Luận Văn Tốt Nghiệp Về Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Giả Tạo Theo Bộ Luật Dân Sự 2015

Khóa luận đánh giá Giả Tạo Trong Giao Dịch Dân Sự: Luận Văn Tốt Nghiệp Về Hiệu Lực Theo Bộ Luật Dân Sự, tiếp cận đa chiều, kết quả có tính khả thi

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

59
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO

1.1. Khái niệm và đặc điểm của giao dịch dân sự, giao dịch dân sự vô hiệu

1.2. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO

2.1. Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

2.2. Hậu quả pháp lý và thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự do giả tạo vô hiệu

2.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO

3.1. Đánh giá quy định hiện hành về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

3.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

3.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái quát chung về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là một vấn đề phức tạp trong pháp luật Việt Nam, đặc biệt là theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Giao dịch này thường xảy ra khi các bên tham gia không có ý định thực hiện nghĩa vụ hoặc quyền lợi thực sự, mà chỉ nhằm mục đích che giấu một giao dịch khác. Điều này dẫn đến việc giao dịch trở nên vô hiệu và không có giá trị pháp lý. Theo quy định, một giao dịch dân sự được coi là vô hiệu khi không đáp ứng đủ các điều kiện về tính hợp pháp, năng lực hành vi của các bên, và ý chí của họ. Việc xác định giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên mà còn tác động đến sự ổn định của các quan hệ pháp lý trong xã hội. Do đó, việc nghiên cứu và làm rõ các quy định liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là rất cần thiết.

1.1 Khái niệm và đặc điểm của giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự được định nghĩa là hành vi pháp lý nhằm tạo ra, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Đặc điểm của giao dịch này bao gồm việc thể hiện ý chí của các bên tham gia, và phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Giao dịch dân sự có thể là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương. Hợp đồng dân sự là hình thức phổ biến nhất, trong khi hành vi pháp lý đơn phương không phụ thuộc vào ý chí của bên kia. Để giao dịch có hiệu lực, các bên phải có năng lực hành vi dân sự và thực hiện giao dịch một cách tự nguyện, không bị ép buộc hay lừa dối.

1.2 Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là loại giao dịch mà các bên tham gia không có ý định thực hiện nghĩa vụ thực sự, mà chỉ nhằm mục đích che giấu một giao dịch khác. Điều này dẫn đến việc giao dịch không có giá trị pháp lý và không được pháp luật công nhận. Theo Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch này có thể bị tuyên bố vô hiệu nếu có đủ căn cứ chứng minh rằng ý chí của các bên không thực sự tồn tại. Việc xác định giao dịch vô hiệu do giả tạo không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên mà còn tác động đến sự ổn định của các quan hệ pháp lý trong xã hội.

II. Quy định của pháp luật hiện hành về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Pháp luật hiện hành quy định rõ ràng về các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo. Theo đó, giao dịch này có thể bị tuyên bố vô hiệu khi được xác lập nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc khi có mục đích trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba. Hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu do giả tạo là các bên không được thực hiện quyền và nghĩa vụ theo giao dịch đó. Điều này có thể dẫn đến việc các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, hoặc bồi thường thiệt hại nếu có. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu cũng được quy định cụ thể, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

2.1 Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo bao gồm những giao dịch được xác lập nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc có mục đích trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba. Những giao dịch này thường không được thực hiện một cách minh bạch và có thể gây ra nhiều tranh chấp pháp lý. Việc xác định rõ ràng các trường hợp này là rất quan trọng để bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia giao dịch và đảm bảo tính ổn định của các quan hệ pháp lý trong xã hội.

2.2 Hậu quả pháp lý và thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự do giả tạo vô hiệu

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là các bên không được thực hiện quyền và nghĩa vụ theo giao dịch đó. Điều này có thể dẫn đến việc các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, hoặc bồi thường thiệt hại nếu có. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu cũng được quy định cụ thể, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan. Việc hiểu rõ về hậu quả pháp lý và thời hiệu yêu cầu là rất cần thiết để các bên có thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách hiệu quả.

III. Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Thực tiễn áp dụng quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo cho thấy nhiều khó khăn và vướng mắc trong việc xác định tính hợp pháp của các giao dịch này. Nhiều trường hợp giao dịch bị tuyên bố vô hiệu do thiếu minh bạch trong ý chí của các bên tham gia. Để cải thiện tình hình, cần có những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật, bao gồm việc làm rõ hơn các tiêu chí xác định giao dịch vô hiệu do giả tạo, cũng như tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân.

3.1 Đánh giá quy định hiện hành về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Các quy định hiện hành về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc xác định rõ ràng các tiêu chí và điều kiện để tuyên bố giao dịch vô hiệu. Điều này dẫn đến nhiều khó khăn trong thực tiễn áp dụng, gây ra sự không đồng nhất trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan. Cần có sự điều chỉnh và hoàn thiện các quy định này để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia giao dịch.

3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Để hoàn thiện quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, cần có những kiến nghị cụ thể như: làm rõ hơn các tiêu chí xác định giao dịch vô hiệu, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân, và cải thiện quy trình giải quyết tranh chấp liên quan đến giao dịch vô hiệu. Những kiến nghị này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của các bên mà còn góp phần nâng cao hiệu quả của hệ thống pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 Dựa trên sự phân tích những công trình nghiên cứu đã có từ trước, ở chương này tác giả khái quát những vấn đề chung nhất của giao dịch dân sự, giao dịch dân sự vô hiệu trên cơ sở tiếp thu và tổng hợp những tài liệu trước đó. Bên cạnh đó, phân tích khái quát về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo để nhằm làm cơ sở phân tích đề tài. Tại chương này Khoá luận đã triển khai được một số nội dung chính sau đây: - Dựa trên kết quả của việc nghiên cứu các góc nhìn khoa học, pháp lý, tác giả đã nêu được khái niệm cũng như đặc điểm của giao dịch dân sự. - Dựa trên kết quả của việc phân tích thuật ngữ giả tạo, các quan điểm khoa học về giao dịch dân sự do giả tạo, tác giả đã nêu và phân tích được khái niệm, đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu, giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, ý nghĩa đối với quy định của pháp luật về giao dịch dân sự do giả tạo.

Luan van 19 Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO 2. Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự được chia thành hai trường hợp. Cụ thể đó là: - Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan. - Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.

Quy định này vẫn kế thừa Điều 129 BLDS cũ năm 2005 nhưng bổ sung thêm cụm từ “hoặc luật khác có liên quan” để nhằm làm rõ yêu cầu tham chiếu các đạo luật khác khi đánh giá hiệu lực của giao dịch được che giấu bởi giao dịch dân sự khác đã được xác lập một cách giả tạo. Theo quy định này, có hai giao dịch dân sự được luật định xác lập do giả tạo: 2. Giao dịch được xác lập nhằm che giấu một giao dịch khác Che giấu” hiểu theo nghĩa Tiếng Việt thông thường nghĩa là “Giấu đi, không để lộ cho người khác biết”, trong khoa pháp pháp lý không có khái niệm cụ thể về che giấu, tuy nhiên có thể giểu che giấu là “giấu đi tội lỗi của mình”. Bản thân thuật ngữ che giấu đã cho thấy tính không minh bạch của trường hợp này.

Trong trường hợp này, có sự tồn tại của hai giao dịch song song nhau, trong đó có giao dịch đích thực (bên trong) và giao dịch giả tạo (che giấu, biểu hiện ra bên ngoài bằng hợp đồng). Ví dụ: Ông A muốn tặng cho con gái út của mình một ngôi nhà nhưng vì lý do tế nhị sợ các con khác biết được có thể gây mẫu thuẫn trong gia đình nên ông A và con gái đã ký kết hợp đồng mua bán nhà với nhau. Luan van 20 Ở đây có hai giao dịch song song tôn tài là giao dịch mua bán giữa ông A và con gái, tuy nhiên đó chỉ là giao dịch giả tạo, còn giao dịch thứ hai chính là hợp đồng tặng cho giữa ông A và con gái, đây mới chính là giao dịch thể hiện ý chí đích thực của hai bên. Khi xác lập giao dịch nhằm che giấu một giao dịch khác, các bên chủ thể đều tự nguyện bày tỏ và thống nhất với nhau về ý chí, nhưng không có sự thống nhất giữa ý chí bên trong và bên ngoài, các bên xác lập giao dịch nhưng trên thực tế không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên (có thể chỉ vì mục đích riêng hoặc vi phạm pháp luật).

