mở đầu cho quá trình thanh toán, có khi đóng vai trò nối tiếp của quá trình thanh toán đã được người nhận tiền khởi xướng trước. Dù ở trường hợp nào người trả tiền cũng phải trả đủ, đúng hạn số tiền phải trả, theo những ĐK đã được cam kết trong hợp đồng kinh tế hoặc luật lệ của Nhà nước. - Người nhận tiền là người được hưởng một khoản tiền nhất có thể là do đã giao hàng, cung ứng dịch vụ hay do luật định hoặc thiện chí của người khác. Thông thường người người nhận tiền đóng vai trò thụ động trong thanh toán, nghĩa là tiếp nhận số tiền nợ từ người trả chuyển đến, có khi họ chủ động đòi người trả tiền thực hiện nghĩa vụ đã cam kết Nếu người nhận tiền là người bán hàng hay người cung cấp dịch vụ thì cơ sở để nhận tiền là các hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng.
Trong trường hợp người nhận tiền là các tổ chức tài chính, thì cơ sở nhận tiền là những quyết định, lệnh phân phối của cấp trên. Người nhận tiền với tư cách là chủ nợ thì cơ sở nhận tiền là các hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ, nhiều khi chỉ dựa vào cơ sở ý chí tự nguyện của người khác. - Các trung gian thanh toán gồm các NHTM, ngân hàng đầu tư, công ty tài chính, Quĩ tín dụng nhân dân… Những tổ chức này có nhiệm vụ thực hiện đúng đắn những uỷ nhiệm của khách hàng. Đồng thời giúp người trả tiền, người nhận tiền thực hiện việc giám sát các ĐK thanh toán đã thoả thuận.
Các trung gian thanh toán sẽ được hưởng một số thù lao nhất định 57 b. Thứ hai, các chủ thể thanh toán phải mở tài khoản tại ngân hàng để thực hiện thanh toán, bao gồm các tài khoản sau - Tài khoản trả tiền là nơi ghi chép số tiền phải trả. Trong bất kỳ tình huống nào, người trả tiền cũng phải đảm bảo số dư trên tài khoản của mình để thực hiện việc trả tiền, nếu thiếu vốn tự có thì người trả tiền có thể sử dụng vốn đi vay để trả tiền. Việc trả tiền nhiều lúc không thực hiện được, do người trả không có khả năng thanh toán.
Tình trạng này có thể là tạm thời thời thì việc thanh toán bị hoãn lại, người trả tiền có thể phải chịu phạt chậm trả. Nếu không có khả năng thanh toán lâu dài, gây ách tắc trong thanh toán, nợ quá hạn chồng chất, thì chỉ áp dụng những biện pháp cơ bản về tài chính, như: Cải tổ, hợp nhất, thậm chí tuyên bố phá sản mới là biện pháp tốt nhất cho việc trả tiền. Tài khoản trả tiền có thể bao gồm các tài khoản: tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng, tài khoản vay ngân hàng. - Tài khoản của bên nhận tiền là nơi ghi chép số tiền nhận được.
Tuỳ theo ý đồ của người nhận tiền mà số tiền được trả sẽ đưa vào những tài khoản thích hợp của người nhận tiền. Trong một số trường hợp số tiền được trả phải thực hiện theo những quyết định của pháp luật hoặc theo những thoả thuận của người nhận tiền và các tổ chức ngân hàng phục vụ họ - Tài khoản trung gian là các tài khoản do các trung gian thanh toán lập ra để ghi nhận tạm thời số tiền chi trả, trước khi chuyển đến cho người nhận c. Thứ ba, Các chứng từ thanh toán phải được lập theo mẫu quy định Trong Thanh toán không dùng tiền mặt, chứng từ thanh toán là những phương tiện chuyển tải những ĐK thanh toán và làm căn cứ để thực hiện việc chi trả, tức là trích tài khoản của người trả tiền sang tài khoản của người nhận tiền. Cộng cụ thanh toán bao gồm: các lệnh thu, lệnh chi do chính người nhận tiền hay người trả tiền lập ra.
Người trả tiền lập các chứng từ: uỷ nhiệm chi, Séc…, người nhận tiền lập các chứng từ uỷ nhiệm thu, bảng kê nộp Séc, bảng kê chứng từ hoá đơn bán hàng trong thanh toán thư tín dụng. Ngoài ra, cùng với lệnh thu tiền, lệnh chi tiền còn có những chứng từ thanh toán phụ khác do các cơ quan trung gian thanh toán lập như: Bảng kê, giấy báo liên ngân hàng, phiếu chuyển khoản tổng hợp, Séc chuyển tiền. Bất kỳ lệnh thu hay lệnh chi tiền nào cũng phải chứa đựng những yếu tố cơ bản là tên, địa chỉ của người trả, người nhận, số tiền trả, lý do trả, chữ ký và con dấu của người có trách nhiệm như kế toán trưởng, chủ tài khoản… và lập theo mẫu thống nhất do ngân hàng cung cấp. Các chủ thể thanh toán phải chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ của mình trong quá trình thanh toán, đây là những tiền đề cần thiết để quá trình luân chuyển chứng từ được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác và an toàn 58 d.
