Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ cho nghề kế toán doanh nghiệp tại Trường Cao đẳng Cơ điện ...

Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ phần 2 cung cấp kiến thức cần thiết cho sinh viên ngành kế toán doanh nghiệp trung cấp tại trường cao đẳng cơ điện xây dựng Việt Xô.

Trường đại học

Trường Đại Học Kinh Tế

Chuyên ngành

Tài Chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo Trình

2023

53
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

3. CHƯƠNG 3: THANH TOÁN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

3.1. Thanh toán tiền mặt trong nền kinh tế thị trường

3.1.1. Khái niệm

3.1.2. Nội dung thanh toán bằng tiền mặt

3.1.3. Ưu nhược điểm của thanh toán tiền mặt

3.2. Thanh toán không dùng tiền mặt

3.2.1. Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt

3.2.2. Bản chất của thanh toán không dùng tiền mặt

3.2.3. Các nguyên tắc trong thanh toán không dùng tiền mặt

3.2.3.1. Thứ nhất, mỗi một khoản thanh toán phải đảm bảo có ba bên tham gia
3.2.3.2. Thứ hai, các chủ thể thanh toán phải mở tài khoản tại ngân hàng để thực hiện thanh toán
3.2.3.3. Thứ ba, các chứng từ thanh toán phải được lập theo mẫu quy định
3.2.3.4. Thứ tư, các ngân hàng phải có trách nhiệm thực hiện đúng đắn những uỷ nhiệm của khách hàng

3.2.4. Ý nghĩa của thanh toán không dùng tiền mặt

3.2.5. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt

3.2.5.1. Thanh toán bằng Séc
3.2.5.1.1. Khái niệm
3.2.5.1.2. Quy trình thanh toán
3.2.5.1.3. Phân loại Séc
3.2.5.1.3.1. Séc chuyển khoản
3.2.5.1.3.2. Séc bảo chi

