CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA AN TOÀN BẢO MẬT HỆ THỐNG THÔNG TIN. Những khái niệm cơ bản. Dữ liệu: là một tập hợp các dữ kiện, chẳng hạn như số, từ, hình ảnh, nhằm đo lường, quan sát hoặc chỉ là mô tả về sự vật. Sự phát triển trong lĩnh vực công nghệ, đặc biệt là trong điện thoại thông minh đã dẫn đến việc văn bản, video và âm thanh được đưa vào dữ liệu cùng với nhật ký web.
Hầu hết dữ liệu này là không có cấu trúc. Thông tin: là sự thông báo, trao đổi, giải thích về một đối tượng cụ thể nào đó và được thể hiện thông qua các dạng tín hiệu như âm thanh, chữ số, chữ viết… nhằ m mang la ̣i một sự hiể u biế t nào đó cho đố i tươṇ g nhận tin. Hệ thống thông tin: là tập hợp phần cứng, phần mềm và cơ sở dữ liệu được thiết lập phục vụ mục đích tạo lập, cung cấp, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin trên mạng (Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật an toàn thông tin mạng 2015). Hệ thống thông tin quản lý: là hệ thống cung cấp thông tin cho công tác quản lý của tổ chức.
Hệ thống bao gồm con người, thiết bị và quy trình thu thập, phân tích, đánh giá và phân phối những thông tin cần thiết, kịp thời, chính xác cho những người soạn thảo các quyết định trong tổ chức. An toàn thông tin: là hành động ngăn cản, phòng ngừa sự sử dụng, truy cập, tiết lộ, chia sẻ, phát tán, ghi lại hoặc phá hủy thông tin chưa có sự cho phép. Ngày nay vấn đề an toàn thông tin được xem là một trong những quan tâm hàng đầu của xã hội, có ảnh hưởng rất nhiều đến hầu hết các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật, khoa học xã 9 hội và kinh tế. Bảo mật thông tin: là duy trì tính bảo mật, tính toàn vẹn toàn diện và tính sẵn sàng cho toàn bộ thông tin.
+ Tính bảo mật: Đảm bảo thông tin đó là duy nhất, chỉ có những cá nhân được cấp quyền mới được phép truy cập vào hệ thống. Đây là yêu cầu quan trọng của bảo mật thông tin vì đối với các tổ chức doanh nghiệp thì thông tin là tìa sản có giá trị hàng đầu. Việc các cá nhân không được cấp quyền truy cập trái phép vào hệ thống sẽ làm thông tin bị thất thoát, đồng nghĩa với việc tài sản của công ty bị xâm hại, có thể dẫn đến phá sản. + Tính toàn vẹn: Bảo vệ hoàn chỉnh toàn diện cho HTTT.
Đảm bảo thông tin luôn ở trạng thái đúng chính xác, người sử dụng luôn được làm việc với các thông itn tin cậy chân thực. Chỉ các các nhân được cấp quyền mới được phép chỉnh sửa thông tin. Kẻ tấn công không chỉ có ý định đánh cắp thông tin mà còn mong muốn làm cho thông tin bị mất giá trị sử dụng bằng cách tạo ra các thông tin sai lệch gây thiệt hại cho công ty. + Tính sẵn sàng: Việc bảo mật thông tin luôn phải sẵn sàn, có thể thực hiện bất cứ đâu, bất cứ khi nào.
Có thể nói đây là yêu cầu quan trọn nhất vì thông tin chỉ hữu ích khi người sử dụng cần là có thể dùng được, nếu hai yêu cầu trên được đảm bảo nhưng yêu cầu này không được đảm bảo thì thông tin cũng trở nên mất giá trị. Một HTTT nói chung và một HTTT quan rlys nói riêng được coi là bảo mật khi tính riêng tư của nội dung thông tin được đảm bảo theo đúng các tiêu chí trong một thời gian xác định. Một số lý thuyết về vấn đề nghiên cứu. Khái niệm an toàn và bảo mật thông tin.
