Luận văn thạc sĩ giá trị bản thân trong tiêu dùng dịch vụ nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam

Luận văn thạc sĩ phân tích giá trị bản thân trong tiêu dùng dịch vụ nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực

Chuyên ngành

Thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Kinh Tế

2019

199
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở lý thuyết về ‘giá trị bản thân’

1.2. Cơ sở lý thuyết về hành vi tiêu dùng

1.3. Xây dựng mô hình nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Quy trình nghiên cứu và kế hoạch thực hiện

2.2. Quá trình thực hiện nghiên cứu tại giai đoạn 1 – điều chỉnh thang đo 'giá trị bản thân' phù hợp với thị trường Việt Nam

2.3. Quá trình thực hiện nghiên cứu tại giai đoạn 2 – kiểm định thang đo 'giá trị bản thân' với mô hình hành vi tiêu dùng dịch vụ

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

3.1. Kết quả nghiên cứu của giai đoạn 1 – điều chỉnh thang đo 'giá trị bản thân' phù hợp với thị trường Việt Nam

3.2. Kết quả nghiên cứu tại giai đoạn 2 – kiểm định thang đo 'giá trị bản thân' với mô hình hành vi tiêu dùng dịch vụ

4. CHƯƠNG 4: HÀM Ý NGHIÊN CỨU

NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

Tóm tắt

I. Tổng quan về giá trị bản thân trong tiêu dùng dịch vụ tại Việt Nam

Khái niệm giá trị bản thân đã trở thành một yếu tố quan trọng trong hành vi tiêu dùng dịch vụ tại Việt Nam. Nghiên cứu này sẽ khám phá cách mà giá trị bản thân ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng của người tiêu dùng Việt Nam. Theo Maslow (1943), nhu cầu thể hiện bản thân là một trong những động lực chính thúc đẩy hành vi tiêu dùng. Điều này đặc biệt đúng trong bối cảnh hiện nay, khi mà người tiêu dùng ngày càng chú trọng đến việc thể hiện bản thân qua các dịch vụ mà họ sử dụng.

1.1. Khái niệm giá trị bản thân và tầm quan trọng của nó

Giá trị bản thân được định nghĩa là những giá trị mà một cá nhân coi trọng và theo đuổi trong cuộc sống. Nó không chỉ ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng mà còn phản ánh tâm lý tiêu dùng của người dân. Nghiên cứu cho thấy rằng những người có giá trị bản thân cao thường có xu hướng tiêu dùng nhiều hơn và chọn lựa các dịch vụ cao cấp hơn.

1.2. Tình hình tiêu dùng dịch vụ tại Việt Nam

Ngành dịch vụ tại Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, chiếm hơn 40% GDP. Sự gia tăng thu nhập và thay đổi trong thói quen tiêu dùng đã dẫn đến sự gia tăng nhu cầu về các dịch vụ chất lượng cao. Điều này tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc nghiên cứu tác động của giá trị bản thân đến hành vi tiêu dùng.

II. Vấn đề và thách thức trong việc nghiên cứu giá trị bản thân

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về giá trị bản thân, nhưng việc áp dụng khái niệm này vào tiêu dùng dịch vụ tại Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức. Một trong những vấn đề chính là sự thiếu hụt dữ liệu và các mô hình nghiên cứu phù hợp. Nhiều nghiên cứu trước đây chưa thực sự kiểm định được mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hành vi tiêu dùng dịch vụ.

2.1. Thiếu hụt dữ liệu trong nghiên cứu

Nhiều nghiên cứu hiện tại thiếu dữ liệu thực nghiệm để chứng minh mối liên hệ giữa giá trị bản thân và hành vi tiêu dùng. Điều này dẫn đến việc khó khăn trong việc xây dựng các mô hình lý thuyết chính xác.

2.2. Khó khăn trong việc áp dụng mô hình nghiên cứu

Việc áp dụng các mô hình nghiên cứu từ nước ngoài vào bối cảnh Việt Nam gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt về văn hóa và thói quen tiêu dùng. Cần có những điều chỉnh phù hợp để mô hình có thể phản ánh đúng thực tế.

III. Phương pháp nghiên cứu giá trị bản thân trong tiêu dùng dịch vụ

Để nghiên cứu giá trị bản thân trong tiêu dùng dịch vụ, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Phương pháp định tính giúp hiểu rõ hơn về tâm lý và động cơ tiêu dùng, trong khi phương pháp định lượng cung cấp dữ liệu cụ thể để kiểm định giả thuyết.

3.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính sẽ bao gồm phỏng vấn sâu và nhóm tập trung để thu thập thông tin về giá trị bản thân và cách mà nó ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng. Phương pháp này giúp khám phá các yếu tố tâm lý và xã hội tác động đến hành vi tiêu dùng.

