CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận của việc nâng cao chất lượng, hiệu quả quá trình dạy và học môn hóa học THPT. Quá trình dạy học. Quá trình dạy học nói chung và quá trình dạy học hóa học nói riêng gồm hai hoạt động cơ bản, gắn bó chặt chẽ với nhau là: hoạt động dạy và hoạt động học.
Hoạt động dạy : Đó là toàn bộ hoạt động của thầy trong quá trình dạy học nhằm truyền thụ kiến thức đến học sinh, làm học sinh nắm vững kiến thức và kĩ năng, trên cơ sở đó phát triển năng lực nhận thức, tư duy hình thành thế giới quan khoa học cho học sinh. Hoạt động học: Đó là toàn bộ hoạt động của trò nhằm tiếp thu các kiến thức từ thầy, dưới sự tổ chức, điều khiển của thầy nhằm tìm hiểu, khám phá, lĩnh hội kiến thức, để từ đó hình thành quan điểm duy vật biện chứng, đạo đức và nhân cách học sinh. Các thành tố của quá trình dạy học. Các thành tố của quá trình dạy học bao gồm: Mục tiêu dạy học; Nội dung dạy học; phương tiện dạy học; kiểm tra đánh giá kết quả học tập.
Các thành tố này có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, muốn nâng cao chất lượng dạy học thì phải đổi mới từng thành tố của quá trình dạy học. Các bước của quá trình dạy học phải được tiến hành một cách tuần tự: Xuất phát từ mục tiêu dạy học để lựa chọn nội dung dạy học. Từ mục tiêu và nội dung dạy học, thì ta sẽ lựa chọn được phương pháp và phương tiện hỗ trợ cho việc dạy học. Cuối cùng để đánh giá mức độ đạt được ta phải chọn cách đánh giá cho phù hợp.
Xu thế phát triển của quá trình dạy học. Xu thế phát triển của QTDH trong thời đại mới : 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Học suốt đời: để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế phát triển hàng ngày, hàng giờ thì mọi thành viên trong xã hội phải không ngừng học tập. Học theo hướng của 4 trụ cột giáo dục: (1) Học để biết; (2) Học để làm; (3) Học để cùng sống với nhau; (4) Học để làm người. Xây dựng xã hội học tập: bao gồm 2 thành phần chủ yếu là giáo dục nhà trường và ngoài nhà trường.
Hai thành phần này có mối quan hệ qua lại, hỗ trợ lẫn nhau. Chất lượng dạy học. Chất lượng giáo dục. Chất lượng là những đặc tính khách quan của con người, sự vật, sự việc được biểu hiện ra bên ngoài thông qua các thuộc tính.
Chất lượng liên kết các thuộc tính của con người, sự vật, sự việc lại thành một tổng thể, bao quát toàn bộ con người, sự vật và không thể tách rời con người, sự vật đó. Trong giáo dục, chất lượng giáo dục không phải được biểu hiện qua việc người học đọc được bao nhiêu cuốn sách, làm được bao nhiêu bài tập mà điều quan trọng nhất là thông qua quá trình giáo dục, người học thay đổi được gì về mặt nhận thức, về động cơ học tập, thái độ và hành vi học tập. Như vậy chất lượng giáo dục sẽ được biểu hiện tập trung nhất ở nhân cách của người học, người được đào tạo, được giáo dục. Chất lượng dạy học.
Chất lượng dạy học là một bộ phận hợp thành quan trọng của chất lượng giáo dục. Chất lượng dạy học là chất lượng giảng dạy của người dạy và chất lượng học tập của người học xét cả về mặt định lượng, định tính so với các mục tiêu của môn học cũng như góp phần vào quá trình hình thành và phát triển nhân cách của người học. Chất lượng dạy học được đánh giá thông qua giờ học hoặc thông qua một quá trình dạy học và chủ yếu được căn cứ vào kết quả giảng dạy học tập của giờ học hay quá trình học đó cả về mặt định lượng (khối lượng tri thức mà 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người học tiếp thu được) và cả về mặt định tính (mức độ sâu sắc, vững vàng, của tri thức mà người học lĩnh hội được). Trong hai yếu tố là chất lượng giảng dạy của người dạy và chất lượng học tập của người học thì chất lượng dạy học được biểu hiện tập trung nhất ở chất lượng học tập của người học.
Lý luận dạy học hiện đại đã chỉ ra rằng: Người học trong quá trình đào tạo không chỉ là đối tượng của hoạt động dạy mà còn là chủ thể của hoạt động lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Trong các hình thức tổ chức học thì việc tự học có một vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy học. Tự học là khâu quan trọng không thể tách rời quá trình đào tạo ở nhà trường. Đó là hoạt động cần thiết để người học biết tri thức của nhân loại thành hiểu biết và năng lực của riêng mình.
Bồi dưỡng cho người học phương pháp luận khoa học, phương pháp nghiên cứu và phương pháp tự hoc sẽ giúp người học phát triển những phẩm chất và năng lực hoạt động sáng tạo, chính là dạy phương pháp nhận thức để tìm ra tri thức. Như vậy năng lực tự học của người học vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện cho chất lượng đào tạo, chất lượng dạy học. Tổ chức được hoạt động tự học một cách khoa học, hợp lý và đạt hiệu quả cao chính là việc làm góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng dạy học. Đây không chỉ là trách nhiệm của người dạy mà quan trọng hơn là ý thức học tập của bản thân mỗi cá nhân người học.Một số biện pháp để nâng cao chất lưọng dạy học.
Chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học hóa học phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nội dung chương trình đào tạo, hệ thống sách giáo khoa, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ quá trình dạy và học, đổi mới các phương pháp dạy học…Trong phạm vi bản luận văn này chúng tôi chỉ đề cập đến tầm quan trọng của bài tập hóa học trong giảng dạy môn hóa học, trong đó tập trung vào việc lựa chọn, phân loại và phương pháp giải bài tập hóa học để góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy và học môn hóa học. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bài tập hóa học Bài tập hóa học là một dạng bài làm gồm những câu hỏi, những bài toán, hoặc đồng thời cả câu hỏi, bài toán và mà sau khi hoàn thành học sinh nắm được một tri thức hay kĩ năng nhất định.Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học Ý nghĩa trí dục : Bài tập hóa học giúp học sinh hiểu sâu hơn các khái niệm, kiến thức đã học đồng thời củng cố kiến thức đã học một cách thường xuyên và hệ thống. Bài tập hóa học giúp học sinh ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực, đào sâu, mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, làm tăng tính hứng thú học tập của học sinh.
Bài tập hóa học thúc đẩy thường xuyên sự rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho học sinh khi học tập môn hóa học. Bài tập hóa học tạo điều kiện cho học sinh phát triển năng lực tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa, suy luận. Ý nghĩa đức dục: Thông qua việc giải bài tập hóa học, học sinh được rèn luyện phẩm chất nhân cách như: tính kiên nhẫn, trung thực, và độc lập sáng tạo khi sử lí các câu hỏi mà bài tập đặt ra. Việc tự làm, tự giải các bài tập hóa học còn rèn luyện cho học sinh tinh thần kỉ luật, tính kiên nhẫn khắc phục khó khăn, và kích thích hứng thú học tập của các em.
Ý nghĩa giáo dục kĩ thuật tổng hợp: Các bài tập hóa học có nội dung lien quan đến thực tiễn đời sống hằng ngày như các loại vật liệu hóa học, đồ gia dụng,màu thực phẩm…sẽ đưa môn hóa học gần gũi hơn với các học sinh. Qua đó giúp các em yêu thích và có định hướng nghề nghiệp cho mình sau này. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lựa chọn và phân loại bài tập hóa học.
Hiện nay số lượng câu hỏi và bài toán hóa học trong các sách giáo khoa và sách tham khảo rất phong phú và đa dạng. Để phục vụ tốt cho việc dạy và học môn hóa học cần phải lựa chọn những bài tập bám sát nội dung chương trình, mục tiêu của môn học, những bài tập có nội dung phong phú, nặng về bản chất hóa học, không lắt léo đánh đố về mặt toán học. Bên cạnh những bài tập cơ bản cần có những bài tập tổng hợp sâu sắc, khơi dậy tính thông minh, sáng tạo, niềm say mê hứng thú học tập của học sinh. Ngoài những bài tập có hướng dẫn giải cần phải có các bài tập tự luyện, giúp học sinh tự học, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh.
Sau khi đã lựa chọn được các bài tập thì việc phân loại chúng có ý nghĩa rất quan trọng. Có nhiều cách phân loại bài tập hóa học dựa theo các tiêu chí khác nhau : - Dựa vào khối lượng kiến thức: chia thành bài tập dạng cơ bản, bài tập dạng tổng hợp. - Tính chất bài tập: bài tập định tính và định lưọng. - Hình thái hoạt động của học sinh: bài tập lý thuyết và bài tập thực nghiệm.
- Dựa vào kiểu bài hoặc dạng bài: bài tập xác định CTPT của hợp chất; tính thành phần phần trăm của hỗn hợp; nhận biết; tách các chất ra khỏi hỗn hợp; điều chế… - Cách tiến hành giải: bài tập trắc nghiệm, bài tập tự luận…. Trong đề tài này, chúng tôi đưa ra cách phân loại bài toán hóa học theo trình độ nhận thức, tư duy của học sinh dựa trên thang bậc của nhận thức. Thang cấp độ nhận thức tư duy đã được nhiều tác giả nghiên cứu, thí dụ trên thế giới có giáo sư Benjamin Bloom, Lorin Andersen…. ở Việt Nam có cố giáo sư Nguyễn Ngọc Quang….Các quan điểm này đã đựoc trình bày khá chi tiết và đầy đủ trong các tài liệu và trong nhiều luận văn trước đây.
18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau khi nghiên cứu và đánh giá các quan điểm trên, thấy có những điểm tương đồng và phù hợp với nền giáo dục Việt Nam, Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa ra cách phân loại bài tập hoá học theo các mức độ: - Các bài tập dạng biết: Chỉ yêu cầu về năng lực nhận thức của học sinh là nhớ và nhắc lại kiến thức một cách máy móc. Tư duy của học sinhở mức độ biết là tư duy cụ thể và kĩ năng tương ứng chỉ là kĩ năng bắt chước theo mẫu.