Trước đây việc giao dịch được thực hiện trực tiếp giữa bên mua và bên bán theo hình thức “tiền trao, cháo múc” nên khó có thể xảy ra lừa đỏa. Ngày nay thì việc giao dịch trực tiếp ngày càng giảm, giao dịch từ xa ngày càng tăng. Đặc biệt dưới tình hình Covid-19 hậu Covid-19 như hiện nay thì việc giao dịch từ xa đã và đang là xu hướng. Bên mua và bên bán không gặp nhau trực tiếp, do đó rất dễ bị lừa đảo, gây mất mát về thông tin cũng như tài sản.
Thông tin của các cá nhân, tổ chức và các giao dịch có nhiều nguy cơ bị bên thứ ba 10 biết được. Thông tin thật dễ dàng bị thay và sửa đổi, tạo thành thông tin giả mạo để lừa đảo. Có hteer kể tới các trường hợp bị tin tặc tấn công, bị giả mạo, từ chối thanh toán, sử dụng thẻ thanh toán giả/ hết hạn; việc mất an toàn khi tiến hành giao dịch do thông tin bị lộ. Do đó, việc bảo mật thông tin và an toàn dữ liệu là rất cần thiết.
An toàn dữ liệu (ATDL) là quá trình đảm bảo cho hệ thống dữ liệu tránh khỏi nhưng xnguy cơ hỏng hóc hoặc mất mát. Các nguy cơ tiềm ẩn về khả nawgn mất nam toàn thông ntin ngẫu nhiên như thiên tai, hỏng vật lý, mất điện và các nguy cơ có chủ định như tin tặc, ca nhân bên ngoài, phá hỏng vật lý, can thiệp có chủ ý. Nhu cầu bảo mật htoong tin của các tổ chức và cá nhân đang cấp bách hơn bao giờ hết. Trong thương mại điện tử, an toàn dữ liệu nghiên cứu về những nguy cơ gây mất an toàn, tránh khỏi những nguy cơ này trong quá trình sử dụng hình thức kinh doanh trong giao dịch thương mại điện tử.
An toàn dữ liệu đó là việc đảm bảo được tính bảo mật qua việc đảm bỏ dữ liệu của người sử dụng luôn được bảo vệ, không bị mất mát. Dữ liệu không bị tạo ra, sửa đổi hay xoasbowir những người không sở hữu và luôn trong trạng thái sẵn sàng. Đồng thời có tính tin cậy đảm bảo thông tin mà người dùng nhận được là đúng. Trong TMĐT, cần chú trọng đến việc dữ liệu lưu trữ cũng như trao đổi giữa hai bên giao dịch phải được giữ bí mật, đảm bảo không bị lộ.
Thông tin giao dịch giữa hai bên không bị sửa đổi hay bị gia rmaoj bởi một bên thứ ba. Đảm bảo độ minh bạch giữa hai bên thực hiện giao dịch. Mục tiêu của ATDL là việc phát hiện các lỗ hổng của hệ thống dữ liệu, dự đoán trước những nguy cơ tấn công, ngăn chặn những hành động gây mất ATDL từ bên trong cũng như bên ngoài. Phục hồi tổn thất khi hệ thống dữ liệu bị tấn công.
Trong TMĐT thì mục tiêu đó là phát hiện sớm các lỗ hổng trong các hình thức giao dịch và thanh toán điện tử, đưa ra các mô hình và giải pháp nhằm đảm bảo cho TMĐT đạt được độ an toàn coa nhất, các phương pháp khắc phụ hậu quả và đảm bảo lợi ích cho người sử dụng. Các hình thức tấn công dữ liệu trong thương mại điện tử. Theo Giáo trình An toàn bảo mật HTTT – ĐH Thương mại, các loại hình tấn công chủ yếu là do nguyên nhân khách quan hoặc do nguyên nhân chủ quan của con người. 11 Nguyên nhân khách quan: là các thảm họa, các sự cố xảy ra đột ngột không lường trước, có thể là các thiên tai như động đất, núi lửa, sóng thần,… hoặc hỏa hoạn, mất điện hay sụp đổ hệ thống.
