Chương 1 và 2 giới thiệu các nguyên nhân gây ra tai nạn xây dựng ở một số nước phát triển và đang phát triển. Chương 3 làm sáng tỏ việc cung cấp các biện pháp an toàn ở một số nước đang phát triển, chẳng hạn như Bermuda, Trung Quốc, Ai Cập và Kuwait; cũng như các nước phát triển, chẳng hạn như Pháp, Hoa Kỳ và Singapore. Các chương 4–6 nghiên cứu hiệu quả của các biện pháp an toàn khác nhau ở Hồng Kông với sự trợ giúp của bảng câu hỏi, nghiên cứu điển hình và phỏng vấn. Chương 7 và 8 học chia sẻ kiến thức an toàn với Web 2.0 và công nghệ thông tin.
Bằng cách xem xét chi phí trực tiếp và gián tiếp của các vụ tai nạn xây dựng và các vụ kiện ở Vương quốc Anh và Hồng Kông, Chương 9–11 xem xét nhu cầu về các biện pháp an toàn khác nhau. Cuối cùng, Chương 12 minh họa tác động của kiệt sức đối với an toàn công trình xây dựng.Li và Sun Wah Poon “Construction site safety: A literature review” được Springer Berlin Heidelberg xuất bản vào năm 2013 [19] cũng khuyến khích việc áp dụng các công nghệ tiên tiến như BIM, thực tế ảo, giám sát trực tuyến để cải thiện an toàn công trình xây dựng. Theo Feniosky Peña-Mora và các cộng sự “Toward an understanding of the impact of production pressure on safety performance in construction operations”, tập trung vào việc tìm hiểu mối quan hệ giữa áp lực sản xuất và hiệu suất an toàn trong các hoạt động xây dựng [16]. Không có gì lạ khi quan sát thấy rằng tiến độ thực tế và hiệu suất chất lượng khác với hiệu suất theo kế hoạch (ví dụ: trì hoãn tiến độ và làm lại) trong một dự án xây dựng.
Những khác biệt như vậy thường dẫn đến áp lực sản xuất (ví dụ: bị ép phải làm việc nhanh hơn). Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng áp lực sản xuất như vậy ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu suất an toàn. Tuy nhiên, quy trình mà áp lực sản xuất ảnh hưởng đến hiệu suất an toàn và ở mức độ nào, vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Do đó, tác động của áp lực sản xuất chưa được lồng ghép nhiều vào quản lý an toàn trong thực tế.
Trong nỗ lực giải quyết vấn đề này, bài viết này xem xét áp lực sản xuất liên quan như thế nào đến hiệu suất an toàn theo thời gian bằng cách xác định các quy trình phản hồi của chúng. Sơ đồ vòng lặp nhân quả khái niệm được tạo ra để xác định mối quan hệ giữa tiến độ và hiệu suất chất lượng (ví dụ: trì hoãn lịch trình và làm lại) và các thành phần liên quan đến chương trình an toàn (ví dụ: nhận thức của người lao động về an toàn, đào tạo an toàn, giám sát an toàn và quy mô đội). Sau đó, một nghiên cứu trường hợp được thực hiện bằng thực nghiệm để điều tra mối quan hệ này với việc xảy ra tai nạn khi sử dụng dữ liệu được thu thập từ một công trường xây dựng; nghiên cứu điển hình được sử dụng để xây dựng mô hình hệ thống động lực học. Sau đó, mô hình hệ thống động lực học được xác thực thông qua phân tích thống kê bất bình đẳng.
Phân tích độ nhạy và các kỹ thuật sàng lọc thống kê tiếp tục cho phép đánh giá tác động của các thành phần quản lý đối với việc xảy ra tai nạn. 9 Bài nghiên cứu cho rằng áp lực sản xuất có thể được chia thành hai loại: áp lực tích cực và áp lực tiêu cực. Áp lực tích cực là áp lực có thể kích thích và khuyến khích các công nhân xây dựng làm việc hiệu quả và an toàn. Áp lực tiêu cực là áp lực có thể gây ra sự căng thẳng, lo lắng và mất tập trung cho các công nhân xây dựng, làm giảm hiệu suất và an toàn.
Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến áp lực sản xuất bao gồm: (1) yếu tố cá nhân, (2) yếu tố nhóm, (3) yếu tố tổ chức, (4) yếu tố dự án, (5) yếu tố môi trường. Bài nghiên cứu cũng đề xuất rằng để quản lý áp lực sản xuất và nâng cao hiệu suất an toàn trong các hoạt động xây dựng, cần có sự phối hợp giữa các bên liên quan, bao gồm: (1) chủ đầu tư, (2) nhà thầu chính, (3) nhà thầu phụ, (4) công nhân xây dựng, (5) ban quản lý an toàn. Theo thuyết của Herbert William Heinrich “Nguyên tắc cơ bản về phòng tránh tại nạn một cách khoa học” như sau: - Vừa quyết tâm thường xuyên và liên tục quan tâm tới sự an toàn hay nói cách khác là ý thức đảm bảo an toàn tối đa, vừa có những biểu hiện cụ thể thể hiện ý thức đảm bảo an toàn trong công việc hàng ngày. - Cần điều tra thực tế yêu cầu về ý thức quản lý an toàn cũng như kiểm tra xác minh thực tế, ví dụ như việc nghiên cứu căn cứ thực tế và điều tra nguyên nhân phát sinh tai nạn.