Thứ tư, các ngân hàng phải có trách nhiệm thực hiện đúng đắn những uỷ nhiệm của khách hàng Các ngân hàng có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng làm đúng các thủ tục thanh toán, kiểm tra khả năng thanh toán của chủ tài khoản và thực hiện thanh toán nhanh, chính xác, kịp thời và bảo đảm an toàn cho khách hàng. Khi thực hiện dịch vụ thanh toán cho khách hàng, ngân hàng được tính chi phí theo quy định của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam Những nguyên tắc quy định trên đây, nhằm đảm bảo cho quá trình thanh toán được thực hiện đúng đắn vừa đảm bảo cho sự kiểm soát bằng đồng tiền của ngân hàng đối với các hoạt động của các chủ thể thanh toán trong nền kinh tế 2. Ý nghĩa của thanh toán không dùng tiền mặt Thanh toán không dùng tiền mặt có ý nghĩa kinh tế rất lớn trong nền kinh tế quốc dân, thể hiện: - Thanh toán không dùng tiền mặt thúc đẩy nhanh sự vận động của vật tư, tiền vốn trong nền kinh tế dẫn đến giảm thấp chi phí sản xuất và lưu thông tăng tích luỹ cho quá trình tái sản xuất. Công nghệ ngân hàng ngày càng hiện đại, kỹ thuật xử lý thông tin, chứng từ nhanh chóng, chính xác, đảm bảo cho hoạt động thanh toán tiền hàng trong nền kinh tế có thể thực hiện bằng điện hay FAX.
Hệ thống ngân hàng, kho bạc Nhà nước đã góp phần rất quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình thanh toán giữa các tác nhân trong nền kinh tế, bù đắp kịp thời chi phí SX cho đơn vị bán hàng, thúc đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, rút ngắn thời gian sản xuất, giảm thấp chi phí sản xuất và lưu thông, tăng tích luỹ cho quá trình tái sản xuất. - Thanh toán không dùng tiền mặt tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội. Thanh toán không dùng tiền mặt góp phần giảm thấp tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông, từ đó có thể tiết kiệm được chi phí lưu thông xã hội. Mặt khác Thanh toán không dùng tiền mặt còn tạo ra sự chuyển hoá thông suốt giữa tiền mặt và tiền chuyển khoản.
Cả hai khái cạnh đó điều tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hoá và điều hoà lưu thông tiền tệ - Tạo khả năng để tập trung nguồn vốn xã hội vào hệ thống ngân hàng để đầu tư cho phát triển kinh tế Chế độ Thanh toán không dùng tiền mặt quy định mọi tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang đều phải mở tài khoản tại ngân hàng hoặc kho bạc Nhà nước và gửi tiền vào tài khoản này. Quy định này là cơ sở cho công tác Thanh toán không dùng tiền mặt, đồng thời tạo khả năng tập trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi vào hệ thông ngân hàng. Đây là một nguồn vốn lớn, nếu có kế hoạch sử dụng tốt sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân. - Thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện để kiểm soát các hoạt động kinh tế của các tác nhân kinh tế trong xã hội 59 Thu chi bằng tiền của các tác nhân thể hiện trên tài khoản tại ngân hàng sẽ phản ánh kết quả hoạt động SXKD của DN.
Thông qua số liệu này ngân hàng có thể đánh giá được tình hình SXKD của các DN, từ đó để làm căn cứ cho vay hay thu hồi nợ. Hơn nữa, Nhà nước có thể kiểm soát được các hoạt động tài chính của các tác nhân kinh tế trong xã hội, như: tình hình chấp hành các chính sách chế độ tài chính, các nguyên tắc thanh toán, quản lý tiền tệ. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Hình thức thanh toán là tổng thể các quy định về một cách thức trả tiền. Nói cách khác, đó là liên kết các yếu tố của quá trình thanh toán theo những tính chất và ĐK nhất định.
Có nhiều cách để liên kết các yếu tố của quá trình thanh toán, do đó sẽ có nhiều hình thức thanh toán. Các DN có thể lựa chọn hình thức thanh toán thích hợp theo từng khoản thanh toán nhất định. Hiện nay ở nước ta có các hình thức thanh toán: Séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thư tín dụng, ngân phiếu thanh toán và thẻ thanh toán. Thanh toán bằng Séc 3.
Khái niệm Thanh toán bằng Séc là một hình thức thanh toán trong đó việc trả tiền được thực hiện trên cơ sở của chứng từ thanh toán có tên là Séc Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản được lập trên mẫu in sẵn, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình trả tiền cho người thụ hưởng một số tiền nhất định được ghi trên Séc. Séc là một chứng từ thanh toán được áp dụng rộng rãi ở tất cả các nước trên thế giới. quy tắc sử dụng Séc đã được chuẩn hoá trong luật thương mại quốc gia và trong công ước quốc tế. Ở Việt Nam, hiện nay lưu hành hai loại Séc vô danh và ký danh, trong đó Séc vô danh được chuyển nhượng tự do còn Séc ký danh được chuyển nhượng thông qua thủ tục ký hậu.
Séc được dùng để thanh toán tiền hàng - dịch vụ, nộp thuế, trả nợ… hoặc để rút tiền mặt tại các chi nhánh ngân hàng. Tất cả các cơ quan, doanh nghiệp, cá nhân có mở tài khoản tại ngân hàng đều có quyền dùng Séc để thanh toán. Trong việc thanh toán Séc, việc trả tiền do chủ thể trả tiền khởi xướng và kết thúc bằng việc ghi số tiền trên Séc vào các tài khoản của người nhận tiền. Thời hạn thanh toán Séc là 15 ngày kể từ ngày chủ tài khoản phát hành Séc đến ngày người thụ hưởng nộp Séc vào ngân hàng, nếu ngày kết thúc của thời hạn là ngày chủ nhật, ngày lễ thì thời hạn được lùi vào ngày làm việc tiếp theo sau ngày chủ nhật, ngày lễ đó.