CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE AN TOAN LAO ĐỘNG TRONG XÂY. Đánh giá vig quản lý an toàn lao động trong xây dựng ở Việt Nam 1. Tình hình c ip hành các quy định về an toàn lao động “Trong lĩnh vực Xây dựng, việc thực hiện các quy định về an toàn - vệ sinh lao động ở một số đơn vị chưa được nghiêm túc, Không ít đơn vị tuy có tổ chức cho cần bộ, nhân viên và người lao động học tập và triển khai thực hiện các quy định do đảm an toàn - vệ sinh lao động nhưng còn mang tính hình thức, hiệu quả mang lại chưa cao. Tình trạng an toàn- vệs th lao động không đảm bảo trong lao động, dé xây ra cháy nỗ còn khá phổ biến, đặc biệt tai nạn lao động có chiều hướng gia tăng, mà nguyên nhân chủ yếu là do người sử dụng lao động và người lao động chưa thực hiện nghiêm túc các quy định về an toàn về s h lao động LLL.
Đánh giá công tác an toàn lao động tại các công trường thi công, Về tổ chức mặt bằng công trường xây dựng, các công trường được kiểm tra đều có thiế kế tổng mặt bằng công trường xây dựng nhưng không niêm yết công khai tại ng chính của công trường theo quy định, cá biệt có một số công trình. không xuất trình được thiết kế tổng mặt bằng công trường xây dựng Vé công tác đảm bảo kỹ thuật an toàn vệ sinh lao động, tai nan chống ngã cao và sử dụng điện được đánh giá là chiếm tỷ lệ lớn nhất trên các công trường xây đựng, Cụ thí tỷ lệ tai nạn lao động làm chết người do ngã cao chiếm 28,1 % điện giật chiếm 19 % Đối với công tác phòng chống ngã cao,tinh trạng vi phạm quy định vỀ an toàn khi làm việc trên cao khá phổ biển. Một công trường không lắp đặt đủ bộ phận rào chắn ngăn ngã cao tại các mép sin, hồ thang máy, lỗ thông ting, nhiễu vị trí chỉ chăng dây, thiểu bảng cảnh báo khu vực nguy hiểm Đối với công tác an toàn khi sử dụng điện, kết quả kiểm tra tại các công trường xây dựng ẫn tồn tại vấn đề thường trực như không có biện pháp bảo vệ khi thi công công trình gần đường điện cao thé; không nồi đất vỏ các tủ điện, dẫn điện không treo ma rải dưới dat kể cả trên mặt sản đọng nước , không sử dụng 6 cắm chuyên dụng hoặc sử dụng thiết bị điện cằm tay nhưng không thực. hiện đo cách điện trước khi đưa vào sử dụng, Ngoài công tác an toàn ngã cao và sử dụng điện, công tác phòng chống chay nỗ cũng rit cần thiết phải quan tâm vì tỷ lệ để xảy ra các đám cháy cũng không nhỏ.
Hau hết các công trình đã kiểm tra đều không có hoặc có nhưng không đây đủ phương án phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cho công trường. Việc bố trí thiết bị chữa cháy cục bộ tại các khu vực đang thực hiện những công việc đễ xây ra cháy thi công hàn, cắt, vẫn chưa diy đủ, nhiều công. bình chữa cháy, tiêu lệnh chữa cháy tại những vị trí này công tác tổ chức thực hiện an toàn ~ vệ sinh lao động trên công trường, nhiều công trường xây dựng không thảnh lập Ban an toàn hoặc có thành lập nhưng hoạt động kém hiệu quả. Công tác giám sát an toàn ~ vệ sinh lao động trên các công trường không được chú trọng, sự kiểm tra của các cơ quan chức ning còn lỏng léo.
Thực tế ởnhiễu công trình xây dựng, chủ đầu tư dự án thường thuê các nhà thầu đảm trách từng phần việc; các nhà thầu lại sử dụng cai thầu - thuê các nhóm thợ thi công. Do đó, vẫn dé bảo đảm an toàn lao động được phó mặc hết cho các cai thầu. Hon nữa, do áp lực về tién độ công trình, cộng với khó khăn về tài chính, nên việc đầu tư thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn lao. động chưa được các nha thầu xây dựng quan tâm đúng mức.
Đối với công tác quản lý sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, việc bố trí sử dụng thiết bị thực tế còn nhiễu vấn đẻ, như sử dụng vận thăng lồng. nhưng cửa ra vào vận thăng tại một số công trình lắp đặt không đúng quy định. (không kin, có thé mỡ từ phía trong công trình); hoặc có vận thăng không có bảo. hiểm thiết bị, trong lồng không dán bảng chỉ dẫn vận hành, hoặc có trưởng hợp.
không có quyết định phân công nhân viên vận hành. Nhiều công trường không lập phương án vận hành an toàn vận hành can trục tháp mặc di sử dụng cần trục. thấp tay ngang có phạm vi hoạt động vượt ra khởi mặt bằng công trường. Đối với việc vận hành cân trục tháp, vi phạm phổ biến tại các công trình là không bố.
