự nhiên, từ đó đề xuất các giải pháp hiệu quả hơn. Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến rừng trồng. Trong những năm gân đây, vấn đề này cũng đã được các học giả, các nhà nghiên cứu, chính quyền địa phương quan tâm. Song việc đánh giá các mô hình rừng như: nghiên cứu về tình hình sinh trưởng, phát triển, tình hình tái sinh, diễn thế sinh thái rừng,. chưa được chú trọng nhiều.

6.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã xác định được các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởngtái sinh tự nhiên trong rừng trồng cây gỗ lớn tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Các kết quả này có thể được sử dụng để cải thiện quản lý rừng và nâng cao năng suất rừng trồng. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, cho thấy việc đi sâu nghiên cứu đánh giá tình hình sinh trưởng, phát triển và diễn thế tái sinh của các lớp cây đối của các mô hình rừng trồng cây gỗ lớn ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, mà tập trung ở huyện Xuyên Mộc là việc làm hết sức cấp bách, có ý nghĩa không chỉ về lý luận khoa học mà còn có ý nghĩa cao về thực tiễn.

6.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến rừng trồng. Ngoài ra, cần nghiên cứu các biện pháp lâm sinh mới để thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao khả năng phục hồi của rừng trồng. Cần tiến hành đánh giá các mô hình rừng như: nghiên cứu về tình hình sinh trưởng, phát triển, tình hình tái sinh, diễn thế sinh thái rừng,. chưa được chú trọng nhiều.

06/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về cấu trúc rừng trong và ngoài nước Nghiên cứu cấu trúc rừng đã được các nhà lâm nghiệp trên thế giới nghiên cứu bằng nhiều phương pháp khác nhau để đáp ứng cho một mục tiêu nào đó. Tuy nhiên, đúc kết lại có hai hướng chính để mô tả cấu trúc rừng là theo định tính và định lượng. Theo Nguyễn Văn Trương tổng hợp, thì từ P.

W Richards, Thái Văn Trừng đến M.Rollet việc nghiên cứu cấu trúc đứng rừng tự nhiên nhiệt đới vẫn dừng lại ở dạng vẽ phẫu đồ đứng[12, 19]. Khi đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng Kraft (1884), đã chia cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp sinh trưởng hoặc cấp “ưu thế” và cấp “chèn ép”. Các chỉ tiêu Kraft sử dụng là: Vị trí tán cây trong tán rừng (chiều cao), độ lớn và hình dạng tán lá, khả năng ra hoa, tình trạng sinh lực…Mỗi chỉ tiêu có một hệ thống tiêu chuẩn để nhận biết và đánh giá (Stephen và ctv, 1986). Phương pháp này phản ánh được tình hình phân hóa cây rừng rõ ràng trong các lớp không gian, chiều cao của các cấp so với chiều cao trung bình.

Nhưng giải pháp này chỉ áp dụng cho rừng trồng đồng tuổi có sự cạnh tranh về không gian dinh dưỡng ở cùng loài cây, cùng tuổi (Hoàng Phú Mỹ, 2014)[12]. Theo Meryer đã xây dựng rừng chuẩn với phương trình hồi quy để tính toán cho chu kỳ khai thác ổn định số cây và cấp đường kính; Richards trong quyển “ Rừng mưa nhiệt đới” cũng đề cập đến phân bố số cây theo cấp kính, ông cho đó là một phân bố đặc trưng của rừng tự nhiên hỗn loại[14]. Theo quan điểm của Richards, Wenk đã nghiên cứu thân cây theo kích cỡ và đồng hóa với một số dạng phân bố lý thuyết để sử dụng trong tính toán quy hoạch rừng, Rollet đã dành một chương quan trọng để xác lập phương trình hồi quy số 4 cây- đường kính. Các tác giả này đã xây dựng được các phương trình hồi quy cho các kiểu rừng khác nhau (số cây theo đường kính).

Từ các nhân tố điều tra có thể suy ra được các biến khác thông qua tương quan hồi quy. Đây là cơ sở quan trọng để ứng dụng trong điều chế rừng góp phần tìm ra một số kết luận bổ ích cho công tác lâm sinh hướng vào mục tiêu xây dựng và nâng cao vốn rừng về lượng và chất[9, 10, 18, 19]. Theo Prodan (1952) nghiên cứu quy luật phân bố rừng, chủ yếu theo đường kính D1,3 có liên hệ với giai đoạn phát dục và các biện pháp kinh doanh. Theo tác giả, sự phân bố số cây theo đường kính có giá trị đặc trưng nhất cho rừng, đặc biệt là rừng hỗn loại, nó phản ảnh các đặc điểm lâm sinh của rừng (dẫn theo Hoàng Văn Thắng, 2007)[18].

