Chương 1 TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Tại Việt Nam Ở Việt Nam, công tác ATVSLĐ là một phần rất quan trọng và không thể tách rời của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Ngay từ những ngày đầu thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 29/SL ngày 13/3/1947 về an toàn – vệ sinh lao động, thời giờ lao động - nghỉ ngơi.
Đến Đại hội IX, Đảng ta đã nhấn mạnh “chú trọng đảm bảo ATLĐ”. Tại Đại hội X cũng chỉ rõ “cần thực hiện tốt chế độ bảo hộ lao động, ATLĐ và VSLĐ”. Chính phủ và các Bộ, ban, ngành đã thông qua và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn và chỉ đạo công tác ATVSLĐ, như: Luật số 84/2015/QH13 Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015; Nghị định số 39/2016/NĐ- CP hướng dẫn Luật An toàn, vệ sinh lao động; Nghị định số 44/2016/NĐ- CP hướng dẫn Luật an toàn, vệ sinh lao động về hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và quan trắc môi trường lao động; Thông tư số 07/2016/TT- BLĐTBXH quy định một số nội dung tổ chức thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động đối với cơ sở sản xuất kinh doanh; Thông tư số 04/2014/TT- BLĐTBXH hướng dẫn trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân; Thông tư số 28/2016/TT- BYT hướng dẫn quản lý bệnh nghề nghiệp; Thông tư số 19/2016/TT- BYT quy định bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm xã hội; Thông tư số 21/2016/TT- BYT quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điện từ trường tần số cao – mức tiếp xúc cho phép điện từ trường tần số cao tại nơi làm việc; Thông tư số 22/2016/TT - BYT quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chiếu sáng - mức cho phép chiếu sáng tại nơi làm việc; Thông tư số 23/2016/TT- BYT quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về bức xạ tử ngoại - mức tiếp xúc cho phép bức xạ tử ngoại tại nơi làm việc;… Ngoài ra, còn có các yêu cầu pháp lý khác về ATVSLĐ, như: TCVN 7301- 1:2008: An toàn máy - Đánh giá rủi ro - phần 1: nguyên tắc; TCVN 7301- 2:2008: An toàn máy – Đánh giá rủi ro – phần 2: hướng dẫn; TCVN 9788:2013: Quản lý rủi ro – Từ vựng; TCVN IEC/ISO 31010:2013: Quản lý rủi ro – Kỹ thuật đánh giá rủi ro; TCVN ISO 31000:2018: Quản lý rủi ro – Hướng dẫn… 6 Các văn bản nêu trên, có thể tóm lược, được quy định gồm 03 điểm chính: (1) Các chế độ, chính sách về bảo hộ lao động, bảo đảm ATVSLĐ, chăm sóc sức khỏe cho NLĐ; (2) Các quy định kỹ thuật về ATVSLĐ; (3) Các quy định nhằm bảo đảm và thúc đẩy thực hiện công tác ATVSLĐ. Thực tế hiện nay, các quy định về ATVSLĐ đã được ban hành, mặc dù đã bao quát toàn bộ các hạng mục kiểm soát về an toàn, nhưng tính áp dụng vẫn chưa được triệt để, mà nguyên nhân chủ yếu là tình trạng các văn bản đã ban hành vẫn còn chồng chéo, dẫn đến sự đáp ứng các yêu cầu của các DN còn gặp nhiều khó khăn, cần được tháo gỡ.