- Dựa theo thực tế đã được phân tích và tổng hợp để xây dựng kế hoạch cho việc xử lý, ứng phó hợp lý và rà soát kiểm tra. Bên cạnh đó, cần thực hiện nó một cách hiệu quả và cố gắng thu được thành quả tốt nhất. Vấn đề cơ bản của ý thức thúc đẩy quản lý an toàn một cách khoa học lý tưởng là phải tôn trọng con người, góp phần tiết kiệm chi phí kinh tế cũng như cải thiện khả năng sản xuất, vậy nên luôn luôn phải thực hiện quản lý có ý thức và có kế hoạch. Với việc xử lý minh bạch nội dung chi phí thiệt hại do tai nạn phát sinh hay nói cách khác là tổng số tiền, việc tính toán chi phí tổn thất do tai nạn có thể giúp chúng ta biết được tổng thiệt hại thông qua tài liệu kinh tế khớp với thực tế và vừa giúp nhận thức lại về tầm quan trọng và bức thiết của 10 việc quản lý an toàn trong kinh doanh, vừa đưa ra đối sách xử lý hiệu quả cho ý thức đảm bảo an toàn dựa theo thiệt hại và tổng chi phí thiệt hại đó.
- Các doanh nghiệp đang chú trọng vào quản lý an toàn, yếu tố then chốt trong kinh doanh và thi đua nỗ lực phòng tránh tai nạn rủi ro. Tuy nhiên, nếu có thể vận dụng tài liệu để đánh giá giá trị của công tác quản lý an toàn và có thể tính toán tổng số tiền thiệt hại thực tế do tai nạn là bao nhiêu thì rõ ràng nó sẽ đem lại sự hỗ trợ cho việc xúc tiến quản lý an toàn và hợp lý hóa kinh doanh. Tổng quan các nghiên cứu của Việt Nam về an toàn trong thi công xây dựng Năm 2019 nghiên cứu “Ảnh hưởng của quá trình thi công đến an toàn xây dựng tại Việt Nam” do tác giả Nguyễn Lương Hải tiến hành nghiên cứu thông qua việc phân tích định lượng sự ảnh hưởng giữa các biến liên quan đến quá trình tổ chức xây dựng của nhà thầu trong quá trình thực hiện dự án đối với đảm bảo an toàn xây dựng, có bằng chứng khoa học để chấp nhận giả thuyết nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý dự án nói chung và quản lý an toàn trong xây dựng nói riêng.
Một mặt giúp cải thiện đáng kể vấn đề mất ATLĐ trong xây dựng trong thời gian qua, mặt khác nhằm tạo áp lực cho các nhà thầu luôn phải chú trọng vào các vấn đề cốt lõi đảm bảo ATLĐ trong quá trình tổ chức thi công xây dựng. [12] Năm 2017, nghiên cứu “Xây dựng bộ công cụ đánh giá và đề xuất giải pháp kiểm soát nguy cơ tai nạn lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng” được tiến hành với Viện khoa học An toàn và Vệ sinh lao động tập trung vào việc nghiên cứu và đề xuất các công cụ và giải pháp để đánh giá và kiểm soát nguy cơ tai nạn lao động trong quá trình thi công xây dựng nhà cao tầng. Đề tài nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh ngành xây dựng đang phát triển mạnh mẽ, nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và nguy cơ về ATVSLĐ, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống của người lao động, đặc biệt là người lao động trong lĩnh vực thi công xây dựng nhà cao tầng. 11 Các công cụ và giải pháp đề xuất có thể bao gồm: - Xây dựng và triển khai các tiêu chuẩn, quy trình, hướng dẫn kỹ thuật và biểu mẫu để đánh giá và kiểm soát nguy cơ tai nạn lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng, bao gồm các công cụ như: bảng đánh giá nguy cơ tai nạn lao động, bảng kiểm tra an toàn vệ sinh lao động, bảng phân tích nguyên nhân gốc rễ của tai nạn lao động, bảng đề xuất giải pháp kiểm soát nguy cơ tai nạn lao động, bảng theo dõi và đánh giá hiệu quả của giải pháp kiểm soát nguy cơ tai nạn lao động.
- Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, huấn luyện, phổ biến kiến thức về an toàn vệ sinh lao động cho các chủ thầu, nhà thầu phụ và người lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng, bằng cách sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng, truyền thông xã hội, truyền thông cộng đồng và truyền thông nội bộ để nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và hướng dẫn hành động về an toàn vệ sinh lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng. - Thúc đẩy sự tham gia và hợp tác của các bên liên quan trong công tác ATVSLĐ trong thi công xây dựng nhà cao tầng, bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức xã hội, các tổ chức lao động, các tổ chức doanh nghiệp, các tổ chức khoa học và giáo dục, các cơ sở y tế và các cá nhân có liên quan để tạo ra một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh cho người lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng. - Nâng cao năng lực quản lý và thực hiện an toàn vệ sinh lao động cho các chủ thầu, nhà thầu phụ và người lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng, bằng cách cung cấp các khóa đào tạo, huấn luyện, tập huấn và cập nhật kiến thức về an toàn vệ sinh lao động cho các chủ thầu, nhà thầu phụ và người lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng, cũng như trang bị các thiết bị, dụng cụ và vật liệu phục vụ cho công tác an toàn vệ sinh lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng.