Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giao dịch dân sự là phương tiện pháp lý giữ vai trò trung tâm trong việc lưu thông tài sản, cung ứng dịch vụ và thiết lập các quan hệ pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần của các chủ thể. Nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các quan hệ tài sản, Bộ luật Dân sự (BLDS) đã thiết lập hệ thống quy định tương đối toàn diện về điều kiện có hiệu lực cũng như chế định vô hiệu của giao dịch dân sự. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu vẫn còn bộc lộ những điểm cứng nhắc, chưa đầy đủ hoặc chồng chéo, dẫn đến sự lúng túng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong công tác xét xử. Đáng chú ý, tình trạng một bên chủ thể lợi dụng kẽ hở pháp luật để "bội ước" hoặc xác lập giao dịch không đúng với ý chí đích thực nhằm trốn tránh nghĩa vụ diễn ra ngày càng phức tạp. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là dạng giao dịch vi phạm ý chí chủ thể mang tính chất đa dạng, tinh vi và gây nhiều tranh cãi nhất hiện nay.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua các nhiệm vụ sau:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về giao dịch dân sự, giao dịch dân sự vô hiệu và giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo.
  2. Phân tích, làm rõ nội dung các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 điều chỉnh về các trường hợp giả tạo, hậu quả pháp lý và thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu (có so sánh, đối chiếu với Bộ luật Dân sự năm 2005).
  3. Khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua các vụ án tranh chấp điển hình tại Tòa án nhân dân các cấp.
  4. Phát hiện những hạn chế, vướng mắc pháp lý và đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn xét xử.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận tập trung vào các vấn đề lý luận về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo; các quy định pháp luật thực định điều chỉnh quan hệ này; thực tiễn xét xử các vụ án dân sự liên quan đến giao dịch giả tạo tại Tòa án; cùng các luận điểm khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật.
  • Phạm vi nghiên cứu: Về mặt pháp lý, khóa luận tập trung chủ yếu vào các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, có liên hệ đối chiếu với Bộ luật Dân sự năm 2005 và các văn bản pháp luật chuyên ngành liên quan (như pháp luật đất đai qua các thời kỳ); về mặt không gian và thực tiễn, đề tài nghiên cứu, đánh giá các loại giao dịch được xác định là vô hiệu do giả tạo trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các công trình khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Khung văn bản pháp luật: Trọng tâm là Bộ luật Dân sự năm 2015 (đặc biệt là Điều 117 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự; Điều 122 về giao dịch dân sự vô hiệu; Điều 124 về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo; Điều 131 về hậu quả pháp lý; Điều 132 về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu; Điều 398 và Điều 407 về nội dung và vô hiệu hợp đồng). Bên cạnh đó, tác giả đối chiếu với Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2005 và các quy định của Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993 về quyền chuyển dịch bất động sản.
  • Cơ sở lý luận: Tác giả tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu từ các giáo trình Luật Dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Cao đẳng Kiểm sát; các ấn phẩm bình luận khoa học BLDS của Bộ Tư pháp; cùng các công trình nghiên cứu chuyên sâu gồm: nghiên cứu về giao dịch vô hiệu tương đối và tuyệt đối của TS. Bùi Đăng Hiếu; nghiên cứu về yếu tố lừa dối trong hợp đồng kinh tế của ThS. Lê Thị Bích Thọ; công trình xử lý hợp đồng vô hiệu năm 2011 của ThS. Nguyễn Thị Thanh; luận án tiến sĩ năm 2005 của TS. Nguyễn Văn Cường về giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu; luận văn thạc sĩ năm 2010 của ThS. Bùi Thị Thu Huyền về hợp đồng vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể; luận văn thạc sĩ năm 2008 của ThS. Nguyễn Thị Nhàn về ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự.