trí phụ cầu hoặc phụ cấu phải làm kiêm nhiệm nhiều việc, không sử dung edi báo khi câu hang, vật tư, không niêm yết sơ đỗ giới hạn tải trọng- tim với của cần trục, ‘Tir những phân tích hiện trạng thực tế về tình hình chấp hành những quy định an toàn — vệ sinh lao động của các doanh nghiệp xây dựng cũng như tai các công trường xây dựng, có thé thấy rằng việc thực hiện tốt những quy định an toàn — về sinh lao động đã có sự quan tâm hơn từ phía người sử dụng lao động và ý thức về những quy định này của người lao động cũng được nâng cao. Tuy nhiên, inh trạng tai nan lao động tại các công trường xây dựng trên phạm vị cả nước vẫn có chiều hướng gia tăng (năm sau cao hơn năm trước) ma nguyên nhân chính vẫn là sự thiếu trách nhiệm của các đơn vị sử dụng lao động và sự chủ quan, thiếu ý thức của chính những người lao động trong việc thực hiện những quy định về an toàn - vệ sinh lao động khi thực hiện các công việc nặng nhọc tại hiện trường. Vì vậy, công tác quan lý an toàn - về sinh lao động cần phải được tăng cường để yêu cầu các doanh nghiệp Xây dựng phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về an toàn lao động nhằm tránh các tai nạn lao động xảy ra 1. Công tác tập huấn, chuẩn bị thiết bị an toàn lao động Mỗi công trình xây dựng được xây dựng theo một thiết kế và công nghệ kỹ thuật tiếng cũng như xây dựng trong những điều kiện môi trường khác nhau.
Quá trình từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình thường kéo dai, phụ thuộc vào quy mô và tính chất phức tạp về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc chủ yêu diễn ra ngoài trời chịu tác động rit lớn của các nhân tố môi trường xấu như mưa, nắng nóng, bụi. Do đó, các cá nhân tham giacác hoạt động xây dựng thường xuyên phải tiếp xúc với môi trường tại noi xây dựng công trình cũng như các loại máy xây dựng và các dụng cụ lao động nên rất đễ xảy ra các tai nạn lao động và phát sinh các bệnh nghề nghiệp. Vì vậy, để đảm bảo an toàn cho người và thiết bị cũng như.
nâng cao chất lượng xây dựng công trình, các đơn vị sử dung lao động phải hết sức coi trọng công tác tập huần về an toàn lao động. Công tác huấn luyện, bồi dưỡng. cập nhật kiến thức, kỹ năng về an toàn, vệ sinh: lao động va hun luyện định kỳ theo Điều 21 Nghị Định số: 44/2016/NĐ - CP ngày 15 tháng 5 năm 2016 (1), Huấn luyện cập nhật kiến thức, kỹ năng về an toàn, vệ sinh lao động theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Luật an toàn, vệ sinh lao động Ít nhất 02 năm một lần, kẻ từ ngày Giấy chứng nhận huấn luyện, Thẻ an toàn có. hiệu lực, người được huấn luyện phải tham dự khóa huấn luyện đẻ ôn lại kiến thức đã được huấn luyện và cập nhật mới kiến thức, kỹ năng vẻ an toàn, vệ sinh.
Thời gian huấn luyện ít nhất bằng 50% thời gian huấn luyện lân đi Người làm công tác y tế thực hiện việc cập nhật kiến thức theo quy định tại điểm e Khoản 3 Điều 73 Luật an toàn, vệ sinh lao động. Huấn luyện định ky theo quy định tại Khoản 4 Điều 14 Luật an toàn, vệ sinh. lao động Người lao động thuộc nhóm 4 được huấn luyện định kỳ it nhất mỗi năm 01 lần để ôn lại kiến thức đã được huấn luyện và cập nhật mới kiến thức, kỹ năng về an toàn, vệ sinh lao động. Thời gian huắn luyện định ky bằng 50% thời gian huấn luyện lần dau.
Huấn luyện khi có sự thay đổi về công việc; thay đổi vẻ thiết bị, công nghệ và huấn luyện sau thời gian nghỉ làm việc a) Thay đổi công việc hoặc thay đổi thiết bị, công nghệ: Trước khi giao việc phải được huấn luyện nội dung về an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với công. việc mới hoặc thiết bị, công nghệ mới. Trường hợp đối tượng đã được huấn luyện trong thời hạn dưới 12 tháng kể từ khi chuyển sang làm công việc mới hoặc kẻ tir khi có sự thay đổi thiết bị, công. nghệ thì nội dung huấn luyện lại được miễn phan đã được huấn luyện.
b) Trở lại làm việc sau thời gian nghỉ làm việc Co sở ngừng hoạt động hoặc người lao động nghỉ làm việc từ 06 tháng trở lên thì trước khi tro lại làm việc, người lao động được huấn luyện lại nội dung như. với hu’ luyện lần đầu. Thời gian huấn luyện lại bằng 50% thời gian huấn luyện lần đầu. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH) đã công bố ngành Xây dựng lả một trong 11 ngành có nguy cơ cao về tai nan lao động.
Công bé nay được cho là do ngành xây dựng là ngành có lực lượng ao động cao thứ 4 trong cả nước, trong đó khoảng 80% công nhân xây dựng hiện nay làm việc có tính thời vụ, chưa được đảo tạo bai bản, thiếu chuyên môn và chưa đáp ứng được những yêu cầu về tinh chuyên nghiệp trên công trường. Đánh giá chung về công tác huẫn luyện an toàn vệ sinh lao động, theo đánh giá của Cục An toàn lao đồng thuộc Bộ LĐTBXH,công tác huấn luyện này đã có những chuyển biển tích cực về cả nội dung và phương pháp huấn luyện trong những năm vừa qua; số người được huấn luyện tăng din theo các năm.