3.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định lượng sẽ sử dụng bảng hỏi để thu thập dữ liệu từ một mẫu lớn người tiêu dùng. Dữ liệu này sẽ được phân tích để xác định mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hành vi tiêu dùng dịch vụ.

IV. Ứng dụng thực tiễn của giá trị bản thân trong tiêu dùng dịch vụ

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng giá trị bản thân có tác động mạnh mẽ đến hành vi tiêu dùng dịch vụ. Người tiêu dùng có giá trị bản thân cao thường có xu hướng chọn lựa các dịch vụ cao cấp và thể hiện bản thân qua các lựa chọn tiêu dùng của họ.

4.1. Tác động của giá trị bản thân đến sự hài lòng của khách hàng

Nghiên cứu cho thấy rằng những người tiêu dùng có giá trị bản thân cao thường cảm thấy hài lòng hơn với các dịch vụ mà họ sử dụng. Điều này dẫn đến sự trung thành cao hơn với thương hiệu và dịch vụ.

4.2. Ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng

Người tiêu dùng có giá trị bản thân cao thường có xu hướng chi tiêu nhiều hơn cho các dịch vụ mà họ cho là phù hợp với giá trị của bản thân. Điều này tạo ra một cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trong việc phát triển các dịch vụ phù hợp.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu giá trị bản thân

Nghiên cứu về giá trị bản thân trong tiêu dùng dịch vụ tại Việt Nam mở ra nhiều hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo. Cần tiếp tục khai thác sâu hơn về mối quan hệ giữa giá trị bản thân và hành vi tiêu dùng để có thể đưa ra các giải pháp phù hợp cho doanh nghiệp.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng giá trị bản thân có ảnh hưởng lớn đến hành vi tiêu dùng dịch vụ. Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc hiểu rõ giá trị bản thân trong việc phát triển các chiến lược marketing hiệu quả.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần có thêm nhiều nghiên cứu thực nghiệm để kiểm định các giả thuyết về giá trị bản thân trong các lĩnh vực dịch vụ khác nhau. Điều này sẽ giúp làm rõ hơn về vai trò của giá trị bản thân trong hành vi tiêu dùng tại Việt Nam.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ giá trị bản thân trong tiêu dùng dịch vụ nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Hiện tại, trên thế giới tồn tại khá nhiều định nghĩa và thang đo cho khái niệm 'giá trị bản thân'; chính khái niệm này được các nhà khoa học sử dụng trong nhiều phạm vi và bối cảnh khác nhau của đời sống kinh tế xã hội. Có thể là phạm vi tổng quát - dùng để phân loại đối tượng (con người) trong một hoàn cảnh cụ thể; hay phạm vi tiêu dùng - tác động từ yếu tố 'giá trị bản thân' đến hành vi. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài (tiêu dùng dịch vụ) và giới hạn nghiên cứu (thị trường Việt Nam), khái niệm 'giá trị bản thân' có một sự hình thành và phát triển rõ nét theo những nội dung được trình bày dưới đây. Cơ sở lý thuyết về ‘giá trị bản thân’ 1.

Sự phát triển khái niệm ‘giá trị bản thân’- giá trị con người Khái niệm ‘giá trị con người’ (bao gồm ‘giá trị bản thân’) được Rokeach định nghĩa: “Giá trị là những khái niệm trừu tượng cao, được định nghĩa như một niềm tin nội tại của mỗi cá nhân trong hành vi hay một trạng thái tồn tại mà cá nhân đó hướng đến”2 (Rokeach 1973, p. Rokeach xây dựng mô hình đo lường giá trị và chia 'giá trị con người' thành hai loại; (i) giá trị phương tiện – instrumental values và (ii) giá trị đạt được – terminal values. Giá trị đạt được bao gồm giá trị bản thân – personal values và giá trị xã hội – social values, là sự thuận lợi trong cuộc sống, sự bình đẳng, tôn trọng hay xung đột…. của mỗi cá nhân hay toàn xã hội, giá trị đạt được ở hai phạm vi này phụ thuộc nhau.

Giá trị phương tiện gồm giá trị đạo đức – moral values và giá trị năng lực – competence values, đây là hai khái niệm khác biệt nhau. Trên cơ sở khái niệm và các khía cạnh ‘giá trị con người’ của Rokeach, nhiều nhà nghiên cứu đã phát triển thành những khái niệm mang tính chi tiết hơn và được đặt trong một lĩnh vực cụ thể hơn của đời sống xã hội. Đặc biệt trong nghiên cứu tiêu dùng, những đánh giá về sự liên quan của ‘giá trị đạt được’ – trong ‘giá trị con người’ 2 ‘A value is an enduring belief that a specific mode of conduct or end-state of existence is personally or socially preferable to an opposite or converse mode of conduct or end-state of existence.’ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 của hệ thống Rokeach đối với hành vi người tiêu dùng đã được Kahle (1985) và Prakash và Munson (1985) phát triển. Tại nghiên cứu này, khái niệm 'giá trị con người' đã chuyển đến một phạm vi hẹp hơn – giá trị khách hàng.