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 3: THANH TOÁN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Mã chương: MH11.03 Giới thiệu: Chương 3 cung cấp những kiến thức chung nhất về thanh toán trong nền kinh tế thị trường, giúp cho người học hiểu đúng các vấn đề liên quan đến thanh toán khô dùng dung tiền mặt trong thực tiễn. Mục tiêu: - Phân biệt được thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không dùng tiền mặt. - Phân tích được bản chất và nguyên tắc thanh toán không dùng tiền mặt. - Phân tích và thực hiện được các nghiệp vụ liên quan đến các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt. Nội dung chính 1. Thanh toán tiền mặt trong nền kinh tế thị trường 1. Khái niệm Tất cả các hoạt động trao đổi hàng hoá, dịch vụ và các hoạt động khác của nền kinh tế cuối cùng được kết thúc bằng khâu thanh toán. Việc thanh toán có thể được thực hiện bằng tiền mặt hoặc không dùng tiền mặt. Tiền mặt là tiền đang có giá trị lưu hành, chúng có hình dáng, kích thước và tiêu chuẩn giá cả nhất định được luật pháp Nhà nước thừa nhận. Thanh toán bằng tiền mặt là việc chi trả tiền hàng dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân được thực hiện bằng đồng tiền do ngân hàng quốc gia phát hành Ở Việt Nam thanh toán bằng tiền mặt được thực hiện chủ yếu bởi đồng tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành và bắt buộc lưu thông đó là Đồng Việt Nam (VND) 1. Nội dung thanh toán bằng tiền mặt Khi thanh toán bằng tiền mặt thì tiền mặt vận động trong lưu thông để thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán, được diễn ra trong phạm vi sau: - Tổ chức kinh tế, cá nhân thực hiện mua bán nhỏ, lẻ, giá trị thanh toán mỗi lần không lớn như DN trả tiền chi phí dịch vụ mua ngoài, trả lương cho công nhân viên, cá nhân tiêu dùng hàng ngày. - Tại các ngân hàng cơ sở, hoạt động thu chi tiền mặt đối với khách hàng cũng diễn ra thường xuyên: Các tổ chức kinh tế, cá nhân thường chỉ giữ một lượng tiền mặt đủ để chi dùng cho nhu cầu của họ, số còn lại họ gửi vào ngân hàng, và khi phát sinh nhu tiền mặt họ lại đến ngân hàng để rút tiền. - Thanh toán tiền mặt trong hệ thống ngân hàng: Các ngân hàng trong cùng một hệ thống ngân hàng khi có nhu cầu tiền mặt thì không trực tiếp thu- chi tiền mặt cho nhau mà phải thông qua ngân hàng trung ương. 55 - Mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cá nhân cũng có một phần được thực hiện bằng tiền mặt như: doanh nghiệp, cá nhân nộp thuế, lệ phí, phí cho Nhà nước; Nhà nước trả lương cho công chức, thưởng cho người dân có thành tích. Ưu nhược điểm của thanh toán tiền mặt a. Ưu điểm Thanh toán bằng tiền mặt đảm bảo thoả mãn các giao dịch thường xuyên hàng ngày có giá trị nhỏ của doanh nghiệp, dân cư mà nếu dùng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt sẽ mất nhiều thời gian, thủ tục nên kém hiệu quả. Nhược điểm: - Chi phí để tổ chức sự vận động của tiền tệ dưới hình thức này rất tốn kém như: chi phí in ấn một số lượng tiền mặt cho lưu thông, chi phí bảo quản vận chuyển, chi phí điếm tiền khi giao nhận. - Nhà nước kho giám sát các hoạt động tài chính của doanh nghiệp, cá nhân trong xã hội. Ngày nay trong nền kinh tế thị trường hiện đại, việc thanh toán bằng tiền mặt chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong chu chuyển hàng hoá, bởi vì phương thức thanh toán không dùng tiền mặt nhanh chóng, an toàn và hiệu quả hơn. Thanh toán không dùng tiền mặt 2. Khái niệm thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán không dùng tiền mặt là chỉ các nghiệp vụ chi trả tiền hàng, dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân được thực hiện bằng cách trích chuyển một số tiền trên tài khoản của người phải trả sang tài khoản của người được hưởng tại ngân hàng dưới sự kiểm soát của ngân hàng hoặc bằng cách bù trừ công nợ mà không sử dụng đến tiền mặt. Hiện nay Thanh toán không dùng tiền mặt được áp dụng rộng khắp trong các lĩnh vực kinh tế- tài chính đối nội cũng như đối ngoại và được coi là hình thức thanh toán mang lại hiệu quả và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng khối lượng thanh toán. Bản chất của thanh toán không dùng tiền mặt - Thanh toán không dùng tiền mặt là việc dùng tiền ghi sổ để thanh toán bằng cách trích chuyển tiền từ tài khoản của người trả tiền sang tài khoản của người thụ hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau mà không cần phải sử dụng đến tiền mặt. - Thanh toán không dùng tiền mặt gắn liền với sự phát triển của hệ thống tài chính - tín dụng, đặc biệt là sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Sự có mặt rộng khắp của hệ thống ngân hàng, với sự ứng dụng của kỹ thuật tin học hiện đại đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân mở tài khoản tiền gửi và áp dụng cách trả tiền thông qua 56 