Nguyên nhân chủ quan: là các hành vi tấn công nhằm phá hoại mục tiêu an toàn và bảo mật. + Tấn công xã hội: Kẻ tấn công lợi dụng sự bất cẩn hay sự cả tin của những người trong công ty để lấy được thông tin xác nhận quyền truy nhập của user và có thể truy nhập hệ thống vào bằng thông tin đó. + Tấn công phần mềm: nhằm vào các ứng dụng, hệ điều hành và các giao thức, mục đích là phá hủy hay vô hiệu hóa các ứng dụng, hệ điều hành hay các giao thức đang chạy trên các máy tính, để đạt được quyền truy nhập vào hệ thống và khai thác thông tin. Loại tấn công này có thể dùng độc lập hoặc kết hợp với một số loại tấn công khác.
+ Tấn công phần cứng: nhằm vào ổ cứng, bo mạch chủ, CPU, cáp mạng,… mục đích là để phá hủy phần cứng vô hiệu hóa phần mềm, là cơ sở cho tấn công từ chối dịch vụ. Các hình thức tấn công trong TMĐT có thể kể đến là hình thức tấn công dữ liệu thụ động và tấn công chủ động. Có thể hiểu đó là hình thức lấy cắp hoặc thay đổi, phá hoại dữ liệu trái phép. Vi phạm tính toàn vẹn, sẵn sàng của dữ liệu.
Hình thức tấn công thụ động là việc kẻ tấn công lấy được thông tin trên đường truyền mà không gây ảnh hưởng gì đến thông tin được truyền từ nguồn đến đích. Tán công thụ động rất khó phát hiện và khó phòng tránh nên rất nguy hiểm. Hiện nay tấn công thụ động đang ngày càng phát triển do đó cần có các biện pháp phòng tránh trước khi tấn công xảy ra. Tấn công thụ động là loại tấn công mà thông tin tài khoản bị đánh cắp được lưu lại để sử dụng sau.
Loại tấn công này lại có hai dạng đó là tấn công trực tuyến (online) và tấn công ngoại tuyến (offline). Tấn công offline có mục tiêu cụ thể, thực hiện bởi thủ phạm tủy cập trực tiếp đến tài sản nạn nhân. Ví dụ, thủ phạm có quyền truy cập máy tính của người dùng dễ dàng cài đặt trình “Key logger” hay trình gián điệp để thu thập dữ liệu của người dùng. Tấn công offline có phạm vi hạn chế và hiệu suất thấp.
Đây là dạng đánh cắp tài khoản đơn giản nhất, không yêu cầu có trình độ cao và cũng không tốn bất kỳ chi phí nào. Người dùng có thể trở thành nạn nhan của kiểu tấn công này đơn giản chỉ vị họ để 12 lộ password hay lưu ở dạng không mã hóa trong tập tin có tên dễ đoán trên đĩa cứng. Một nghiên cứu gần đây cho thầy 50% vụ đánh cắp tài khoản do người gần gũi với nạn nhân thực hiện. Tấn công online không có mục tiêu cụ thể.
Kẻ tấn công nhắm đến số đông người dùng trên Internet, hy vọng khai thác những hệ thống lỏng lẻo hay lợi dụng sự cả tin của người dùng để đánh cắp tài khoản. Dạng tấn công này có hiệu suất khá cao. Hình thức phổ biến nhất của tấn công online là Phishing Attack - tấn công giả mạo. Phishing là một loại tấn công phi kỹ thuật, dùng đánh cắp các thông tin nhạy cảm bầng cách giả mạo người gửi, cách phòng tránh duy nhất là ý thức của người dùng.
Bên cạnh đó, hình thức tấn công chủ động là hình thức tấn công có sự can thiệp vào dữ liệu nhầm sửa đổi, thay thế làm lệch đường đi của dữ liệu.