CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ THÍCH HỢP CỦA THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC THAY ĐỔI CÁC CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU – BẰNG CHỨNG TỪ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 1. Thông tin kế toán và giá trị thích hợp của thông tin kế toán 1. Thông tin kế toán và vai trò của thông tin kế toán Theo Berisha & Xhelili (2017), kế toán là một hệ thống thông tin tạo ra các báo cáo về các hoạt động kinh tế của tổ chức kinh tế cho tất cả các bên liên quan có nhu cầu quan tâm. Nói cách khác, kế toán phát sinh từ các giao dịch kinh doanh là đo lường và tóm tắt các hoạt động của công ty và thông báo kết quả cho ban giám đốc, nhà đầu tư và chủ nợ.
Thông tin kế toán được thuyết minh bằng báo cáo tài chính. Theo VAS, Báo cáo tài chính bao gồm: Bảng Cân đối Kế toán, Báo cáo Kết quả Hoạt động kinh doanh, Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh Báo cáo tài chính. - Bảng cân đối kế toán: là báo cáo về tài sản sở hữu, các khoản nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp tại một ngày cụ thể (ngày lập bảng cân đối kế toán). - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: là báo cáo tóm tắt doanh thu và chi phí của công ty trong một khoảng thời gian.
Nếu doanh thu vượt quá chi phí thì doanh nghiệp có lãi, và ngược lại, nếu doanh thu nhỏ hơn chi phí thì doanh nghiệp thua lỗ. - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: là bảng tóm tắt dòng tiền vào (các khoản thu) và dòng tiền ra (các khoản phải trả) trong một thời kỳ nhất định. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin lịch sử về tiền và các khoản tương đương tiền. Có 2 phương pháp lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp.
- Thuyết minh Báo cáo tài chính: Được sử dụng để mô tả hoặc phân tích chi tiết các số liệu được trình bày trong Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng như các thông tin cần thiết theo yêu cầu của các chuẩn mực kế toán cụ thể. Thuyết minh Báo cáo tài chính bao gồm các nội dung cơ bản sau: + Đặc điểm hoạt động kinh doanh 16 + Kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ + Chuẩn mực kế toán và các chế độ kế toán áp dụng + Các chính sách kế toán áp dụng + Thông tin bổ sung cho các mục được trình bày trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh + Thông tin bổ sung cho các khoản mục được trình bày trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Sự phát triển kinh tế luôn đòi hỏi một lượng thông tin kế toán cao có thể cho phép định hướng đúng đắn trên thị trường quốc gia và thị trường quốc tế của các công ty khác nhau. Như vậy, không thể phủ nhận rằng khi thông tin kế toán đáng tin cậy, phản ánh báo cáo tài chính đáng tin cậy và đảm bảo tính bền vững của cấu trúc tài chính doanh nghiệp là vấn đề then chốt đối với sự phát triển của thị trường vốn.
Giá trị thích hợp “Giá trị thích hợp” là một biệt ngữ lần đầu tiên được sử dụng bởi Amir, Harris và Venuti (1993) trong nghiên cứu của họ. Nó được định nghĩa là khả năng thông tin do báo cáo tài chính trình bày trong việc nắm bắt và tóm tắt giá trị doanh nghiệp, có thể được đo lường thông qua mối quan hệ thống kê giữa thông tin được trình bày bởi báo cáo tài chính và giá trị hoặc lợi nhuận của thị trường chứng khoán (Sibel, 2013). Cổ phiếu là chứng chỉ do một công ty cổ phần phát hành và tất cả các cổ phiếu được phân chia quyền sở hữu của công ty. Theo Luật Chứng khoán Việt Nam 2006, cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với vốn cổ phần của tổ chức phát hành.
Khi mua cổ phiếu, nhà đầu tư sẽ trở thành cổ đông của công ty và mức độ sở hữu phụ thuộc vào tỷ lệ cổ phần mà cổ đông sở hữu. Không giống như trái phiếu, các cổ đông chia sẻ mọi rủi ro và lợi nhuận của công ty. Trong trường hợp xấu nhất công ty phải thanh lý hoặc phá sản, các cổ đông chỉ nhận được phần còn lại sau khi công ty đã thanh toán các nghĩa vụ khác như thuế, nợ ngân hàng, trái phiếu,… Cổ phiếu là công cụ vô thời hạn, tính thanh khoản cao nhưng rủi ro cao. Cổ tức như cổ phiếu thường dựa trên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, do đó không cố định.
Khi hoạt động kinh doanh tốt, cổ đông thu được lợi nhuận cao, có thể cao hơn nhiều so với các loại chứng khoán khác với lãi suất cố 17 định, và ngược lại khi kinh doanh thua lỗ, cổ tức khá thấp hoặc bằng 0. Khi công ty phá sản, cổ đông là người cuối cùng nhận được giá trị còn lại của tài sản thanh lý. Sự khác biệt của giá trị cổ phiếu và thị trường chứng khoán là “Giá trị là thước đo tốt hơn cho các nhà đầu tư trong khi giá cả quan trọng hơn đối với các nhà giao dịch” - Thị trường chứng khoán: Về cổ phiếu, các nhà đầu tư trên thị trường xác định giá trị cổ phiếu dựa trên các yếu tố như: Thu nhập, Thị phần, Doanh số bán hàng theo thời gian, Đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm năng, Một loạt các chỉ số như tỉ lệ P/E. - Giá cổ phiếu: Ngày nào có nhiều người mua hay bán phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Xu hướng thị trường tổng thể; Tin tức, tốt hay xấu; Rủi ro kinh tế/chính trị; Sự tự tin hoặc thiếu tự tin vào nền kinh tế; Tin tức về công ty, chẳng hạn như thu nhập, các vấn đề tài chính hoặc các vụ bê bối có thể làm thay đổi giá trong ngắn hạn.
