Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về ung thư 1. Định nghĩa Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào, khi bị kích thích bởi các tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức không tuân theo các cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể [44]. Ung thư phụ khoa là các loại ung thư của hệ sinh dục nữ và xảy ra khi các tế bào bất thường phát triển một cách không kiểm soát được.
Theo Hiệp hội Ung thư Australia, ung thư phụ khoa được gọi tên theo cơ quan hoặc phần cơ thể nơi chúng khởi phát, bao gồm buồng trứng, tử cung, cổ tử cung, âm đạo và âm hộ. Ngoài ra còn bao gồm ung thư ống dẫn trứng và ung thư nhau thai [11]. Theo tài liệu ở Việt Nam, ung thư vú cũng xếp vào các loại ung thư phụ khoa [2]. Phân loại Ung thư là từ chung mô tả trên 200 loại khác nhau được biết đến trên cơ thể.
Theo tài liệu của Bộ Y tế và Bệnh viện K, ung thư phụ khoa ở nữ giới có 11 bệnh dưới đây [2]: − Ung thư biểu mô buồng trứng − Ung thư tế bào mầm của buồng trứng − U đệm - dây sinh dục buồng trứng − Ung thư vòi trứng − Ung thư nội mạc tử cung − Ung thư mô liên kết thân tử cung − Ung thư nhau thai − Ung thư cổ tử cung 5 − Ung thư âm đạo − Ung thư âm hộ − Ung thư vú Đa số ung thư là bệnh có biểu hiện mạn tính, có quá trình phát sinh và phát triển qua từng giai đoạn. Trừ một số nhỏ ung thư ở trẻ em có thể do đột biến gen từ lúc bào thai còn phần lớn các ung thư đều có giai đoạn tiềm tàng lâu dài có khi hàng chục năm không có dấu hiệu gì trước khi phát hiện thấy dưới dạng khối u, lúc này khối u phát triển nhanh và mới có các triệu chứng của bệnh. Triệu chứng đau thường xuất hiện khi bệnh đã ở giai đoạn cuối. Phân loại TNM: Bảng 1.
Bảng phân loại TNM T0 Chưa có dấu hiệu u nguyên phát. Tis Ung thư nội mạch: u chưa phá vỡ màng đáy. T: U nguyên phát Theo kích thước tăng dần hoặc mức xâm lấn T1-4 tại chỗ của u nguyên phát. Tx Chưa thể đánh giá được u nguyên phát.
N0 Chưa có dấu hiệu xâm lấn hạch tại vùng. N: Hạch tại vùng N1-3 Mức độ tăng dần xâm lấn hạch tại vùng. Nx Chưa thể đánh giá được hạch tại vùng. M0 Chưa di căn xa.
M: Di căn xa M1 Di căn xa. Mx Chưa đánh giá được di căn. Ví dụ: Sắp xếp giai đoạn TNM trong ung thư vú (theo UICC và AJCC năm 2017): 6 T Tx Không đánh giá được u nguyên phát T0 Không có bằng chứng u nguyên phát Tis (DCIS) Ung thư biểu mô thể ống tại chỗ Tis (Paget) Bệnh Paget của núm vú nhưng không kèm theo ung thư xâm lấn và/hoặc DCIS ở nhu mô phía dưới T1: U ≤ 2 cm: T1 mic: vi xâm lấn ≤ 0,1 cm 0,1 cm < T1a ≤ 0,5 cm 0,5 cm < T1b ≤ 1 cm 1 cm < T1c ≤ 2 cm T2: U có kích thước từ hơn 2 cm tới 5 cm T3: U lớn hơn 5 cm T4: U mọi kích thước với sự xâm lấn. T4a: xâm lấn vào thành ngực T4b: xâm lấn vào da T4c: xâm lấn vào cả da và thành ngực T4d: ung thư vú thể viêm N N0: Chưa sờ thấy hạch nách cùng bên.
N1: Hạch nách cùng bên di động. N2: Hạch nách cùng bên cố định. N3 (a, b, c): Di căn hạch hạ đòn, vú trong, thượng đòn cùng bên. M M0: Chưa có di căn xa.
