chương 1, ở chương này, chúng tôi lan lượt giải cấu trúc ba cặp đối lập: lời nói - chữ viết, tâm hồn — thân thé, nam — nữ (giới), bằng cách xem xét những quan điểm, lí thuyết liên quan đến trật tự thứ bậc của chúng và khám phá những biéu hiện chống lại quan điểm ấy trong tác phẩm. Qua đó, làm rõ tư tưởng của tắc giả trong việc xác định căn tính và cất tiếng nói chống lại cộng đông đa số. Chương 3: Thủ pháp xây dựng nhân vật theo hướng giải cầu trúc đổi lập nhị nguyên Trong chương 3, chúng tôi xem xét nhân vật dưới góc độ thi pháp, phân tích những thủ pháp mà tác giả ứng dụng trong xây dựng nhân vật theo hướng giải cấu trúc (gồm xây dựng nhân vật với kĩ thuật dòng ý thức. lớp ngôn ngữ thân thé va motif).
10 CHUONG 1: GIẢI CÁU TRÚC VÀ GIẢI CÁU TRÚC NHÂN VAT 1. Quan điểm giải cấu trúc đối lập nhị nguyên của Jacques Derrida 1. Quan điễm phản tư triết học truyền thong phương Tây Jacques Derrida (1930 — 2004), sinh tại Algérie, là một nhà triết học người Pháp và đại diện tiêu biểu cho chủ nghĩa giải cau trúc. Lập trường phản tư lại triết học truyền thống, mà cụ thê là chủ nghĩa cấu trúc, đã xuất hiện từ những công trình đầu tiên của ông.
Năm 1966, trong bài viết Cau trúc, kí hiệu và trò chơi trong điền ngôn về khoa học nhân van (Structure, Sign and Play in the Discourse of the Human Sciences) ( vé sau duoc in trong tác phẩm Writing and Difference), Jacques Derrida đã thé hiện tư tưởng chống lại duy ngôn trung tâm luận (logocentrism) và tiến hành giải cấu trúc một cặp đối lập nhị nguyên trong quan điềm của Levi-Strauss, cho thay tính can thiết của việc phản tư truyền thống triết học. Theo Derrida, khái niệm “cau trúc” tồn tại từ lâu, gần với bề dày của truyền thông triết học phương Tây, chứa đựng cái trung tâm (the center) — một bộ phận có tính chất đặc biệt, chi phối toàn bộ cau trúc. Trung tâm là tiêu chuẩn định hướng, phân loại. quy định những thành tô (elements) xung quanh.
Vì vậy, cái trung tâm hạn chế việc mở ra các khả thể, ngăn trở sự biến đổi của những thành tô bên trong cấu trúc, '*Ở điểm trung tâm, sự hoán vị hay biến đổi của các thành tố (chúng có thé là những cấu trúc bên trong một cau trúc) bị ngăn cam” (Jacques Derrida, 1978, tr. Với sự ton tại của trung tâm, cấu trúc là một hệ thống hoàn thiện, khép kin và đứng yên, ngăn trở điều ma Derrida gọi la “cuộc chơi của cau trúc” (the play of structure). Tuy nhiên, Derrida nhận thấy một mâu thuẫn, rằng trong khi cái trung tâm nằm tại điểm trung tâm của tông thé, thì nó vẫn không thuộc về tông thê ấy (không phải một phần của tông thé), tự tong thé đã có trung tâm của nó ở một nơi nao đó, như vậy, trung tâm đồng thời ở bên trong và bên ngoài cấu trúc, trung tâm không còn là trung tâm nữa (Jacques Derrida, 1978, tr. Ông hướng đến giả thiết không có trung tâm, mở ra các khả thé, dé mọi thành tổ được hoán vị, biến đôi, ngược lại với quan điêm của chủ nghĩa cau trúc.