Nghiên cứu cấu trúc rừng, định lượng các nhân tố cấu trúc và xây dựng các mô hình mẫu chuẩn phục vụ khai thác, nuôi dưỡng rừng là mục tiêu quan trọng, nhằm tìm ra phương hướng và phương pháp điều chế rừng (Hoàng Phú Mỹ, 2014)[12]. Năm 1985, Nguyễn Ngọc Lung cho rằng: Trong thực tiễn sản xuất, sau khi phân chia rừng ra các loại, mỗi loại thuần nhất về một số đặc điểm nào đó như tổ thành, tầng thứ, phân bố số cây theo đường kính, có thể chọn được một loại trong các lô tốt nhất, có trữ lượng cao, năng suất sinh trưởng tốt, tổ thành hợp lý nhất, có đủ thế hệ cây gỗ cho sản lượng ổn định, ta coi là mẫu chuẩn tự nhiên và đây chính là cái mà con người cần hướng tới trong quá trình kinh doanh rừng (Cao Phi Long, 2011)[10]. Trong lĩnh vực này các tác giả đều xây dựng các cấu trúc mẫu từ nghiên cứu cơ sở, các quy luật kết cấu, từ đó đề xuất các giải pháp tác động vào rừng. Các mẫu này đều được xây dựng trên cơ sở các mẫu tự nhiên đã chọn lọc và được coi là ổn định, có năng suất cao nhất thông qua số liệu quan sát.

5 Đồng Sỹ Hiền (1974) dùng hàm Meyer và họ đường cong Pearson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo đường kính cho rừng tự nhiên Việt Nam. Phạm Ngọc Giao (1989), Vũ Nhâm (1988), Trần Văn Con (1991), Lê Sáu (1996) đã dùng hàm Weibull để mô phỏng phân bố N/D1. Bảo huy (1993) trong nghiên cứu cấu trúc rừng Bằng Lăng ở Tây Nguyên, Trần Cẩm Tú (1999) nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên phục hồi sau khai thác ở Hương Sơn-Hà Tĩnh đều chọn hàm Khoảng cách để mô phỏng phân bố N/D1.[4, 8] Nghiên cứu cấu trúc phân bố số cây theo chiều cao N/H các tác giả Đồng Sỹ Hiền (1974), Bảo Huy (1993), Đào Công Khanh (1996), Lê sáu (1996), Trần Cẩm Tú (1996) đều đi đến nhận xét chung là: Phân bố N/H có dạng một đỉnh, nhiều đỉnh phụ hình răng cưa và mô tả thích hợp bằng hàm Weibull.[20] Đồng Sỹ Hiền (1974) đã sử dụng phương trình Logarit hai chiều hoặc hàm mũ, Vũ Đình Phương (1975) dùng phương trình Parabol bậc 2 mô tả quan hệ và khảng định không cần phân biệt cấp đất và tuổi. Bảo Huy, Đào Công Khanh đã sử dụng phương trình logarit hai chiều để mô tả quan hệ H-D cho rừng ưu thế Bằng lăng ở Đắc Lắc và rừng tự nhiên hỗn loài ở Hà Tĩnh.[12, 13] Phân bố số cây theo cỡ đường kính là quy luật kết cấu cơ bản của lâm phần và được nhiều tác giả quan tâm.

Meyer (1934), đã mô tả phân bố N-D1.3 bằng phương trình toán học có dạng đường cong giảm liên tục và được gọi là hàm Meyer Tiếp đó, một số tác giả dùng phương pháp giải tích để tìm phương trình đường cong phân bố (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2004)[14, 20, 25]. Balley (1973) sử dụng hàm Weibull, Schiffel biểu thị đường cong cộng dồn phần trăm số cây bằng đa thức bậc ba. Diatchenko sử dụng phân bố Gamma biểu thị phân bố số cây theo đường kính lâm phần Thông ôn đới. Đặc biệt để tăng tính mềm dẻo một số tác giả dùng các hàm khác như Loetsch, 1973 dùng hàm Beta để nắn các phân bố thực nghiệm.

Tuỳ theo 6 đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu mà các tác giả khác dùng hàm Hyperbol, Poison, Charlier, hàm mũ (Chu Thị Hồng Huyền, 2012)[8] 1. Nghiên cứu tái sinh rừng trong và ngoài nước Tái sinh rừng là một quá trính sinh học mang tính đặc thù và diễn ra liên tục của hệ sinh thái rừng. Sự xuất hiện của cây con của các loài cây đang phát triển dưới tán rừng, lỗ trống trong rừng sau khai thác chọn, sau phát nương làm rẫy. Vai trò quan trọng của lớp tái sinh này là nguồn thay thế lớp cây đã già cỗi, là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng.