M1: Có di căn xa kể cả hạch thượng đòn. Dịch tễ học ung thư phụ khoa ở phụ nữ 1. Dịch tễ học ung thư và ung thư phụ khoa ở nữ giới. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2015, ung thư là nguyên nhân gây tử vong đầu tiên hoặc thứ hai trước 70 tuổi ở 91 trong số 172 quốc gia và đứng thứ ba hoặc thứ tư trong 22 quốc gia khác [13].
Ước tính sẽ có khoảng 18,1 triệu ca ung thư mới (17,0 triệu người không bao gồm ung thư da không phải ung thư da) và 9,6 triệu ca tử vong do ung thư (9,5 triệu người không bao gồm ung thư da không mắc bệnh ung thư da) vào năm 2018. Trong tổng số các loại ung thư thì: ung thư vú ở nữ chiếm thứ 2 về mức độ phổ biến và tỷ lệ tử vong (11,6%). Tính riêng trong nhóm phụ nữ, ung thư vú là loại ung thư được chẩn đoán phổ biến nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư; ung thư cổ tử cung đứng thứ tư về cả tỷ lệ mắc và tử vong [13]. Việt Nam là một trong những nước xếp vị trí 99/185 quốc gia và vùng lãnh thổ với tỉ lệ mắc ung thư 151,4/100.000 dân, xếp 19 châu Á và thứ 5 tại khu vực Đông Nam Á.
Vào năm 2015, Việt Nam xếp vị trí 107 và thời điểm 2013 xếp ở vị trí 108. Theo thống kê của WHO, số ca mắc mới ung thư tại Việt Nam không ngừng tăng, từ 68. Năm 2018, số ca mắc mới tăng lên gần 165.000 ca/96,6 triệu dân, trong đó gần 70% trường hợp tử vong, tương đương 115. Mặc dù, tỉ lệ mắc bệnh ung thư ở Việt Nam không cao, tuy nhiên tỉ lệ tử vong tương đối lớn, xếp vị 56/185 quốc gia và vùng lãnh thổ với tỉ lệ 104,4/100.
Vào năm 2016, tỉ lệ tử vong của Việt Nam ở mức 110/100. Tính chung cả 2 giới, 5 loại ung thư có tỉ lệ mắc nhiều nhất tại Việt Nam gồm: Ung thư gan, hơn 25.000 ca (15,4%), đó là ung thư phổi (14,4%), ung thư dạ dày (10,6%), ung thư vú, ung thư đại tràng. Ở nữ giới, hàng đầu vẫn là ung thư vú, ung thư đại tràng, ung thư phổi, ung thư gan [29]. Dịch tễ học ung thư cổ tử cung Ước tính có khoảng 13.240 phụ nữ sẽ được chẩn đoán mắc bệnh cổ tử cung, và khoảng 4.170 phụ nữ sẽ chết vì nó vào năm 2018.
Tại Mỹ, tuổi trung bình khi chẩn đoán cho tất cả phụ nữ ở Mỹ là 49 tuổi [37]. Ung thư cổ tử cung hầu như chỉ liên quan đến virus papilloma ở người (HPV). Hơn 150 chủng HPV tồn tại, trong đó hơn 40 chủng có thể là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh này [27]. Tiêm phòng HPV được xem là biện pháp dự phòng ung thư cổ tử cung hiệu quả nhất.
Kinh tế xã hội tiếp tục ảnh hưởng đến việc tầm soát ung thư cổ tử cung. Nghiên cứu của Walsh và O'Neill tiến hành trên dữ liệu quốc gia Hoa Kỳ từ năm 2007 đến năm 2011 đã nhận thấy rằng những phụ nữ có thu nhập cao, có bằng đại học hoặc bảo hiểm y tế tư nhân có nhiều khả năng tham gia vào chương trình dự phòng bệnh ung thư cổ tử cung, bất kể họ là người da trắng, da đen hay gốc Tây Ban Nha. Trong số những người có thu nhập thấp, họ phát hiện ra rằng phụ nữ người da đen và gốc Tây Ban Nha có nhiều khả năng được sàng lọc hơn. Phân biệt chủng tộc và sắc tộc tiếp tục liên quan đến tỷ lệ sống sót của căn bệnh này.