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan”. Theo quy định này, giao dịch dân sự giả tạo nhằm che giấu giao dịch đích thực sẽ luôn luôn vô hiệu, còn giao dịch đích thực vẫn có hiệu lực (trừ trường hợp cũng vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật). Hơn nữa, không phải bất cứ một sự thể hiện ý chí nào cũng đều cho là giao dịch giả tạo mà chỉ những giao dịch mà ý chí giả tạo tồn tại ở các chủ thể (tức là có sự thông đồng trước) khi xác lập giao dịch, thì mới coi là giả tạo. Còn nếu không có sự thông đồng này thì giao dịch đó cũng có thể bị tuyên bố vô hiệu nhưng không phải là giao dịch giả tạo.

Để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình và bảo vệ trật tự pháp luật, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định khi tuyên bố giao dịch giả tạo vô hiệu thì giao dịch che giấu vẫn có hiệu lực. Như vậy, để áp dụng được khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015 phải đảm bảo các điều kiện sau: Một là, các bên có sự thống nhất về ý chí cũng như hậu quả của hành vi khi xác lập giao dịch; Hai là, sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài khác với mong muốn đích thực bên trong (che giấu). Việc che giấu có thể xuất phát từ nguyên do các bên không hiểu đúng quy định của pháp luật hoặc biết sai nhưng vẫn cố ý thực hiện giao dịch vì những động cơ, lợi ích bất hợp Luan van 21 pháp. Dựa trên các điều kiện này chúng ta có thể kết luận giao dịch các bên xác lập bị vô hiệu do giả tạo.

Có thể hiểu, giao dịch giả tạo là giao dịch mà ý chí được biểu đạt ra ngoài khác với ý chí đích thực và có tồn tại sự khác biệt giữa kết quả thực tế đã thực hiện giao dịch so với mục đích của giao dịch dân sự được xác lập. Thực tiễn công tác đã cho thấy, các giao dịch dân sự về vay tài sản phát triển nhưng ngoài việc phải chịu lãi suất cao thì người đi vay thường phải ký kết với người cho vay giao dịch mua bán tài sản (giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc mua bán nhà) với giá chuyển nhượng (mua, bán) thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế. Mục đích của việc ký kết hợp đồng mua bán tài sản là đảm bảo bên vay thực hiện hợp đồng vay. Đây là giao dịch giả tạo mà bên cho vay thường sử dụng khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thanh toán tiền vay gốc và lãi không đúng hạn, thì bên cho vay yêu cầu bên vay phải thực hiện hợp đồng chuyển nhượng tài sản.

Thậm chí, bên cho vay còn thực hiện thủ tục sang tên và được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tài sản vốn đang thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của bên vay. Như vậy, trong trường hợp này, tồn tại 02 giao dịch, đó là hợp đồng vay tài sản và hợp đồng mua bán tài sản. Thực trạng diễn ra khá phổ biến là, trước khi kiện ra Tòa án, biết bên vay khó có khả năng thanh toán nợ gốc và lãi, nên bên cho vay không kiện vay tài sản. Dựa trên cơ sở hợp đồng mua bán tài sản, giấy chứng nhận nhà đất đã được sang tên, bên cho vay kiện bên vay yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán tài sản hoặc đòi tài sản là nhà đất.