Bên cạnh đó, không thể không kể đến một số các nghiên cứu trong nước đã thực hiện về rủi ro và ĐGRR, như: Nguyễn Anh Tuấn (2018) trong bài viết “Công cụ đánh giá rủi ro an toàn lao động trong thi công xây dựng nhà cao tầng” chỉ ra rằng, trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, công tác ATVSLĐ đã và đang đặt ra những yêu cầu đổi mới cả về số lượng và chất lượng. Trong đó, công tác nhận diện nguy cơ và ĐGRR về ATVSLĐ cũng được đặt ra với vai trò hết sức quan trọng trong việc phát hiện và có những hành động khắc phục sớm những nguy cơ mất an toàn ngay từ ban đầu nhằm giảm thiểu những sự cố, TNLĐ và BNN; Đỗ Thị Mỹ Dung, Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu và phân tích các yếu tố rủi ro ảnh hưởng đến dự án đầu tư xây dựng”, (2017), tác giả đã làm rõ các lý thuyết về rủi ro và QLRR, các rủi ro ảnh hưởng tới dự án đầu tư xây dựng (nghiên cứu điển hình cho thi công cọc Barret tại thành phố Hồ Chí Minh); Nguyễn Thế Chung, Lê Văn Long và cộng sự, (2005), trong đề tài “Nghiên cứu rủi ro khi đánh giá hiệu quả tài chính các dự án đầu tư” tập trung xác định rủi ro hiệu quả tài chính dự án đầu tư xây dựng nói chung, ứng dụng trên một số dự án đầu tư sản xuất xi măng ở Việt Nam; Trình Thùy Anh, luận án tiến sĩ “Nghiên cứu một số giải pháp quản lý rủi ro trong các dự án xây dựng công trình giao thông ở Việt Nam”, (2006), đã nghiên cứu có tính khái quát cao cho tất cả các rủi ro qua 03 (ba) giai đoạn dự án giao thông, từ đó xây dựng một danh mục đầy đủ về các rủi ro dự án; Lê Anh Dũng, Bùi Mạnh Hùng, (2015), trong tài liệu chuyên khảo quản lý rủi ro trong doanh nghiệp xây dựng đã tìm hiểu các rủi ro và QLRR trong hoạt động xây dựng của DN xây dựng; … 7 1. Tại nước ngoài Trên thế giới, đã có nhiều nhà khoa học như: Martin Barnes, D. Chapman… đóng góp thành tựu to lớn trong quá trình nghiên cứu về rủi ro và đánh giá rủi ro theo quan điểm nghiên cứu về rủi ro khi xảy ra, xem xét dự báo và có khả năng đề phòng được.
Tại Pháp, Điều L.4121, Luật số 91- 1414 ngày 31/12/1991 Bộ luật Lao động đã quy định rõ ràng NSDLĐ đều đã tiến hành ĐGRR nghề nghiệp trong môi trường làm việc của từng nhân viên. Nhiệm vụ này được chính thức hóa theo quy định tại Điều R.4121- 1 Nghị định số 2001- 1016 ngày 05/11/2001, trong đó, NSDLĐ phải tuân thủ các kết quả ĐGRR. Theo đó, mỗi tổ chức, không phân biệt lĩnh vực và quy mô hoạt động đều phải đánh giá những rủi ro và soạn thảo “Tài liệu duy nhất” này. Đặc biệt, tối thiểu hằng năm phải cập nhật những thay đổi quan trọng ảnh hưởng tới điều kiện, an toàn và sức khỏe cho NLĐ.
Tuy nhiên, các công ty có ít hơn 11 nhân viên có thể áp dụng một số quy định mà không cần phải tuân theo những yêu cầu nêu trên. Ngoài ra, Luật cũng không bắt buộc các DN phải thực hiện các phương pháp cố định trong việc ĐGRR nghề nghiệp, chủ yếu theo 03 (ba) giai đoạn: (1) Thiết lập một nhóm công tác và xác định các đơn vị cần đánh giá; (2) Xác định những rủi ro và phân tích những nguy hiểm; (3) Ước tính những nguy hiểm có thể xảy ra. Tại Canada, quy định của Quebec về An toàn và sức khỏe nghề nghiệp (Regulation respecting Occupational Health and Safe – ROHS) có một tiêu chuẩn cho không gian làm việc hạn chế: CSA Z1006 – Quản lý làm việc trong những không gian hạn chế. Theo đó, trước khi bắt đầu làm việc trong một không gian hạn chế, một người có đủ trình độ cần phải tiến hành ĐGRR để đưa ra các biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro.