Việc xóa bỏ trung tâm, mo ra khả năng biên ! At the center, the permutation or the transformation of elements (which may of course be structures enclosed within 4 structure) is forbidden. khiến cho các thành phan trở nên ngang bằng, không có gi được tuyệt đôi hóa, không có gì nắm vai trò chỉ phối những phần còn lại, góp phần phá vỡ các cặp đối lập nhị nguyên bat bình đăng. Jacques Derrida đã đưa ra một cặp đối lập trong quan diém của Levi-Strauss, là tự nhiên và văn hóa (natural and cultural). Hai phạm trù này có sự đối lập, khác biệt nhất định.
tự nhiên có tính phô biến và tự phát, văn hóa thì có tính thê chế, luật lệ. Nhưng với Derrida, ông dé cập trường hợp “cam đoán loạn luân" (incest prohibition), ?“Việc cắm đoán loạn luân có tính phố biến; trong trường hợp này ta có thé xem nó là tự nhiên. Nhưng nó cũng là một điều cam ky, một hệ thông quy tắc và luật lệ: về mặt này ta có thẻ xem nó là văn hóa" (Jacques Derrida, 1978, tr. Như vậy, thé đối lập của hai khái niệm trên không còn rạch ròi, vì tồn tại khả năng một trường hợp mang hai tính chất.
Derrida tự nhận thấy, ví dụ trên tương đối sơ sài và chỉ là một trong nhiều trường hợp tương tự. tuy nhiên, cũng đã cho thay tư duy phản tư là điều cần thiết. Các khái niệm được hình thành trong lịch sử, dựa trên sự đối lập, nên được xem xét lại một cách chặt chẽ và hệ thong (Jacques Derrida, 1978, tr. Từ tinh than phá vỡ hệ thống cố định, bat biến, Derrida đã dan hoàn thiện lí luận giải cấu trúc trong những công trình sau đó.
Giải cầu trúc trường hợp lời nói - chữ viết Năm 1967, Derrida xuất bản Of Grammatology, tác phâm không chú trọng minh họa văn phạm, mà chú yếu đặt van dé về tiềm năng nghiên cứu khoa học chữ viết, cho thay tư tưởng đối trọng của Derrida với quan niệm triết học truyền thông về mỗi quan hệ giữa lời nói và chữ viết. 3Of Grammatology là tiêu dé về một câu hỏi: câu hỏi về sự cần thiết của ngành khoa học chữ viết, về những điều kiện để nghiên cứu nó, về công trình phản tư có thê mở ra lĩnh vực đó vả giải quyết những trở ngại về nhận thức luận; nhưng cũng là câu hỏi về giới hạn của lĩnh vực này. (Jacques Derrida, 1981, tr.13) 2 The incest prohibition is universal; in this sense one could call it natural. But it is also a prohibition, a system of norms and interdicts; in this sense one could call it cultural.
> OF Grammatology is the title of a question: & question about the necessity of a science of writing, about the conditions that would make it possible, about the critical work that would have open its ficld and resolve the epistemological obstacles; but itis also a question about the limits of this scence. 12 Đầu tiên, Derrida khái lược quan niệm về lời nói và chữ viết của một số nhà triết học dé làm rõ mối quan hệ đối lập bất bình đăng giữa hai yếu tổ này. Ông trích dan một nhận định của Nietzche về Socrates, “Socrates, người không viết”. gợi lên phan nào vị thé của chữ viết đôi với nhà triết học Hy Lạp.
Socrates không đẻ cao việc tạo ra các trước tác mà chi tập trung vào đối thoại. cách trao đôi trực tiếp giữa người trình bày vả người nghe. Trong Phaerus, tác phẩm thẻ hiện tư tưởng của Socrates va Plato, có đề cập đến văn bản tốt (good writing) va văn ban xấu (bad writing). Theo đó, văn ban tốt gắn với tự nhiên, với trái tim, là văn bản của linh hồn, thuộc về bên trong, còn văn bản xấu liên hệ với thân thé, là yếu tô bên ngoài.
