Chương 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG Thế giới đã chứng kiến nhiều rủi ro diễn ra trong các ngành kinh tế, cũng như trong lĩnh vực xây dựng. Có những rủi ro chỉ xảy ra với xác suất một lần nhưng ảnh hưởng là rất lớn. Nhưng cũng có những rủi ro xảy ra phổ biến trong các dự án. Kênh đào Panama là kỳ quan thứ tám của thế giới.
Đây là kênh đào cắt ngang eo đất Panama tại Trung Mỹ, nối Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Việc xây dựng km chiều dài của kênh đào đã vấp phải các trở ngại, bao gồm bệnh dịch và các vụ lở đất. Ước tính có tới 27.500 công nhân đã chết trong quá trình xây dựng kênh đào này. Mái che bằng kính ở một bể bơi tại công viên nước Transvaal ở vùng ngoại ô phía tây nam Matxcova (Nga) bị sập khiến 26 người thiệt mạng cùng hơn 100 người bị thương.
Các kỹ sư đã nghĩ tới rủi ro là nhà thầu không chọn đúng vật liệu trong quá trình thi công xây dựng. Công nghệ xây dựng tiên tiến ngày càng được nghiên cứu và áp dụng, rất nhiều công trình với thiết kế phức tạp được xây dựng khắp nơi trên thế giới. Các rủi ro được quan tâm một cách đặc biệt bởi các nhà QLDA. Các hệ số an toàn cho công trình luôn được cân nhắc và tính toán, chẳng hạn tiêu chuẩn Mỹ ASCE 7-2010 khi xét trên góc độ rủi ro xảy ra đã phân cấp các công trình theo 4 cấp nguy hiểm.
Trong hệ thống tiêu chuẩn của Nga, để phòng ngừa các trường hợp gây rủi ro, đã sử dụng hệ số tầm quan trọng như một yêu cầu bắt buộc thi thực hiện dự án xây dựng. Tuy vậy, các rủi ro vẫn tiếp tục xảy ra, minh chứng như các rủi ro xảy ra tại Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc trong thời gian gần đây. Công trình phục vụ thế vận hội 2016, dài gần 4 km và rộng 2,5 mét khánh thành tháng 1/2016, với nguồn vốn đầu tư xây dựng gần 13 triệu USD đã bị sóng đánh gãy. Rủi ro này đã khiến hai người thiệt mạng.
Tại Hàn Quốc vụ sập công trình xây dựng tuyến tàu điện ngầm ở thành phố Namyangju, gần thủ đô Seoul, Hàn Quốc đã 6 khiến ít nhất 4 công nhân thiệt mạng và 10 người khác bị thương. Nguyên nhân khiến công trình xây dựng đổ sụp là do một vụ nổ bình khí oxy. Trung Quốc, ngày 13/4/2016 cũng xảy ra vụ sập cần cẩu tại một công trường xây dựng tại miền Nam Trung Quốc làm 12 người thiệt mạng. Rủi ro thiên nhiên gió giật mạnh trong cơn bão có kèm theo sấm sét đã gây nên thảm kịch này.
Điều đó cũng cho thấy, ngay cả khi áp dụng công nghệ xây dựng hiện đại thì các rủi ro vẫn xảy ra từ những nguyên nhân khách quan khó ngờ tới. Các nghiên cứu đánh giá rủi ro ở nước ngoài Trên toàn cầu, ngành xây dựng lả ngành có nhiều vấn đề về An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp (OHS). Trên toàn thế giới, ngành xây dựng sử dụng khoảng 29% tổng số công nhân công nghiệp, nhưng tỷ lệ tai nạn tại nơi làm việc của ngành này cao nhất trong số tất cả các ngành với khoảng 40% (Ibrahim Shire và cộng sự, 2018). Xem xét hiệu suất an toàn kém của ngành, thường được đo bằng tỷ lệ tử vong, thương tích và các vấn đề sức khỏe, OHS đối với công nhân xây dựng là một trong những lĩnh vực quan trọng cần quan tâm trên toàn thế giới (Ibrahim Shire và cộng sự, 2018).