Mục tiêu của nghiên cứu là (1) Nâng cao nhận thức về quản lý rủi ro không gian hạn chế và xác định các vấn đề dựa trên lý thuyết và quan sát hiện trường; (2) Phát triển một công cụ phân tích rủi ro không gian hạn chế và phân loại nghề nghiệp phù hợp với các nhu cầu được đặt ra trong giai đoạn đầu tiên của dự án. Phương pháp nghiên cứu bao gồm (1) Rà soát tiêu chuẩn tài liệu về quản lý rủi ro không gian hạn chế; (2) Phân tích các kết quả điều tra tai nạn gây tử vong trong không gian hạn chế tại Quebec để xác định những sai sót dẫn đến tai 8 nạn; và (3) khảo sát cho khoảng 15 DN và tổ chức có quản lý thâm nhập không gian hạn chế cho NLĐ và các nhà thầu của họ… nhằm tập trung xác định các nguy cơ có liên quan đến làm việc trong những dạng không gian hạn chế khác nhau, như: bảng hỏi, ma trận rủi ro… Tại Trung Quốc, NingLi, Zhaoping Liu đã nghiên cứu vai trò của quản lý rủi ro cấp DN ở Trung Quốc. Dựa trên cơ sở của kết quả nghiên cứu này và tiêu chuẩn ISO 12100 - An toàn của Thiết bị - Những nguyên tắc thiết kế chung - Đánh giá và Giảm thiểu Rủi ro, một công cụ đánh giá rủi ro gồm 05 (năm) bước đã được phát triển cho các không gian hạn chế, để đáp ứng mục tiêu thứ hai của dự án gồm các bước: (1) công cụ bao gồm một danh sách 26 câu hỏi đóng - kết thúc với mục tiêu đánh giá những đặc điểm của không gian hạn chế, môi trường xung quanh và các điều kiện làm việc; (2) Bước 2: mô tả quá trình tai nạn liên quan đến những rủi ro được xác định bởi người sử dụng công cụ; (3) tạo điều kiện cho việc ĐGRR bằng cách sử dụng một ma trận rủi ro và tiêu chuẩn phù hợp với bối cảnh của những không gian hạn chế, từ đó đề xuất áp dụng an toàn cho thiết bị; (4) cung cấp một sơ đồ phân loại theo các nhóm và mức độ rủi ro; (5) bao gồm một vòng phản hồi được sử dụng để đánh giá những rủi ro tồn tại sau khi đã lựa chọn các biện pháp giảm thiểu rủi ro. Công cụ được sử dụng để xác định, dựa trên cơ sở của tiêu chuẩn cụ thể, bất cứ khi nào tiến hành hai nhiệm vụ trong không gian hạn chế đều có thể được xác định, xem xét để đơn giản hóa việc giảm thiểu rủi ro.
Từ đó đưa ra quyết định phù hợp. Tại Hàn Quốc, J,W.Seo và Huyn Ho Choi, nghiên cứu phương pháp đánh giá an toàn dựa trên rủi ro cho các dự án xây dựng tàu điện ngầm ở Hàn Quốc. Tại Thái Lan, Sid Ghosh và Jakkapan Jintanapakanout, nghiên cứu rủi ro các dự án cơ sở hạ tầng tại Thái Lan. Nghiên cứu xác định các biến số nguy cơ quan trọng đối với một dự án đường sắt ngầm Chaloem Ratchamongkhon tại Thái Lan.
Tại Srilanka, nghiên cứu về rủi ro tài chính tại các dự án hạ tầng cơ sở cảng biển ở Srilanka. Nghiên cứu này chứng minh việc kiểm soát các yếu tố không chắc chắn, tác động của chúng đến rủi ro dự án và được thông qua thảo luận nhằm tăng cường quản lý rủi ro tài chính dự án. Tại Campuchia, Djoen San Santoso và Sothy Soen, phân tích các yếu tố trì hoãn trong các dự án xây dựng đường ở Campuchia.