Các Thẩm phán thường gặp khó khăn khi giải quyết các vụ án này bởi không dễ dàng nhận biết giao dịch nào là thật, giao dịch nào là giả, đòi hỏi sự thận trọng, kĩ năng kinh nghiệm chuyên sâu và việc thu thập, đánh giá chứng cứ toàn diện, đầy đủ. Một số vụ án cụ thể - Vụ án thứ nhất: Tranh chấp đòi nhà giữa Nguyên đơn là ông C với bị đơn là ông S, bà T. Ông C kiện ông S, bà T yêu cầu trả nhà đất số 10, KM, HN với lý do: Năm 2019, ông C mua nhà đất của vợ chồng ông S, bà T với giá thực tế là Luan van 22 02 tỷ đồng nhưng giá ghi tại hợp đồng có công chứng là 300 triệu đồng. Ông C trình bày ông giao đủ tiền cho vợ chồng bà T tại Ngân hàng nông nghiệp và camera của Ngân hàng có ghi lại việc ông giao tiền.

Ông đồng ý cho vợ chồng bà T ở lại nhà đất nêu trên cho đến khi ông hoàn tất thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà. Ngày 25/9/2019, ông C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà nên ông yêu cầu vợ chồng bà T bàn giao nhà nhưng vợ chồng bà T không thực hiện. Bà T không chấp nhận yêu cầu đòi nhà của ông C mà cho rằng việc vợ chồng bà ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất là để làm tin cho việc vay tiền. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất, bà có nhận tiền của ông C tại Ngân hàng Nông nghiệp (bà không đếm nhưng cho rằng chỉ nhận 300 triệu đồng) và bà có giao giấy chứng nhận nhà đất cho ông C.

- Vụ án thứ hai: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất và tài sản trên đất giữa nguyên đơn là chị H với bị đơn là anh Đ. Năm 2019, hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng công chứng số 3 tỉnh HY với nội dung: Vợ chồng anh Đ chuyển nhượng 391m2 đất, tại, thị trấn N, huyện V, H Y với giá thống nhất ghi tại hợp đồng là 600 triệu đồng. Cùng ngày ký hợp đồng, chị H giao cho anh Đ 200 triệu đồng (không lập giấy biên nhận) tại Văn phòng công chứng. Ngày 06/12/2019, chị H thanh toán tiếp cho anh Đ400 triệu đồng.

Ngoài ra, các tài sản trên đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nên hai bên thỏa thuận giá các tài sản gồm nhà ngói 05 gian, một dãy phòng trọ và các công trình phụ là 600 triệu đồng. Ngày 15/12/2019, chị H giao đủ 600 triệu đồng nhưng sau đó anh Đ không giao nhà đất cho chị H.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận Văn Tốt Nghiệp Về Giao Dịch Dân Sự Vô Hiệu Do Giả Tạo Theo Bộ Luật Dân Sự 2015" của tác giả Vũ Đăng Hùng, dưới sự hướng dẫn của Ths. Lê Thu Trang, trình bày một cái nhìn sâu sắc về các giao dịch dân sự bị vô hiệu do giả tạo theo quy định của Bộ Luật Dân Sự 2015. Bài luận không chỉ phân tích các khía cạnh pháp lý liên quan mà còn đưa ra những ví dụ thực tiễn, giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức áp dụng luật trong các tình huống cụ thể. Đặc biệt, bài viết còn nêu bật tầm quan trọng của việc nhận diện và xử lý các giao dịch giả tạo, từ đó nâng cao nhận thức pháp lý cho cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực pháp luật, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Khám Phá Giá Trị Pháp Lý Của Văn Bản Công Chứng Trong Luận Văn Thạc Sĩ Luật, nơi bàn về giá trị pháp lý của các văn bản công chứng, hay Tìm Hiểu Pháp Luật về Hộ Kinh Doanh ở Việt Nam, cung cấp cái nhìn tổng quan về pháp luật liên quan đến hộ kinh doanh. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ về hợp đồng mua bán hàng hóa trực tuyến ở Việt Nam cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các giao dịch thương mại trong môi trường số. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá, giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các vấn đề pháp lý hiện hành.