Chương 1: Giới thiệu về tổng quan những vấn đề xoay quanh đề tài: lý do, vấn đề, mục tiêu, phương pháp, phạm vi, ý nghĩa và kết cấu của báo cáo nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương này cho biết đề tài sẽ vận dụng những lý thuyết nào cho nghiên cứu. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu.
Chương này mô tả cách thức xây dựng các biến, mô hình nghiên cứu, bảng câu hỏi. Chương 4: Phân tích dữ liệu. Chương này trình bày việc phân tích kết quả sau khi phân tích những dữ liệu thu thập được. Chương 5: Kết luận.
Chương này trình bày tóm tắt đề tài, hàm ý cho nhà quản trị, cũng như những hạn chế và gợi ý định hướng nghiên cứu tiếp theo. -4- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH NHỰA Chất dẻo, hay còn gọi là nhựa hoặc polymer, xuất hiện từ lâu đời và được dùng làm vật liệu sản xuất nhiều loại vật dụng góp phần quan trọng vào phục vụ đời sống con người cũng như phục vụ cho sự phát triển của nhiều ngành và lĩnh vực kinh tế khác như: điện, điện tử, viễn thông, giao thông vận tải, thủy sản, nông nghiệp v. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, chất dẻo còn được ứng dụng và trở thành vật liệu thay thế cho những vật liệu truyền thống tưởng chừng như không thể thay thế được là gỗ, kim loại, silicat v.
Do đó, ngành công nghiệp nhựa ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống cũng như sản xuất của các quốc gia. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, ngành công nghiệp nhựa dù còn non trẻ so với các ngành công nghiệp lâu đời khác như cơ khí, điện - điện tử, hoá chất, dệt may v. nhưng đã có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Ngành nhựa đã và đang trở thành một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn trong kế hoạch phát triển kinh tế.000 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngành nhựa (Hiệp hội Cao su – Nhựa Tp.
Hồ Chí Minh, 2015), thuộc các ngành sản xuất bao bì nhựa, nhựa gia dụng, nhựa vật liệu xây dựng, nhựa kỹ thuật. Đóng góp vào sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của Việt Nam trong thời gian qua phải kể đến các ngành công nghiệp, bao gồm cả ngành nhựa. Trong những năm qua, ngành nhựa Việt Nam đã phát triển với tốc độ khá nhanh với tốc độ tăng trưởng hàng năm đạt 20 – 25%. Đây có thể nói là một mức phát triển khá ấn tượng đối với một ngành công nghiệp vẫn còn non trẻ.
Quy hoạch phát triển ngành nhựa Việt Nam đến năm 2015, phấn đấu giá trị sản xuất công nghiệp ngành nhựa đạt 78.500 tỷ đồng, năm 2020 đạt 181.577 tỷ đồng và tới năm 2025 là 390. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2011- 2015 đạt 17,56%; giai đoạn 2016-2020 đạt 18,26% và giai đoạn 2021-2025 đạt 16,52% (Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành nhựa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025, Bộ Công Thương). Mục tiêu tổng quát của quy hoạch là phát triển ngành nhựa Việt Nam thành ngành công nghiệp tiên tiến, sản xuất được những sản phẩm chất lượng cao, đa dạng -5- hóa về chủng loại, mẫu mã, có tính cạnh tranh cao, thân thiện với môi trường, đáp ứng phần lớn nhu cầu của thị trường trong nước, có khả năng xuất khẩu những sản phẩm có giá trị gia tăng cao với sản lượng ngày càng cao. Cụ thể, phấn đấu tỷ trọng ngành nhựa so với toàn ngành công nghiệp đến năm 2015 đạt 5%, đến năm 2020 đạt 5,5% và tăng lên 6% vào năm 2025.
Đến năm 2015, sản lượng các sản phẩm ngành nhựa đạt 7,5 triệu tấn đến năm 2020 đạt 12,5 triệu tấn (Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành nhựa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025, Bộ Công Thương). Bên cạnh đó, chuyển dịch cơ cấu các nhóm sản phẩm nhựa theo hướng giảm tỷ trọng các nhóm sản phẩm nhựa bao bì và nhựa gia dụng, tăng dần tỷ trọng nhóm sản phẩm nhựa vật liệu xây dựng và nhựa kỹ thuật. Mặc dù đã có những bước tiến trong những năm qua nhưng ngành nhựa cũng gặp những khó khăn cần phải giải quyết triệt để nhằm đạt được các chỉ tiêu đặt ra cũng như có được sự phát triển bền vững. Một trong những nguyên nhân hàng đầu là nguyên liệu sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng 20%-30% nhu cầu (Hiệp hội nhựa Việt Nam, 2015) nên phần lớn phải phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, giá thành sản xuất luôn bị biến động mỗi khi có biến động tỷ giá ngoại tệ, số lượng mẫu mã, chủng loại sản phẩm còn đơn điệu chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, vốn của các doanh nghiệp trong nước còn yếu nên chịu áp lực cạnh tranh đói với các doanh nghiệp FDI có thế mạnh về kỹ thuật cũng như kinh nghiệm thị trường.