Theo quan điểm của các nhà lâm học thì hiệu quả tái sinh rừng là xác định được mật độ tái sinh, chất lượng cây tái sinh (cây triển vọng), tổ thành loài và phân bố của cây tái sinh…Sự tương đồng hay khác biệt trong tổ thành của loài cây tái sinh với tổ thành loài cây gỗ đã được các nhà khoa học quan tâm (Richards (1933, 1939); Baur (1964). Do tính phức tạp của tổ thành loài cây, nên khi khảo sát người ta chỉ đo đếm, nghiên cứu các loài có giá trị thực tiễn và có ý nghĩa nhất định[16, 24]. Khi nghiên cứu hiệu quả tái sinh rừng (Mibbreuad, 1930; Aubreville, 1938; Richards, 1933; 1939; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955; 1956; Schultz, 1960; Baur, 1976; 1979; Rollet, 1969) đã cho rằng hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992)[7, 19, 23]. Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy.

Ramakrishnan (1981, 1992), đã nghiên cứu từ 1 - 20 năm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ thấy rằng chỉ số đa dạng loài rất thấp. Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá. Long Chun và ctv (1993), đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuangbanna tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nhận xét: tại Baka khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật, bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi, 167 loài. Sau 7 khi bỏ hoá số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu đến rừng thành thục.

Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ lệ các loài nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, Tần suất canh tác của khu vực đó được kết luận bởi tác giả Saldarriaga (1991), khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên tại rừng nhiệt đới sau nương rẫy ở Colombia và Venezuela [5, 7, 10]. Khi nghiên cứu về quá trình diễn thế sau nương rẫy Lambertetal (1989); Warner (1991); Rouw (1991) đã nhận xét: đầu tiên đám nương rẫy được các loài cỏ xâm chiếm, nhưng sau một năm loài cây gỗ tiên phong được gieo giống từ vùng lân cận hỗ trợ cho việc hình thành quần thể các loài cây gỗ, tạo ra tiểu hoàn cảnh thích hợp cho việc sinh trưởng của cây con. Những loài cây gỗ tiên phong chết đi sau 5 - 10 năm và được thay thế dần bằng các loài cây rừng mọc chậm, ước tính cần phải mất hàng trăm năm thì nương rẫy cũ mới chuyển thành loại hình rừng gần với dạng nguyên sinh ban đầu (Cao Phi Long, 2011, Hoàng Phú Mỹ, 2014)[10, 12]. Xây dựng các mô hình rừng trồng phục vụ phục hồi rừng Trồng rừng trên đất trống đã bị mất hoặc chưa có rừng là một trong các giải pháp phục hồi rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc được triển khai bởi các dự án khác nhau từ những thập niên 80, cùng với trồng rừng, các biện pháp khác như nông lâm kết hợp, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp đều được coi là phủ xanh đất trống đồi trọc.

Khi nghiên cứu xây dựng mô hình khoanh nuôi tại một số địa phương: Kon Hà Nừng (giai đoạn 1990 - 1995), Con Cuông - Nghệ An (giai đoạn 1992 - 1996), 8 Sơn La (giai đoạn 1990 - 2000), Lai Châu (2000 - 2002), và gần đây là tại trạm đa dạng sinh học Mê Linh (giai đoạn 2001 2005) cho thấy khả năng phục hồi tự nhiên của thảm thực vật không cao. Trên đất tốt sau 8-9 năm nếu không bị lửa rừng, chặt phá hay chăn thả thì từ thảm cỏ có thể phục hồi thành rừng non đáp ứng được yêu cầu phòng hộ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu sinh trưởng và tái sinh tự nhiên trong rừng trồng cây gỗ lớn tại Bà Rịa - Vũng Tàu" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình sinh trưởng và khả năng tái sinh của các loại cây gỗ lớn trong môi trường rừng trồng. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mà còn chỉ ra tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát triển rừng trồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay. Độc giả sẽ nhận được những thông tin quý giá về cách thức quản lý rừng hiệu quả, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn để nâng cao năng suất và bảo vệ môi trường.

Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng ở huyện cư jút tỉnh đắk nông, nơi cung cấp thông tin về quản lý rừng bền vững. Ngoài ra, tài liệu Luận văn nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên tại khu bảo tồn thiên nhiên thần sa phượng hoàng tỉnh thái nguyên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cấu trúc rừng tự nhiên và vai trò của nó trong hệ sinh thái. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài chò chỉ parashorea chinensis tại khu bảo tồn thiên nhiên nà hẩu tỉnh yên bái sẽ cung cấp thêm thông tin về các loài cây gỗ quý và đặc điểm sinh học của chúng. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai quan tâm đến nghiên cứu và bảo tồn rừng.