Đến đây chúng ta có thể thấy bức tranh về 'giá trị con người' (theo cách nhìn của Rokeach) đã được phân thành hai nhánh, hai cách nhìn nhận khác nhau và kéo theo hình thành hai khái niệm và thang đo khác nhau: (i) Hệ thống khái niệm của Rokeach (RVS - Rokeach’s value survey): Dựa vào hệ thống giá trị này nhiều nhà nghiên cứu đã triển khai thành khái niệm 'giá trị bản thân' trong những nghiên cứu cụ thể, đơn cử như: Michael, Hung và Wilson (2002); Anana và Nique (2007)… (ii) Danh sách giá trị (LOV - List of Values): Những nghiên cứu dựa vào hệ thống giá trị LOV đồng thời cũng hình thành khái niệm 'giá trị bản thân', cụ thể: Homer và Kahle (1988); Chanaka (2004); Marandi, Little và Little (2006)… Theo William và Richard (1999), hai hệ thống thang đo: RVS - Rokeach’s value survey và LOV - List of Values dùng để đo lường khái niệm ‘giá trị’ trong nghiên cứu hành vi khách hàng thuộc lĩnh vực marketing. Song song sự phát triển hệ thống giá trị Rokeach (RVS), vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 nhà khoa học Schwartz (nhà tâm lý học và nghiên cứu văn hóa, hoạt động nghiên cứu với trên 70 quốc gia) đã xây dựng một hệ thống giá trị khác – hệ thống Schwartz Value Survey (SVS) dựa trên định nghĩa về giá trị: Giá trị là sự hợp nhất của năm đặc tính: (1) là khái niệm hay niềm tin; (2) gắn liền với trạng thái kết thúc có thể mong chờ hay hành vi; (3) vượt qua những hoàn cảnh đặc biệt; (4) hướng dẫn chọn lọc hay đánh giá hành vi và sự kiện; (5) được ra lệnh bởi sự quan trọng liên quan (Schwartz, 1992). Và khẳng định: “Giá trị như tình trạng mục tiêu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 thường xuyên mong muốn, khác nhau về tầm quan trọng, đáp ứng như những yếu tố hướng dẫn trong cuốc sống của cá nhân hay thực thể xã hội khác”3 (Schwartz, 1994). Các thành phần đo lường giá trị theo hệ thống giá trị của Schwartz (Schwartz Value Survey – SVS) được phát triển từ thành phần giá trị phương tiện của Rokeach (Nguyễn Xuân Lãn & cs, 2011, p.

273) và kiểm định ở rất nhiều quốc gia và nhiều ngành nghề. Từ điểm khởi đầu này, định nghĩa và thang đo cho giá trị con người SVS được chính tác giả Schwartz và cộng sự đã phát triển trong hàng loạt những nghiên cứu tiếp theo. Cũng giống như Rokeach, Schwartz cũng dừng lại ở khái niệm và xây dựng thang đo cho 'cấu trúc giá trị con người – structure of human values' mà chưa gắn liền với một lĩnh vực cụ thể trong đời sống kinh tế - xã hội. Bên cạnh hệ thống giá trị của Rokeach và Schwartz nói trên, tồn tại nhiều quan điểm và cách nhìn về 'giá trị con người' của nhiều nhà nghiên cứu khác, điển hình như: 'Giá trị và phong cách sống - VALS - Values and Lifestyles' do Mitchell Amold (1983) phát triển (tại SRI International) dựa vào thuyết nhu cầu của Maslow’s (1943) và những định nghĩa về tính chất xã hội của Riesman, Glazer và Denney (1950) (Kahle, Beatty & Homer, 1986).

Tại đây chúng ta có thể nhận thấy khái niệm 'giá trị con người' được Rokeach và nhiều nhà nghiên cứu phát triển và ứng dụng trong nghiên cứu đời sống xã hội trên khắp thế giới và hình thành khái niệm 'giá trị bản thân'. Nhưng khái niệm được Rokeach và các nhà nghiên cứu trên đã sử dụng (ngay cả khái niệm 'giá trị bản thân') chỉ dừng lại ở khái niệm mang tính phổ quát (bao trùm mọi khía cạnh của một con người), chưa đi sâu vào phân tích những khía cạnh cụ thể như Rokeach đã đề cập đến ((i) giá trị bản thân, (ii) giá trị xã hội, (iii) giá trị đạo đức và (iv) giá trị năng lực). Khái niệm 'giá trị bản thân' tiếp tục được các nhà nghiên cứu phát triển theo hướng cụ thể hơn với phạm vi hẹp hơn (gắn với một lĩnh vực sản xuất cụ thể). Theo Schiffman và Kanuk (1997), 'giá trị bản thân' là một phần của niềm tin cá nhân với 5 tính chất: 1) chiếm thiểu số; 2) như một hướng dẫn cho hành vi văn hóa thích hợp; 3) 3 ‘Values as desirable transsituational goals, varying in importance, that serve as guiding principles in the life of a person or other social entity.’ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 lâu dài hoặc khó thay đổi; 4) không gắn với các tình huống cụ thể và 5) được các thành viên trong xã hội chấp nhận rộng rãi (dẫn theo Thuy & Hau, 2010).

