Chương 1 giới thiệu. Chương 2 tổng quan các nghiên cứu trước đây về FDI và tăng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trưởng kinh tế. Chương 3 phương pháp nghiên cứu. Chương 4 trình bày kết quả hồi quy.
Chương 5 tổng kết, khuyến nghị, chỉ ra những mặt hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Lý thuyết về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng Mô hình tăng trưởng Solow là một mô hình về cơ chế tăng trưởng kinh tế do Robert Solow và Trevor Swan (1956) xây dựng rồi được các học giả kinh tế khác bổ sung. Solow đã nhận được giải Nobel về kinh tế năm 1987 nhờ cống hiến này. Mô hình này còn gọi là Mô hình tăng trưởng tân cổ điển vì một số giả thiết của mô hình dựa theo lý luận của kinh tế học tân cổ điển.
Mô hình này còn có cách gọi khác, đó là mô hình tăng trưởng ngoại sinh, bởi vì không liên quan đến các nhân tố bên trong, cuối cùng tăng trưởng của một nền kinh tế sẽ hội tụ về một tốc độ nhất định ở trạng thái bền vững. Chỉ các yếu tố bên ngoài, đó là công nghệ và tốc độ tăng trưởng lao động mới thay đổi được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái bền vững. Mô hình tăng trưởng Solow mở rộng mô hình tăng trưởng của Harrod– Domar (1946) bằng việc thêm vào lao động như là một yếu tố sản xuất, và tỉ lệ giữa lao động và vốn là không cố định. Điều này cho phép tách biệt giữa thâm dụng vốn và tiến trình công nghệ.
Mô hình này dựa trên một số giả định sau: Giá cả linh hoạt trong dài hạn. Đây là một quan điểm của kinh tế học tân cổ điển. Khi này, lao động L được sử dụng hoàn toàn, và nền kinh tế tăng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trưởng hết mức tiềm năng và ổn định. Đồng thời toàn bộ tiết kiệm sẽ chuyển hóa thành đầu tư.
Mức sản lượng thực tế Y phụ thuộc vào lượng lao động L, lượng tư bản K vài năng suất lao động A. Từ đó, ta có một hàm sản xuất vĩ mô Y = F(A,L,K). Giả thiết là hàm này có dạng Cobb-Douglas, tức là: Nền kinh tế đóng cửa và không có sự can thiệp của Chính phủ. Có sự khấu hao tư bản.
Khi có đầu tư mới, trữ lượng vốn tăng lên. Nhưng đồng thời, vốn cũng bị khấu hao theo thời gian. Khi đó lượng vốn mới có sẽ bằng lượng vốn mới tạo ra từ đầu tư, trừ đi các khoản hao mòn. Tư bản K và lao động L tuân theo Quy luật lợi tức biên giảm dần.
Có nghĩa là khi tăng k thì ban đầu y tăng rất nhanh đến một lúc nào đó nó tăng chậm lại. Một số kết luận của mô hình Solow: Đầu tiên, mô hình này chỉ ra trạng thái dừng của nền kinh tế. Trạng thái dừng là điểm cân bằng mà ở đó lượng vốn giữ nguyên không đổi, bởi vì lượng đầu tư để tạo ra vốn mới mỗi năm chỉ đủ để bù trừ phần vốn bị hao mòn. Khi vốn không tăng thì sản lượng cũng sẽ không tăng.
Vì vậy, ở trạng thái dừng, lượng vốn trên một lao động là cố định, và sản lượng trên một lao động là cố định. Vốn và lao động không tăng thì tổng sản lượng cũng là cố định. Đây là hệ quả của hàm sản xuất có hiệu suất biên giảm dần. Nếu vốn tiếp tục tăng, sản lượng sẽ tăng nhưng với tốc độ giảm dần.
Do vậy, thu nhập dành cho tiết kiệm cũng tăng với tốc độ giảm dần, và đầu tư tăng cũng với tốc độ giảm dần. Vì vậy, luôn luôn tồn tại một “trạng thái dừng” của nền kinh tế, nơi mà mọi biến số đều TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hội tụ về một giá trị cố định. Như vậy, mô hình Solow dự đoán rằng những nước có tăng trưởng dân số cao hơn sẽ có mức vốn và thu nhập trên lao động thấp hơn trong dài hạn. Mô hình giải thích được sự tăng trưởng đều đặn của thu nhập bình quân một số nước là do tốc độ tăng trưởng về công nghệ.
Còn tốc độ tăng trưởng tổng sản lượng Y là do tăng trưởng lao động và tăng trưởng công nghệ kết hợp.2 Lý thuyết về các nhân tố hấp thụ dòng vốn FDI 2.1 Mô hình chiết trung-mô hình OLI Học thuyết này được phát triển bởi Dunning (1980) kế thừa tất cả những ưu điểm của các học thuyết khác về FDI. Một công ty có lợi thế tiến hành FDI khi có lợi thế về OLI, trong đó: O: Lợi thế về sở hữu bao gồm lợi thế cạnh tranh về thương hiệu, kĩ thuật sản xuất, hiệu suất theo quy mô. L: Lợi thế về khu vực bao gồm tài nguyên, quy mô, sự tăng trưởng của thị trường, chất lượng cơ sở hạ tầng và các chính sách chính phủ. I : Lợi thế về nội bộ hóa gồm cắt giảm chi phí ký kết, kiểm soát và thực hiện hợp đồng; tránh được sự thiếu thông tin dẫn đến chi phí cao cho các công ty; tránh được chi phí thực hiện các bản quyền phát minh, sáng chế.
\ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguồn: Dunning (1981) Các loại lợi thế Sở hữu Khu vực Nội bộ hóa Hình thức Cấp phép Có Không Không thâm nhập Xuất khẩu Có Có Không thị trường FDI Có Có Có 2.2 Vai trò của thị trường tài chính trong mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Phần này tôi sẽ trình bày khung lý thuyết của Niels Hermes và Robert Lensink (2003), “Foreign direct investment, financial development and economic growth” được đăng trên tạp chí The Journal of Development Studies về vai trò của hệ thống tài chính được xem như một nhân tố hấp thụ dòng vốn FDI. Mô hình của các ông dựa trên giả định rằng tiến trình công nghệ được thực hiện thông qua các hàng hóa vốn sẵn có2 của xã hội. Trong xã hội bao gồm nhà sản xuất, người phát minh và người tiêu dùng. Mỗi nhà sản xuất thuê N hàng hóa vốn khác nhau để tạo ra một loại hàng hóa vốn (phát minh).
Nhà sản xuất có quyền sở hữu độc quyền về sự sản xuất và bán các loại hàng hóa vốn này (phát minh). Giá bán các phát minh Pj được xác định bằng cách tối đa hóa giá trị hiện tại của lợi nhuận từ việc phát minh, (và sản xuất trong các thời kì), V(t). Barro và Sala-I-Martin (1995), giả định rằng không có rào cản gia nhập của các nhà phát minh, và chỉ ra điểm cân bằng với R&D dương (tại chi phí và tăng N, tỉ suất sinh lợi cố định được xác định như sau: 2 Hàng hóa vốn được tạo ra bởi xã hội thông qua tiết kiệm tài sản và có thể đầu tư vào phương tiện sản xuất. Trong thuật ngữ kinh tế, hàng hóa vốn có thể được xem là hữu hình.
Chúng được sử dụng để sản xuất hàng hóa hay dịch vụ trong một thời gian nhất định. Chủ sở hữu của hàng hóa vốn có thể là có nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp hay chính phủ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong đó, đo lường tỉ trọng vốn trong thu nhập (tương tự như hệ số trong phương trình Cobb-Douglas) và L là lao động đầu vào. FDI được đưa vào trong mô hình với giả định là tồn tại chi phí nâng cấp cố định là 1, và chi phí thiết lập cố định ban đầu (chi phí R&D, Chi phí nghiên cứu một hàng hóa (chi phí phát minh) được giả định là như nhau đối với tất cả các hàng hóa.
Theo Borensztein (1998), các chi phí R&D phụ thuộc vào FDI: FDI tăng dẫn đến chi phí phát minh giảm. Điều này phản ánh rằng việc đầu tư vào “bắt chước công nghệ” thì rẻ hơn là đầu tư vào phát minh công nghệ mới, và khả năng bắt chước tăng lên khi mà càng có nhiều hàng hóa được sản xuất ở nước ngoài. Vì thế, chi phí phát minh ( sử dụng FDI=F) là một hàm nghịch biến với FDI: = f(F), F < 0. Tác động của khu vực tài chính trong trong mô hình thông qua A.
Điều dễ hiểu rằng hệ thống tài chính có thể làm tăng tỉ lệ tăng trưởng bằng cách củng cố mức trung bình của công nghệ (xem bên dưới). Vì thế, A là hàm của sự phát triển hệ thống tài chính (H); A=h(H), H > 0. Điều này có nghĩa là: Để liên kết các vấn đề trên với tăng trưởng kinh tế, tác giả xem xét về hành vi của hộ gia đình. Các hộ gia đình tối đa hóa độ hữu dụng của mình trong giới hạn ngân sách.
Trong điều kiện Euler nổi tiếng về tốc độ tăng trưởng tiêu dùng, gc = (1-r-trong đó là độ nhạy cảm của hữu dụng biên và là lãi suất chiết khấu. Trong giai đoạn ổn định thì tốc độ tăng trưởng tiêu dùng bằng tốc độ tăng trưởng đầu ra, g. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ phương trình (2), ta suy ra: Điều dễ dàng thấy là FDI tăng sẽ dẫn đến tốc độ tăng trưởng đầu ra tăng và tác động của FDI phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của hệ thống tài chính. FDI tăng làm giảm chi phí thiết lập (đối với sự thích ứng công nghệ) và làm tăng tỉ suất sinh lợi trên tài sản (r).
Từ đó làm tăng tiết kiệm và vì thế làm tăng tốc độ tăng trưởng tiêu dùng và đầu ra. Tác động này càng lớn hơn khi mức độ công nghệ của một nước càng cao, và hệ thống tài chính phát triển hơn. Giả định chính yếu của mô hình trên là hệ thống tài chính nội địa tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua mức độ công nghệ. Cụ thể như sau: Đầu tiên, hệ thống tài chính tác động đến hiệu quả phân phối của các nguồn lực tài chính đối với các dự án đầu tư.
Vì thế, hệ thống tài chính đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thông qua hai kênh truyền dẫn. Một mặt, hệ thống tài chính huy động tiết kiệm, điều này làm tăng nguồn lực cho đầu tư. Mặt khác, nó kiểm tra và giám sát các dự án đầu tư (làm giảm chi phí thu thập thông tin); điều này làm tăng hiệu quả của các dự án đầu tư (Greenwood và Jovanovic, 1990); (Levine, 1991); (Saint-Paul, 1992). Hệ thống tài chính càng phát triển, nó càng giúp huy động tiết kiệm, kiểm tra và giám sát các dự án đầu tư, và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, các dự án đầu tư liên quan đến việc nâng cấp hay phát triển một công nghệ mới thì rủi ro hơn các dự án đầu tư khác.