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về an toàn xây dựng đã được xuất bản. Những kết quả nghiên cứu này có thể đóng vai trò là nền tảng cho việc thúc đẩy quản lý an toàn xây dựng. Do đó, việc phân tích có hệ thống các nghiên cứu an toàn xây dựng là không thể thiếu để các bên liên quan chính chia sẻ những phát hiện đổi mới và tiếp cận các xu hướng an toàn xây dựng trong tương lai. Trước đây đã có một số tài liệu đánh giá về an toàn xây dựng, nhưng hầu hết các đánh giá trước đây đều tập trung vào các khía cạnh cụ thể của an toàn xây dựng, thay vì toàn diện và có hệ thống.
Ví dụ, Laukkanen (1999) đã tiến hành đánh giá việc đào tạo an toàn và sức khỏe nghề nghiệp trong lĩnh vực xây dựng. Choudhry và cộng sự. (2007b) đã xem xét các tài liệu liên quan đến văn hóa an toàn, đặc biệt tập trung vào nghiên cứu được thực hiện từ năm 1998 trở đi. Hu và cộng sự.
(2011) đã xem xét các yếu tố có thể ảnh hưởng đến nguy cơ ngã cao trên công trường xây dựng. Pinto và cộng 7 sự. (2011) quan tâm đến các phương pháp quản lý truyền thống liên quan đến lĩnh vực an toàn và sức khỏe nghề nghiệp và chỉ ra những hạn chế lớn của các phương pháp này trong việc giải quyết các vấn đề an toàn trong xây dựng. Một đánh giá tài liệu khác đã được thực hiện để khám phá mối quan hệ giữa an toàn xây dựng và thực hành thiết kế kỹ thuật số nhằm mục đích thúc đẩy và chỉ đạo nghiên cứu sâu hơn (Zhou và cộng sự, 2012).
Swuste và cộng sự. (2012) đã thực hiện một đánh giá quan trọng tập trung vào câu hỏi liệu có thể ảnh hưởng đến an toàn trong lĩnh vực xây dựng hay không. Chu và cộng sự. (2013) đã xem xét các nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ tiên tiến để quản lý an toàn xây dựng.
Ngược lại với các đánh giá trước đây, đóng góp của đánh giá hiện tại chủ yếu nằm ở hai khía cạnh: (1) phạm vi bao quát các chủ đề nghiên cứu rộng hơn về an toàn xây dựng và (2) đưa ra đánh giá có hệ thống về nghiên cứu trong quá khứ, hiện tại và tương lai về an toàn xây dựng. Nghiên cứu này đặc biệt quan trọng đối với trong việc hỗ trợ có được góc nhìn rộng hơn về quản lý an toàn xây dựng. An toàn thiết bị điện Ngành xây dựng chiếm khoảng 20% số ca tử vong liên quan đến công việc ở Canada và Hoa Kỳ (Hiệp hội Ban Bồi thường Lao động Canada, 2018, Cục Thống kê Lao động, Bộ Lao động Hoa Kỳ, 2019). Tài liệu khoa học về kiểm soát năng lượng nguy hiểm trong ngành xây dựng chủ yếu tập trung vào phân tích các vụ tai nạn tại nơi làm việc liên quan đến các mối nguy hiểm về điện (ví dụ: Cawley và Brenner, 2012, Zhao và cộng sự, 2015).
Điện không phải là mối nguy hiểm duy nhất mà công nhân gặp phải khi thực hiện bảo trì, mặc dù đây là mối nguy hiểm phổ biến nhất trên các công trường xây dựng. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, “tiếp xúc với đồ vật hoặc thiết bị” cũng là nguyên nhân chính gây tử vong trong ngành, thậm chí còn nghiêm trọng hơn cả tiếp xúc điện (Janicak, 2008, Trường Xây dựng Myers-Lawson, 8 2017). Loại tai nạn này cũng có khả năng liên quan đến vấn đề kiểm soát năng lượng. Kiểm soát năng lượng, theo một số nghiên cứu, là một trong những khuyến nghị cần được thực hiện.