Thị trường chính cung cấp nguyên liệu nhựa cho Việt Nam đến từ Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Singapore, Arab Saudi, Nhật, Malaysia… Những hạn chế về mặt công nghệ cũng như thiếu sự quan tâm tới khách hàng đã làm cho các doanh nghiệp trong nước mất tính cạnh tranh so với các doanh nghiệp nước ngoài. Khi được phỏng vấn về nguồn nguyên liệu sản xuất, Phó Tổng Giám đốc một doanh nghiệp quốc doanh đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm nhựa công nghiệp cho rằng mặc dù doanh nghiệp đang đạt được sự hài lòng với một nhà cung cấp trong nước nhưng ông cho rằng hầu hết các nhà cung cấp khác trong nước chưa có được những yếu tố thu hút được các nhà sản xuất. Nguyên nhân được giải thích rằng bên cạnh công nghệ lạc hậu, sản phẩm thiếu đa dạng thì các nhà cung cấp này vẫn chưa hỗ trợ tích cực các nhà sản xuất trong quá trình nghiên cứu và phát triển sản phẩm, điều mà đa phần các doanh nghiệp nước -6- ngoài đã và đang làm rất tốt. Chính điều này đã tạo ra rào cản trong quá trình phát triển mối quan hệ giữa nhà cung cấp với các nhà sản xuất.
Chính vì vậy, để tăng tính cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài thì bên cạnh vấn đề cốt lõi là gia tăng chất lượng sản phẩm thì các nhà cung cấp trong nước cũng cần phải cải thiện các dịch vụ trước và sau bán hàng, đẩy nhanh quá trình cung cấp sản phẩm và hỗ trợ các nhà sản xuất phát triển sản phẩm mới để đem lại các giá trị tăng thêm cho khách hàng; từ đó củng cố mối quan hệ giữa các bên mà kết quả của nó sẽ làm cho tình hình kinh doanh của nhà cung cấp và nhà sản xuất ngày càng tốt hơn. Giá trị trong thị trường kinh doanh Khái niệm giá trị trong thị trường kinh doanh đã được nghiên cứu từ khá lâu và cũng có nhiều mô hình được đúc kết với các thành phần của giá trị trong thị trường kinh doanh. Anderson, Jain & Chintagunta (1993) đã định nghĩa "giá trị trong thị trường kinh doanh" là giá trị cảm nhận được trong các chức năng về tiền của tập hợp bao gồm kinh tế, kỹ thuật, dịch vụ và các lợi ích xã hội nhận được bởi khách hàng doanh nghiệp khi trao đổi giữa cái giá phải trả cho một sản phẩm yêu cầu. Theo Zeithaml (1998) và Monroe (1990) thì giá trị trong thị trường kinh doanh là sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của sản phẩm hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất nhận được.
Lợi ích ở đây chính là lợi ích từ chính sản phẩm mà khách hàng mua được. Giá trị có ý nghĩa quan trọng trong môi trường kinh doanh nhất là trong mối quan hệ kinh doanh giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp. Các nhà cung cấp chỉ có thể thành công trên thị trường một khi họ đưa ra nhiều giá trị hơn cho khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh (Walter, Ritter & Gemunden, 2001). Việc tạo nên giá trị được xem như mục đích thiết yếu cho cả khách hàng và nhà cung cấp trong việc tạo ra mối quan hệ giữa hai bên.
Tạo được giá trị cao cho khách hàng là chìa khóa cho sự tồn tại lâu dài và thành công của mỗi doanh nghiệp (Nguyen, Nguyen và Barrett, 2008). -7- Theo Gronross (1996), các doanh nghiệp gia tăng giá trị cho khách hàng thông qua việc gia tăng giá trị cốt lõi của sản phẩm. Bên cạnh đó, cần gia tăng thêm dịch vụ hỗ trợ như giao hàng tận nhà, các chương trình huấn luyện, bảo hành, dịch vụ sau bán hàng, v. Giá trị mà nhà cung cấp đem lại cho khách hàng có thể thông qua nhiều hình thức như công nghệ, chia sẻ thị trường và các thông tin kinh doanh.
Giảm giá thành sản phẩm và giảm chi phí vận hành đối với bên mua hoặc giảm chi phí vận hành đối với bên bán cũng có thể coi là giá trị (Wilson, 1995). Giá trị có liên quan tới sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp nào đưa ra được giá trị lớn hơn đối thủ thì doanh nghiệp đó sẽ có được lợi thế cạnh tranh bền vững (Ulaga và Eggert, 2001). Mối quan hệ giữa các bên trong thị trường kinh doanh Håkansson và Snehota (1995) đã định nghĩa mối quan hệ là "sự tương tác có định hướng lẫn nhau giữa hai bên có cam kết qua lại".
Đặc trưng của mối quan hệ là một quá trình theo thời gian và phụ thuộc lẫn nhau giữa các công ty, đơn vị tổ chức và cá nhân (Birgitta Forsström, 2005). Xây dựng mối quan hệ rất quan trọng vì nếu làm tốt điều này thì các doanh nghiệp có thể đem đến các lợi ích thông qua việc cho ra đời các sản phẩm mới mà nếu một mình thì bản thân mỗi doanh nghiệp không thể thực hiện được. Còn Grönroos (1996) cho rằng mối quan hệ trong marketing nhằm xác định, thiết lập, duy trì và nâng cao mối quan hệ với người mua và các bên liên quan, ở một mức lợi nhuận mà mục tiêu của các bên liên quan đều đạt được. Mối quan hệ giữa bên bán và bên mua trong môi trường doanh nghiệp đều mang lại lợi ích cho cả hai bên.
Ulaga và Eggert (2006) cho rằng trong mối quan hệ kinh doanh, nhà cung cấp phải củng cố việc cung cấp để tăng độ tin cậy của người mua. Quan hệ giữa các bên càng lâu dài sẽ càng tạo thuận lợi trong giao dịch giữa các bên. Để làm được điều này, các công ty phải thực hiện các biện pháp cải thiện các giá trị cảm nhận của khách hàng. Chính điều này làm cho khách hành không cảm thấy chi phí họ bỏ ra nhiều hơn cái mà họ nhận được (Ravald và Grönroos, 1996).