Lages và Fernandes (2005) tiếp tục phát triển khái niệm 'giá trị bản thân' trong lĩnh vực tiêu dùng trên cơ sở truy suất từ hệ thống thang đo RVS - Rokeach’s value survey (thành phần giá trị đạt được) và LOV - List of Values (Lages & Fernandes, 2005), kết quả xây dựng thành công thang đo 'SERPVAL - Service Personal Values – giá trị bản thân với dịch vụ' trong cung cấp dịch vụ và công nhận mô hình 3 thành phần của ‘giá trị bản thân’ trong khu vực dịch vụ: 1) giá trị của cuộc sống bình yên; 2) giá trị xã hội công nhận; và 3) giá trị sự hòa hợp xã hội. Nhưng định nghĩa ‘giá trị bản thân’ trong nghiên cứu này chính là định nghĩa giá trị con người của Rokeach (1973). Cùng các nghiên cứu về ‘giá trị bản thân’ tiếp theo, hầu hết các nhà nghiên cứu đều sử dụng định nghĩa giá trị con người của Rokeach (1973) để định nghĩa khái niệm ‘giá trị bản thân’. Đo lường ‘giá trị bản thân’- giá trị con người Cùng với với sự phát triển định nghĩa cho khái niệm ‘giá trị bản thân’ (giá trị con người), những nhà nghiên cứu đã xây dựng thang đo cho khái niệm 'giá trị bản thân’ (giá trị con người) thông qua những nghiên cứu cụ thể.

Đã có rất nhiều nghiên cứu sử dụng những thang đo khác nhau trong việc đo lường khái niệm giá trị này, nhưng hầu hết đều tập trung vào ba thang đo chính: Hệ thống giá trị Rokeach – The Rokeach Value system – RVS (Rokeach, 1973): do Rokeach xây dựng cùng với khái niệm 'giá trị con người', được nhiều nghiên cứu sau này sử dụng để đo lường khái niệm 'giá trị bản thân'. Thang đo gồm hai thành phần: (i) giá trị đạt được – terminal values: đề cập đến những tình trạng một cá nhân đang có, muốn có, muốn hướng tới; (ii) giá trị phương tiện – instrumental values: thể hiện phương thức hành xử để có được giá trị muốn có. Cụ thể mỗi thành phần gồm 18 biến đo lường, bảng sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: Thang đo cho giá trị đạt được và giá trị phương tiện của Rokeach (1973) Giá trị đạt được Giá trị phương tiện STT Terminal values Instrumental values 1 Tiện nghi sống – A comfortable life Tham vọng – Ambitious Sự thú vị trong cuộc sống – 2 Khoáng đạt – Broadminded An exciting life Ý thức về sự đạt được – 3 Có năng lực – Capable A sense of accomplishment 4 Sự bình yên – A world at peace Vui vẻ - Cheerful 5 Tính thẩm mỹ - A world of beauty Rõ ràng – Clean 6 Sự bình đẳng – Equality Cam đảm – Courageous 7 An ninh gia đình – Family security Độ lượng – Forgiving 8 Tự do – Freedom Tốt bụng – Helpful 9 Hạnh phúc – Happiness Thật thà - Honest 10 Hài hòa nội tâm – Inner harmony Sức tưởng tượng – Imaginative 11 Tình yêu trưởng thành – Mature love Độc lập – Independent 12 An ninh quốc gia – National security Thông minh – Intellectual 13 Hài lòng – Pleasure Hợp lý – Logical 14 Sự cứu rỗi - Salvation Thân thiện – Loving 15 Tự tôn trọng – Self-respect Ngoan ngoãn – Obedient 16 Xã hội công nhận – Social recognition Lịch thiệp – Polite 17 Tình bạn thật sự - True friendship Trách nhiệm – Responsible 18 Sự từng trải - Wisdom Kiểm soát – Self-controlled Nguồn: Rokeach (1973) Dựa vào khung đo lường trên, Rokeach tiến hành nghiên cứu thực nghiệm trong xã hội Mỹ bằng việc quan sát dữ liệu thực tế với phạm vi xã hội Mỹ đương thời.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