Các phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận trên sách, tài liệu: Phân tích các khái niệm về ý chí, sự tự nguyện, tính ngay tình và bản chất của hành vi pháp lý.
  • Phương pháp phân tích luật viết: Mổ xẻ các điều khoản trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và các đạo luật liên quan nhằm làm rõ nội hàm các quy tắc xử sự.
  • Phương pháp so sánh, phân tích và tổng hợp: Đối chiếu sự phát triển của các quy định pháp luật qua các thời kỳ, so sánh giữa các loại giao dịch vô hiệu để tìm ra điểm đặc thù của giao dịch do giả tạo.
  • Phương pháp sưu tầm và phân tích số liệu/án văn thực tế: Thu thập các bản án dân sự sơ thẩm, phúc thẩm và quyết định giám đốc thẩm từ Cổng thông tin Tòa án nhân dân và các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm phục vụ công tác đánh giá thực tiễn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Chương này tập trung xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về giao dịch dân sự, các điều kiện có hiệu lực và bản chất của sự giả tạo:

  • Khái niệm và đặc điểm giao dịch dân sự: Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý hợp pháp biểu hiện ý chí của một hoặc nhiều chủ thể nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, bao gồm hợp đồng dân sự và hành vi pháp lý đơn phương (như việc lập di chúc). Để có hiệu lực, giao dịch phải thỏa mãn đầy đủ 5 điều kiện quy định tại Điều 117 BLDS 2015: (1) Thể hiện ý chí đích thực của các bên dựa trên nguyên tắc tự do ý chí và tính ngay tình; (2) Chủ thể có năng lực hành vi dân sự phù hợp (cá nhân từ đủ 18 tuổi, người từ đủ 6 đến chưa đủ 18 tuổi có người đại diện, năng lực của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác); (3) Mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; (4) Người tham gia hoàn toàn tự nguyện; (5) Hình thức phù hợp luật định (lời nói, văn bản thường, văn bản có công chứng/chứng thực hoặc bằng hành vi cụ thể).
  • Khái niệm và đặc điểm giao dịch dân sự vô hiệu: Là giao dịch vi phạm ít nhất một trong các điều kiện có hiệu lực, dẫn đến việc không làm phát sinh bất kỳ quyền hay nghĩa vụ dân sự nào thỏa mãn mục đích ban đầu của các bên.
  • Bản chất của sự giả tạo: Giả tạo là hành vi cố ý tạo ra sự thiếu thống nhất giữa ý chí nội tâm thực tế và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài. Giao dịch dân sự giả tạo là giao dịch mang tính hình thức, được thiết lập không dựa trên ý chí đích thực mà nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba hay Nhà nước. Trong ý chí đích thực, các bên ngầm hiểu giao dịch giả tạo đó coi như không tồn tại.
  • Đặc điểm đặc thù: Giao dịch giả tạo bề ngoài có thể đáp ứng các điều kiện về hình thức và chủ thể nhưng bị vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng tính tự nguyện và ý chí đích thực; lợi ích mà các bên hướng tới không phù hợp với quy định của pháp luật.

Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Chương 2 đi sâu phân tích cơ chế điều chỉnh của Điều 124, Điều 131 và Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015:

  • Trường hợp xác lập nhằm che giấu một giao dịch khác (Khoản 1 Điều 124): Tồn tại hai giao dịch song song gồm giao dịch giả tạo (biểu hiện ra bên ngoài) và giao dịch đích thực (bị che giấu bên trong). Về mặt xử lý, giao dịch giả tạo đương nhiên vô hiệu; giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực nếu đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực theo BLDS hoặc luật khác có liên quan (điểm mới bổ sung so với Điều 129 BLDS 2005). Điển hình là trường hợp các bên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất tại văn phòng công chứng với giá trị thấp nhằm bảo đảm cho một hợp đồng vay tài sản lãi suất cao.
  • Trường hợp xác lập nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba (Khoản 2 Điều 124): Giao dịch được xác lập có sự tự nguyện bày tỏ nhưng mục đích là tẩu tán tài sản để không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với chủ nợ hoặc trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước (ký hợp đồng tặng cho thay cho mua bán, hoặc ghi giá mua bán trên hợp đồng công chứng thấp hơn nhiều lần so với giá thanh toán thực tế). Giao dịch này bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ.
  • Phân tích 3 vụ án tranh chấp nhà đất điển hình minh họa cho hợp đồng vay mượn giả cách chuyển nhượng:
    • Vụ án 1: Tranh chấp đòi nhà tại KM, Hà Nội giữa ông C (nguyên đơn) và ông S, bà T (bị đơn). Giá mua bán công chứng ghi 300 triệu đồng nhưng thực tế là giao dịch làm tin để vay 2 tỷ đồng.
    • Vụ án 2: Tranh chấp đòi 391m2 đất tại thị trấn N, huyện V, Hưng Yên giữa chị H và anh Đ. Hợp đồng chuyển nhượng ghi 600 triệu đồng nhưng bản chất là quan hệ vay tiền với lãi suất 3.500 đồng/triệu/ngày (thực nhận 536 triệu đồng, đã trả lãi 252 triệu đồng).
    • Vụ án 3: Tranh chấp căn hộ số 03B phường 1, quận G, Hà Nội giữa anh T với anh B và ông L. Hợp đồng chuyển nhượng ghi 600 triệu đồng nhưng thực chất bị ép cấn trừ nợ vay nặng lãi với mức lãi suất từ 5.000 đến 10.000 đồng/triệu/ngày để chốt khoản nợ 5,9 tỷ đồng. Trong cả ba vụ việc, TAND cấp cao tại Hà Nội đã chấp nhận kháng nghị của Chánh án TANDCC, tuyên hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử lại do hai cấp tòa trước đó đã công nhận sai lệch giao dịch giả tạo.
  • Hậu quả pháp lý (Điều 131 BLDS 2015): Không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự từ thời điểm xác lập; các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận bằng hiện vật hoặc bằng tiền; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.
  • Thời hiệu khởi kiện (Điều 132 BLDS 2015): Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo thuộc nhóm vô hiệu tuyệt đối nên thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu không bị hạn chế bởi thời hạn 02 năm (khác với 5 trường hợp vô hiệu tương đối do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, người chưa thành niên/mất năng lực xác lập, hoặc vi phạm hình thức).
Tiêu chí so sánh Giao dịch che giấu giao dịch khác (Khoản 1 Điều 124) Giao dịch trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba (Khoản 2 Điều 124)
Bản chất giao dịch Tồn tại đồng thời 02 giao dịch: giao dịch giả tạo bên ngoài và giao dịch đích thực bên trong. Xác lập giao dịch công khai nhằm thay đổi tình trạng tài sản nhằm tẩu tán hoặc giảm nghĩa vụ.
Mục đích của các bên Che giấu giao dịch thực tế vì lý do riêng tư, bảo đảm tiền vay hoặc tránh sự kiểm soát. Trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ với chủ nợ khác hoặc trốn nghĩa vụ tài chính/thuế với Nhà nước.
Hiệu lực của giao dịch Giao dịch giả tạo vô hiệu; giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực nếu thỏa mãn điều kiện luật định. Giao dịch giả tạo bị tuyên bố vô hiệu toàn bộ.
Thời hiệu yêu cầu tuyên bố Không bị hạn chế về thời gian yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu (vô hiệu tuyệt đối). Không bị hạn chế về thời gian yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu (vô hiệu tuyệt đối).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo

Chương 3 chỉ ra các bất cập pháp lý và phân tích thực tiễn xét xử qua các bản án cụ thể:

  • Đánh giá bất cập pháp lý:
    1. Điều 124 BLDS 2015 chưa đưa ra định nghĩa pháp lý rõ ràng về thuật ngữ "giả tạo", dễ dẫn đến sự suy diễn thiếu nhất quán trong áp dụng.
    2. Vướng mắc tại Điều 131 về hậu quả pháp lý: Khi hoàn trả bất động sản, bên nhận chuyển nhượng chịu thiệt hại lớn do giá đất biến động tăng nhanh; chưa có quy định xử lý khi bên nhận tài sản làm tăng/giảm giá trị trong quá trình sử dụng; thiếu cơ chế xác định thời điểm định giá tài sản khi hoàn trả bằng tiền; chưa có hướng dẫn rõ ràng về việc trượt giá có được tính là thiệt hại thực tế để bồi thường hay không.
    3. Thiếu chế tài hành chính và kinh tế bổ sung để răn đe đối với hành vi giả tạo nhằm trốn thuế hoặc tẩu tán tài sản.
    4. Tranh cãi lý luận và thực tiễn về việc yếu tố trốn tránh nghĩa vụ có bắt buộc phải xảy ra trên thực tế hay chỉ cần dừng lại ở mục đích là đủ điều kiện tuyên vô hiệu.
  • Phân tích thực tiễn qua 5 bản án cụ thể:
Số hiệu bản án / Tòa án xét xử Quan hệ tranh chấp Bản chất giao dịch giả tạo được Tòa án xác định Quyết định của Tòa án
Bản án 69/2021/DS-PT (08/03/2021) - TAND TP. Hồ Chí Minh Chuyển nhượng nhà đất 1.254,9m2 tại huyện B và hợp đồng vay tài sản. Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông C (ủy quyền từ ông T1) cho ông S là giả tạo nhằm che giấu việc vay 100 triệu đồng (lãi 3%/tháng) của bà X. Tuyên hợp đồng chuyển nhượng công chứng ngày 18/7/2012 vô hiệu do giả tạo; buộc trả lại tiền vay và hoàn trả giấy tờ nhà đất.
Bản án 214/2020/DS-PT (23/06/2020) - TAND TP. Hà Nội Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại 873 L T, Ba Đình. Ký hợp đồng đặt cọc 4 tỷ và hợp đồng chuyển nhượng nhà đất nhằm che giấu giao dịch thực chất là vay nợ 1 tỷ đồng của chị L. Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số 1130/2012/HĐ-CN do vô hiệu toàn bộ.
Bản án 140/2019/DS-PT (28/02/2019) - TAND TP. Hồ Chí Minh Tranh chấp hợp đồng mượn nhà, thuê nhà tại 173B BC, Quận A. Hợp đồng mượn nhà số 022856 thời hạn 10 năm giữa bà B và bà D là giả tạo nhằm che giấu giao dịch cho thuê nhà thực tế với giá 6 triệu đồng/tháng. Tuyên bố Hợp đồng mượn nhà công chứng ngày 27/7/2012 là giao dịch vô hiệu do giả tạo.
Bản án 70/2020/DS-ST (27/10/2020) - TAND huyện Gò Dầu Tranh chấp hợp đồng vay, nợ hụi và chuyển nhượng 1.247m2 đất tại xã TD. Vợ chồng chị D nợ tiền vay và nợ hụi chị L (129 triệu), ký chuyển nhượng đất cho anh H1 với giá ghi 200 triệu (giá thực 1 tỷ) nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số 933 chứng thực ngày 21/11/2019 vô hiệu do giả tạo trốn tránh nghĩa vụ.
Bản án 90/2019/DS-PT (02/04/2019) - TAND tỉnh Tiền Giang Tranh chấp chuyển nhượng 12 thửa đất tại huyện T (Tiền Giang). Ký 04 hợp đồng giả cách chuyển nhượng 12 thửa đất để vay 2 tỷ đồng (lãi 80.000 đ/tháng); bà H tự ý sang tên và chuyển nhượng tiếp cho người thứ ba. Hủy 04 hợp đồng chuyển nhượng giả cách ngày 28/6/2017 và hủy việc đăng ký biến động sang tên đối với 12 thửa đất.
  • Nhóm kiến nghị hoàn thiện:
    • Kiến nghị hoàn thiện pháp luật: Xây dựng văn bản giải thích chi tiết khái niệm và dấu hiệu nhận biết giao dịch giả tạo; bổ sung quy định cụ thể về thời điểm tính giá tài sản hoàn trả khi có sự thay đổi về giá; ban hành cơ chế xác định thiệt hại do biến động giá bất động sản; bổ sung các chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi xác lập giao dịch khống nhằm trốn thuế.
    • Kiến nghị về hoạt động áp dụng: Nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng đánh giá chứng cứ toàn diện của Thẩm phán; tăng cường cơ chế phối hợp thông tin giữa Văn phòng Đăng ký đất đai, tổ chức hành nghề công chứng và Tòa án để ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản giả tạo.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được những kết quả cụ thể dựa trên số liệu và dữ kiện pháp lý thực tế:

  • Làm rõ cơ chế áp dụng Điều 124 BLDS 2015, khẳng định nguyên tắc phân định hiệu lực giữa giao dịch giả tạo bên ngoài (luôn vô hiệu) và giao dịch bị che giấu bên trong (vẫn có hiệu lực nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định).
  • Tổng hợp và phân tích chi tiết 8 vụ án/tranh chấp thực tế (bao gồm 3 vụ án bị TANDCC kháng nghị hủy án và 5 bản án sơ thẩm, phúc thẩm cụ thể từ năm 2018 đến 2021). Qua đó, khóa luận chỉ ra các thủ đoạn giả tạo phổ biến: biến tướng hợp đồng thế chấp thành hợp đồng chuyển nhượng nhà đất để cho vay nặng lãi (với lãi suất thực tế từ 3%/tháng, 3.500 đồng/triệu/ngày đến 10.000 đồng/triệu/ngày); hạ thấp giá trị giao dịch trên hợp đồng công chứng (ghi 300 triệu đồng so với giá thực 2 tỷ đồng, ghi 200 triệu đồng so với giá thực 1 tỷ đồng); lập hợp đồng mượn nhà để che giấu hợp đồng thuê nhà.
  • Đề xuất các giải pháp lập pháp xác đáng: Bổ sung nguyên tắc xác định thời điểm tính giá hoàn trả tài sản tại Điều 131; xác lập tiêu chí bồi thường thiệt hại trượt giá bất động sản; thiết lập chế tài xử phạt đối với hành vi giả tạo trốn thuế.
  • Đóng góp tự nêu: Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và cập nhật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo theo BLDS 2015, khắc phục sự khái quát và phân tán của các công trình nghiên cứu trước đây vốn chỉ xem giả tạo là một tiểu mục nhỏ trong nhóm giao dịch vi phạm ý chí.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:

  • Công trình chủ yếu tập trung phân tích các dạng giao dịch giả tạo liên quan đến quyền sử dụng đất, nhà ở và quan hệ vay mượn tài sản cá nhân; chưa mở rộng sang các giao dịch giả tạo phức tạp trong hoạt động doanh nghiệp, tài chính ngân hàng, thương mại quốc tế hoặc sở hữu trí tuệ.
  • Về hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả hướng tới việc tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ chế phối hợp giữa chế tài dân sự (tuyên bố vô hiệu) và chế tài xử lý hành chính/hình sự đối với hành vi thông đồng trốn thuế qua hợp đồng; đồng thời hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi tài sản giả cách đã được chuyển nhượng qua nhiều bên trung gian.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn:

  • Phù hợp cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự tham khảo trong quá trình học tập, nghiên cứu về chế định điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và sự vi phạm ý chí chủ thể.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo thiết thực cho Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư và Công chứng viên trong việc nhận diện các thủ đoạn hợp đồng giả cách bảo đảm tiền vay, thu thập chứng cứ chứng minh ý chí đích thực của đương sự và xử lý tranh chấp liên quan đến việc kê khai giá mua bán nhà đất nhằm trốn thuế.
  • Phần nội dung đáng chú ý nhất là hệ thống các bản án thực tiễn tại Chương 2 và Chương 3 cùng các phân tích pháp lý về cơ chế phân định hai tầng giao dịch theo Điều 124 BLDS 2015.