Phụ nữ da trắng có 69% cơ hội sống sót sau 5 năm so với 56% ở phụ nữ da đen [39]. Dịch tễ học ung thư buồng trứng Ở Mỹ, ung thư buồng trứng là loại ung thư phổ biến thứ tám ở phụ nữ và là nguyên nhân thứ 5 gây tử vong cho phụ nữ do ung thư [27]. Mặc dù chỉ 2,5% của tất cả các trường hợp ung thư ở phụ nữ là ung thư buồng trứng, đây lại là nguyên nhân của 5% tất cả các trường hợp tử vong do ung thư ở nữ giới. Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (ACS) ước tính 22.240 phụ nữ ở Mỹ sẽ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư buồng trứngvà 14.070 người sẽ chết vì căn bệnh này vào năm 2018 [37].
Độ tuổi thường gặp nhất cho chẩn đoán này là từ 55 đến 64 tuổi. Khả năng sống sót thấp đối với ung thư buồng trứng là do 80% các 9 trường hợp được chẩn đoán khi bệnh đã ở giai đoạn nặng [26]. Từ năm 2010 đến năm 2014, phụ nữ da trắng không phải gốc Tây Ban Nha có tỷ lệ mắc bệnh là 12/100.000 phụ nữ, cao hơn 30% so với phụ nữ da đen không phải gốc Tây Ban Nha có tỷ lệ 9,4/100. Nghiên cứu của Bristow và cộng sự đã phát hiện ra rằng không tuân thủ hướng dẫn tiêu chuẩn về điều trị ung thư buồng trứng giai đoạn muộn làm tăng nguy cơ tử vong của bệnh lên đến 69%.
Các tác giả cũng nhận thấy rằng tình trạng kinh tế thấp và chủng tộc da đen là các yếu tố nguy cơ độc lập cho việc không tuân thủ hướng dẫn điều trị tiêu chuẩn [14]. Dịch tễ học ung thư nội mạc tử cung Người ta dự đoán rằng 63.230 phụ nữ sẽ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư nội mạc tử cung, đôi khi được gọi là ung thư tử cung, và 11.350 phụ nữ sẽ chết vì nó vào năm 2018 [37]. Đây là chẩn đoán phổ biến nhất của các loại ung thư phụ khoa và ung thư phổ biến thứ tư được chẩn đoán ở phụ nữ [27]. Ung thư nội mạc tử cung thường được chẩn đoán ở phụ nữ trong độ tuổi từ 55 đến 64, ở độ tuổi trung bình là 62 tuổi [26].
Một lý do cho tỷ lệ mắc bệnh gia tăng ở những người lớn tuổi là do chỉ số khối cơ thể cao là một yếu tố nguy cơ của loại ung thư này, có thể do mô mỡ là nguồn gốc của estrogen [34]. Phụ nữ da đen có tỷ lệ béo phì cao hơn phụ nữ da trắng, điều này có thể góp phần làm tăng tỷ lệ mắc bệnh cho phụ nữ da đen [34]. Một thủ phạm tiềm năng khác làm tăng tỷ lệ mắc bệnh ung thư nội mạc tử cung là giảm sử dụng liệu pháp thay thế hormone để quản lý thời kỳ mãn kinh [16]. Dịch tễ học ung thư âm đạo và âm hộ Tại Mỹ, ung thư âm đạo và âm hộ hiếm gặp hơn, chỉ chiếm tỷ lệ 6% - 7% của tất cả các bệnh ung thư phụ khoa được chẩn đoán ở phụ nữ.300 phụ nữ ở Mỹ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư âm đạo 10 [27].
Tuổi chẩn đoán trung bình là 67 tuổi. 90% ung thư âm đạo và tiền ung thư có liên quan đến các chủng HPV nguy cơ cao [28].330 phụ nữ sẽ chết vì ung thư âm đạo và các bộ phận sinh dục nữ khác trong năm 2018 [37].