Theo Janicak (2008), việc thực hiện các chương trình kiểm soát năng lượng hiệu quả và xác minh cách ly năng lượng phù hợp có thể ngăn ngừa khoảng 125 trường hợp tử vong mỗi năm trong ngành xây dựng ở Hoa Kỳ. Theo McCann và cộng sự. (2003), việc kiểm soát năng lượng nguy hiểm chưa từng được áp dụng rộng rãi trong xây dựng ở Hoa Kỳ. Các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng nguyên nhân chính gây tử vong do tiếp xúc điện ở Đài Loan là không tuân thủ các hướng dẫn an toàn, chẳng hạn như làm việc trực tiếp, không duy trì khoảng cách làm việc an toàn, sử dụng thiết bị bảo hộ cá nhân không đúng cách và thực hành làm việc kém (Chi và cộng sự, 2008).
Để có dữ liệu đầy đủ về các vụ tai nạn nghiêm trọng và gây tử vong tại nơi làm việc do các vấn đề kiểm soát năng lượng nguy hiểm trong xây dựng ở một khu vực pháp lý nhất định, số liệu thống kê đã được tổng hợp trong giai đoạn 1990–2017 cho khu vực pháp lý nơi nghiên cứu được thực hiện (Quebec, Canada). Tất cả các loại năng lượng đều được tính đến, không chỉ điện. Trong số 1646 báo cáo điều tra tai nạn nghiêm trọng và gây tử vong do Ban An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp (OHS) Quebec (CNESST) cung cấp trong giai đoạn này, 30 báo cáo đã được chọn cho nghiên cứu này (1,8%) (CNESST, 2021). 30 sự kiện này đã khiến 27 người chết và 5 người bị thương nặng và tỷ lệ tử vong là khoảng 0,65 người chết trên 100.000 công nhân xây dựng.
Các địa điểm thương mại và công nghiệp chiếm 75% số vụ việc được điều tra. Lĩnh vực xây dựng dân dụng chiếm 16% và lĩnh vực kỹ thuật dân dụng chiếm 9%. 66% nạn nhân trong vụ tai nạn đã thiệt mạng hoặc bị thương do tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với bộ phận mang điện, cho thấy mức độ nguy hiểm của các mối nguy hiểm về điện. Thợ điện là công nhân bị ảnh hưởng 9 nhiều nhất, chiếm gần 50% số nạn nhân.
Nguyên nhân được đưa ra trong báo cáo tai nạn là do phương pháp làm việc không an toàn, đặc biệt là công việc mang điện có chủ ý hoặc vô ý, các bộ phận mang điện có thể tiếp cận được, công việc do người không có thẩm quyền thực hiện và thiếu sự giám sát. Ba mươi ba phần trăm (21/7) các trường hợp liên quan đến tiếp xúc điện liên quan đến người không phải thợ điện (ví dụ: nhân viên bảo trì, thợ sửa ống nước, thợ mộc). Một phần ba số nạn nhân còn lại đã tiếp xúc với một bộ phận chuyển động. Các nguyên nhân được nêu trong báo cáo là do máy có bộ phận chuyển động dễ tiếp cận (ví dụ: không có bộ phận bảo vệ), phương pháp làm việc không an toàn với việc tắt máy không kiểm soát và sau đó vô tình khởi động máy, cuối cùng là các vấn đề về phối hợp và giám sát.
Sự tiếp xúc với các bộ phận chuyển động xảy ra chủ yếu trong các lĩnh vực kỹ thuật dân dụng và công nghiệp (ví dụ: máy móc di động). Các dự án xây dựng đặc biệt nổi bật bởi độ phức tạp ngày càng tăng, tính độc đáo hoặc lực lượng lao động thay đổi (Feng và Trinh, 2019). Một số đặc điểm của ngành có thể khiến việc quản lý ATVSLĐ, bao gồm kiểm soát năng lượng, trở nên phức tạp hơn. Bảng 2 tuy chưa đầy đủ nhưng liệt kê một số khía cạnh của thực tế này (Fang và Wu, 2013, Wang và cộng sự, 2016).