trích chuyển tài khoản trong hệ thống ngân hàng một cách thuận tiện an toàn và tiết kiệm. - Thanh toán không dùng tiền mặt phản ánh sự vân động của vật tư hàng hoá. Trong kinh tế thị trường, kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, khối lượng hàng hoá trao đổi trong nước cũng như ở nước ngoài tăng nhanh, tất yếu cần có một cách thức trả tiền thuận tiện, an toàn và tiết kiệm. Trong nền kinh tế thị trường, hình thức vận động này của tiền là bộ phận cấu thành quan trọng nhất trong tổng chu chuyển tiền tệ. Hình thức này được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực kinh tế - tài chính đối nội cũng như đối ngoại và được coi là hình thức thanh toán mang lại hiệu quả và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng khối lượng thanh toán. Các nguyên tắc trong thanh toán không dùng tiền mặt a. Thứ nhất, mỗi một khoản thanh toán phải đảm bảo có ba bên tham gia: người trả tiền, người nhận tiền và các trung gian thanh toán. - Người trả tiền có thể là người mua hàng, người nhận dịch vụ, người đóng thuế, người trả nợ hoặc là người có ý định chuyển quyền sở hữu một khoản tiền nào đó. Thông thường người trả tiền đóng vai trò quyết định trong quá trình thanh toán. Họ là người mở đầu cho quá trình thanh toán, có khi đóng vai trò nối tiếp của quá trình thanh toán đã được người nhận tiền khởi xướng trước. Dù ở trường hợp nào người trả tiền cũng phải trả đủ, đúng hạn số tiền phải trả, theo những ĐK đã được cam kết trong hợp đồng kinh tế hoặc luật lệ của Nhà nước. - Người nhận tiền là người được hưởng một khoản tiền nhất có thể là do đã giao hàng, cung ứng dịch vụ hay do luật định hoặc thiện chí của người khác. Thông thường người người nhận tiền đóng vai trò thụ động trong thanh toán, nghĩa là tiếp nhận số tiền nợ từ người trả chuyển đến, có khi họ chủ động đòi người trả tiền thực hiện nghĩa vụ đã cam kết Nếu người nhận tiền là người bán hàng hay người cung cấp dịch vụ thì cơ sở để nhận tiền là các hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng. Trong trường hợp người nhận tiền là các tổ chức tài chính, thì cơ sở nhận tiền là những quyết định, lệnh phân phối của cấp trên. Người nhận tiền với tư cách là chủ nợ thì cơ sở nhận tiền là các hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ, nhiều khi chỉ dựa vào cơ sở ý chí tự nguyện của người khác. - Các trung gian thanh toán gồm các NHTM, ngân hàng đầu tư, công ty tài chính, Quĩ tín dụng nhân dân… Những tổ chức này có nhiệm vụ thực hiện đúng đắn những uỷ nhiệm của khách hàng. Đồng thời giúp người trả tiền, người nhận tiền thực hiện việc giám sát các ĐK thanh toán đã thoả thuận. Các trung gian thanh toán sẽ được hưởng một số thù lao nhất định 57 b. Thứ hai, các chủ thể thanh toán phải mở tài khoản tại ngân hàng để thực hiện thanh toán, bao gồm các tài khoản sau - Tài khoản trả tiền là nơi ghi chép số tiền phải trả. Trong bất kỳ tình huống nào, người trả tiền cũng phải đảm bảo số dư trên tài khoản của mình để thực hiện việc trả tiền, nếu thiếu vốn tự có thì người trả tiền có thể sử dụng vốn đi vay để trả tiền. Việc trả tiền nhiều lúc không thực hiện được, do người trả không có khả năng thanh toán. Tình trạng này có thể là tạm thời thời thì việc thanh toán bị hoãn lại, người trả tiền có thể phải chịu phạt chậm trả. Nếu không có khả năng thanh toán lâu dài, gây ách tắc trong thanh toán, nợ quá hạn chồng chất, thì chỉ áp dụng những biện pháp cơ bản về tài chính, như: Cải tổ, hợp nhất, thậm chí tuyên bố phá sản mới là biện pháp tốt nhất cho việc trả tiền. Tài khoản trả tiền có thể bao gồm các tài khoản: tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng, tài khoản vay ngân hàng. - Tài khoản của bên nhận tiền là nơi ghi chép số tiền nhận được. Tuỳ theo ý đồ của người nhận tiền mà số tiền được trả sẽ đưa vào những tài khoản thích hợp của người nhận tiền. Trong một số trường hợp số tiền được trả phải thực hiện theo những quyết định của pháp luật hoặc theo những thoả thuận của người nhận tiền và các tổ chức ngân hàng phục vụ họ - Tài khoản trung gian là các tài khoản do các trung gian thanh toán lập ra để ghi nhận tạm thời số tiền chi trả, trước khi chuyển đến cho người nhận c. Thứ ba, Các chứng từ thanh toán phải được lập theo mẫu quy định Trong Thanh toán không dùng tiền mặt, chứng từ thanh toán là những phương tiện chuyển tải những ĐK thanh toán và làm căn cứ để thực hiện việc chi trả, tức là trích tài khoản của người trả tiền sang tài khoản của người nhận tiền. Cộng cụ thanh toán bao gồm: các lệnh thu, lệnh chi do chính người nhận tiền hay người trả tiền lập ra. Người trả tiền lập các chứng từ: uỷ nhiệm chi, Séc…, người nhận tiền lập các chứng từ uỷ nhiệm thu, bảng kê nộp Séc, bảng kê chứng từ hoá đơn bán hàng trong thanh toán thư tín dụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