Đến Aristotle, ông cho rằng, những từ ngữ được nói ra là biểu tượng của kinh nghiệm tỉnh thần (mental experience). còn những từ ngữ được viết ra là biểu tượng của chúng. Dưới góc nhìn của Derrida, Aristotle phát biểu như vậy vì lời nói là hệ thông biéu tượng đầu tiên, có môi liên hệ mật thiết và trực tiếp với tư duy của con người (ma Aristotle gọi là kinh nghiệm tình than), với cái được biểu đạt, phản chiếu mọi điều một cách tự nhiên. Tương tự, Rousseau cũng cho rằng chữ viết chỉ là phần phụ trợ, sự trình hiện của lời, không nên quan tâm hình anh hơn đối tượng (tức quan tâm chữ viết hơn lời nói).
Ferdinand de Saussure gần như lặp lại quan niệm của Aristotle trong công trình Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, “Ngôn ngữ và chữ viết là hai hệ thống dấu hiệu khác nhau; lý do tồn tại duy nhất của chữ viết là dé biểu hiện ngôn ngữ; đôi tượng ngôn ngữ học không phải là sự kết hợp giữa cái từ được viết ra với cái từ được nói ra; chỉ cái sau này mới là đối tượng của ngôn ngữ hoc. Từ nhận định trên, có thê thay, với Saussure. (1) chữ viết là sự tồn tại phái sinh, được tạo ra chỉ đẻ biéu hiện ngôn ngữ; (2) chit viết nằm ngoài hệ thống ngôn ngữ, không thuộc đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, ngôn ngữ học chi tập trung vao “cái từ được nói ra”, tức là lời, chứ không phái sự kết hợp giữa lời và chữ. Saussure củng có quan điểm của mình bang việc chứng minh rang, dù không có chữ viết.
việc bảo tồn ngôn ngữ cũng không chịu nhiều ảnh hưởng. Mặt khác, xét về quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói, Saussure cho rằng, tuy chúng có một số đặc trưng đối lập, nhưng chúng không tách rời nhau. Giáo trình dan luận ngôn ngữ học (Hoàng Dũng, Bùi Mạnh Hùng.9), khi trình bày vẻ sơ đỗ dau hiệu ngồn ngữ trong lí thuyết của Saussure, cũng đưa ra kết luận “chit viết chỉ là loại dấu hiệu 13 ghi lại cái biêu đạt của dau hiệu ngôn ngữ, chứ bản thân nó không phải là cái biểu đạt của dau hiệu ngôn ngữ. Như vậy, trong khi lời có mỗi liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ, với ý nghĩa.
thì chữ viết bị đặt ra ngoài. “chữ viết tự bản thân nó vốn xa lạ đối với hệ thông bén trong” (F, Saussure, 2005, tr. Từ những quan niệm trên. Derrida nhận thấy mỗi quan hệ đối lập bat bình đăng giữa lời nói và chữ viết, trong đó, lời nói chiếm vị thế cao hơn, thuộc vẻ hệ thông bên trong, gắn kết với tâm tướng, linh hôn, hơi tho của người nói, cho thấy sự hiện điện và gan với sự that, trong khi chữ viết thì ngược lại.
Chữ viết là “cai biêu đạt của cái biéu dat” (signifer of signifer), là một dang ki thuật (technique), trình hiện (representation), hình ảnh (image) của những từ được nói ra. bi xem là giả tao, làm chết ngôn ngữ va can kiệt cuộc sông. Trong nỗ lực tông hợp lí thuyết của Derrida về cặp đối lập lời nói và chữ viết, quan điểm triết học truyền thống phương Tây vé các cặp đối lập nhị nguyên bat bình đăng cũng được thé hiện. Lời nói được đề cao, được xem là logos (lí tính, lời của Chúa), vì nó có môi quan hệ trực tiếp, tức thì với ý nghĩa, ý nghĩ, tâm tưởng, linh hon, là yếu tổ bên trong, thuộc vẻ tự nhiên, trong khi chữ viết lại là yếu tố bên ngoài.
là trung gian, mô phỏng, là "lớp áo của lời". Từ đây, ta phát hiện các cặp đối lập bat bình đăng khác như tâm hôn — thân thé, hiện diện — vắng mat, tự nhiên — văn hóa.