Câu hỏi thường gặp

1. Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo tại Điều 124 BLDS 2015 có điểm gì mới so với Điều 129 BLDS 2005?
Khoản 1 Điều 124 BLDS 2015 kế thừa quy định tại Điều 129 BLDS 2005 nhưng bổ sung thêm cụm từ "hoặc luật khác có liên quan" khi xem xét hiệu lực của giao dịch bị che giấu. Điểm bổ sung này làm rõ yêu cầu bắt buộc phải tham chiếu các đạo luật chuyên ngành liên quan (như Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản) để đánh giá tính hợp pháp của giao dịch đích thực được che giấu.

2. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là bao lâu?
Theo quy định tại Điều 132 BLDS 2015, giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo thuộc trường hợp vô hiệu tuyệt đối, do đó không bị hạn chế bởi thời hiệu 02 năm. Các bên đương sự hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu vào bất kỳ thời điểm nào.

3. Trong các vụ án tranh chấp vay tiền có lập hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giả cách (như Bản án 69/2021/DS-PT, Bản án 90/2019/DS-PT), Tòa án dựa vào những căn cứ nào để tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng?
Tòa án căn cứ vào sự không thống nhất giữa văn bản thể hiện ra bên ngoài và ý chí đích thực bên trong: các bên không thực hiện việc bàn giao nhà đất thực tế; không thực hiện các thủ tục xem nhà, giao nhận tiền theo thông lệ mua bán; tồn tại giấy tờ xác nhận vay nợ, biên nhận đóng lãi hàng tháng viết tay (với lãi suất cao như 3%/tháng hoặc 80.000 đồng/tháng); và lời thừa nhận của các bên hoặc người làm chứng về việc ký hợp đồng chuyển nhượng chỉ để làm tin bảo đảm cho khoản tiền vay.

4. Khóa luận chỉ ra những khó khăn pháp lý lớn nhất nào trong việc áp dụng Điều 131 BLDS 2015 về hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu?
Khó khăn lớn nhất nằm ở việc khôi phục tình trạng ban đầu đối với đối tượng là quyền sử dụng đất khi giá trị bất động sản tăng cao (bên chuyển nhượng lấy lại đất là thỏa đáng nhưng bên nhận chuyển nhượng chịu thiệt hại lớn); thiếu quy định xử lý phần giá trị tăng thêm do sửa chữa, cải tạo; chưa có quy định xác định thời điểm tính giá tài sản khi phải hoàn trả bằng tiền; và chưa có hướng dẫn thống nhất về việc thiệt hại do trượt giá tài sản có được bồi thường hay không.

5. Theo tác giả, có những quan điểm trái chiều nào về việc xác định giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba?
Hiện tồn tại hai luồng quan điểm: quan điểm thứ nhất cho rằng yếu tố giả tạo và yếu tố trốn tránh nghĩa vụ phải đồng thời xảy ra trên thực tế thì mới đủ căn cứ tuyên vô hiệu; quan điểm thứ hai cho rằng chỉ cần chứng minh được yếu tố giả tạo nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ mà không cần hành vi trốn tránh đã phát sinh hậu quả trên thực tế thì đã có thể xác định giao dịch đó vô hiệu theo Khoản 2 Điều 124 BLDS 2015.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Đăng Hùng đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và các quy định pháp luật thực định về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Bằng phương pháp tiếp cận gắn liền lý luận với thực tiễn, công trình đã phân tích sâu sắc các thủ đoạn xác lập hợp đồng giả cách phổ biến trong đời sống dân sự, đặc biệt là trong lĩnh vực chuyển nhượng bất động sản và tín dụng cá nhân. Thông qua việc chỉ ra các bất cập về khái niệm, cơ chế giải quyết hậu quả pháp lý và chế tài xử lý, khóa luận đã đề xuất các giải pháp lập pháp và định hướng áp dụng có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật và hoạt động xét xử tại Việt Nam.