à Giá trị thị trường là giá trị của công ty được tính từ giá cổ phiếu hiện tại và hiếm khi phản ánh giá trị hiện tại thực tế của công ty. Lý do là giá trị thị trường phản ánh cung và cầu trên thị trường đầu tư và mức độ mong muốn của các nhà đầu tư khi tham gia vào tương lai của công ty. Một ý tưởng thiết yếu khác là giá trị thích hợp là thước đo đánh giá nhận thức của nhà đầu tư về độ tin cậy của việc công khai tài chính doanh nghiệp. Sự mất lòng tin của nhà đầu tư vào các bản công bố tài chính doanh nghiệp có thể được phát hiện bằng sự sụt giảm giá trị thông tin kế toán thích hợp, trong khi sự gia tăng niềm tin của nhà đầu tư cũng có thể được phát hiện tương tự bằng sự gia tăng giá trị thông tin kế toán thích hợp.
Do đó, phương pháp tiếp cận giá trị thông tin kế toán thích hợp là một công cụ để ước tính chất lượng của thông tin kế toán, vốn là thông tin quan trọng hàng đầu đối với sự vận hành tốt của nền kinh tế (Beuselinck, 2005). Tổng quan lý thuyết 1. Giá trị thích hợp của thông tin kế toán Dựa trên mô hình Ohlson (1995), nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện để xác minh giá trị thích hợp của thông tin kế toán trên thị trường chứng khoán ở các quốc gia khác nhau. Mô hình Ohlson (1995) được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu cho thấy thông tin kế toán (EPS, BVPS) tương quan đáng kể với giá cổ phiếu.
18 Tại Châu Âu, các công ty niêm yết trên Thị trường vốn cổ phần Ai Cập trong giai đoạn 1998 – 2002 đã được Aiman & Mohammad (2006) khảo sát và đưa ra kết luận rằng thông tin kế toán có giá trị cao ở Ai Cập. Ivica & Marijana (2012) đã so sánh giá trị thích hợp của thông tin kế toán đối với 5 quốc gia ở các nước Đông Nam Âu bao gồm Croatia, Slovenia, Serbia và Bosnia và Herzegovina từ năm 2005 đến 2010. Kết quả nghiên cứu cho thấy BVPS và EPS có liên quan ở tất cả các thị trường quan sát và đánh giá giá trị thích hợp của giá trị sổ sách hơn thu nhập. Theo Michalis và cộng sự.
(2012), trong giai đoạn 1996-2008 tại 38 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Athens, “Năng lực giải thích của thu nhập và giá trị sổ sách trong việc hình thành giá cả tăng lên theo thời gian. Người ta cũng thấy rằng, trong những năm qua, thu nhập dường như đóng vai trò ngày càng giảm trong việc giải thích giá cổ phiếu, so với giá trị sổ sách. ” Tại Châu Á, Hwei & Hsain-Jane (2008) đã thực hiện một nghiên cứu tại các công ty Đài Loan vào năm 2004, đã sửa đổi mô hình Ohlson (1995) bằng cách thêm mức độ công bố thông tin làm một biến số và chứng minh rằng các công ty có mức độ công bố thông tin cao có mối liên hệ giữa EPS cao hơn và thị giá cổ phiếu so với các công ty có giá cổ phiếu thấp. Do đó, các doanh nghiệp tăng cường minh bạch công bố thông tin có thể tăng thu nhập kế toán; do đó, làm tăng thị giá cổ phiếu.
Kết quả cũng cho thấy có mối liên hệ tích cực đáng kể giữa BVPS, EPS và giá cổ phiếu. Junjie và cộng sự (2013) đã thảo luận về các biến số khác ảnh hưởng đến giá cổ phiếu ngoài EPS của 60 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải năm 2011. Kết quả là lợi nhuận, thu nhập trên mỗi cổ phiếu và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu phổ thông là quan trọng nhất, ý nghĩa của thu nhập từ Hệ số hoạt động chính và hệ số thanh toán nhanh tốt hơn và hệ số vòng quay các khoản phải thu, vòng quay hàng tồn kho và hệ số khả năng thanh toán có ý nghĩa, nhưng không quá rõ ràng. 19 Menike & Prabath (2014) đã thêm DPS như một biến bổ sung và giải thích rằng DPS, EPS và BVPS là tích cực và có tác động đáng kể đến giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Colombo (Sri Lanka) từ năm 2008 đến năm 2012.
Ông cũng khuyến nghị các nhà đầu tư nên sử dụng DPS làm biến đầu tiên và sau đó mới đến EPS, BVPS để đánh giá hoạt động tài chính của công ty, dự đoán xu hướng tương lai của giá cổ phiếu trên thị trường vốn và đưa ra quyết định đầu tư hiệu quả.