Tổng quan dược liệu ức chế ung thư: Khóa luận của Bùi Thị Thùy Dung

Khóa luận tổng quan thành phần hóa học, tác dụng sinh học của 11 dược liệu ức chế tế bào ung thư như Trinh nữ hoàng cung, Nấm Linh chi, Giảo cổ lam.

Chuyên ngành

Dược Sĩ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

229
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ung thư và vai trò của dược liệu

Ung thư hiện đang là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới, với số ca mắc mới và tử vong gia tăng đáng kể qua từng năm. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh ung thư đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người và tạo ra gánh nặng nghiêm trọng về kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, việc tìm kiếm các phương pháp điều trị ung thư hiệu quả và an toàn là ưu tiên hàng đầu của y học hiện đại. Dược liệu ức chế ung thư từ thiên nhiên đã được chứng minh có tác dụng hỗ trợ điều trị, với ít tác dụng phụ hơn so với các phương pháp hóa trị truyền thống.

1.1. Khái niệm ung thư theo y học hiện đại

Ung thư là bệnh lý do sự tăng sinh bất thường và mất kiểm soát của các tế bào ác tính. Các tế bào này có khả năng xâm lấn các mô lân cận và di căn đến các cơ quan khác. Theo y học hiện đại, ung thư là kết quả của các thay đổi di truyền và môi trường tích lũy, dẫn đến mất kiểm soát chu kỳ tế bào và sự chết tế bào theo chương trình (apoptosis).

1.2. Nhìn nhận về ung thư trong y học cổ truyền

Trong y học cổ truyền Việt Nam, ung thư được coi là hậu quả của sự mất cân bằng giữa khí, huyết và các chất lỏng cơ thể. Các dương liệu cổ truyền có tác dụng hỗ trợ điều trị bằng cách tăng cường miễn dịch, giải độc cơ thể và cân bằng chức năng các cơ quan nội tạng.

II. 11 dược liệu ức chế ung thư tiêu biểu

Trong số hàng trăm loại dược liệu có tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư, 11 loại dưới đây được coi là những dược liệu chủ lực với hiệu quả ức chế tế bào ung thư được chứng minh bằng nghiên cứu khoa học: Bạch hoa xà thiệt thảo, Bảy lá một hoa, Đại thanh diệp, Nấm Linh chi, Náng hoa trắng, Cỏ nhọ nồi, Cốt khí củ, Giảo cổ lam, Hạ khô thảo, Kim ngân hoa và Trinh nữ hoàng cung. Mỗi loại dược liệu này chứa những thành phần hoạt chất đặc biệt giúp ức chế sự phát triển của tế bào ung thư thông qua các cơ chế sinh học khác nhau.

2.1. Nhóm dược liệu từ thảo dược

Nhóm này bao gồm Bạch hoa xà thiệt thảo, Kim ngân hoaHạ khô thảo. Các dược liệu này chứa nhiều flavonoid, polyphenol và glycoside - những chất có khả năng chống oxy hóa mạnh và kích thích apoptosis (chết tế bào theo chương trình). Chúng giúp ngăn chặn sự tăng sinh bất thường của tế bào ung thư.

2.2. Nhóm dược liệu từ nấm và theo dõi

Nấm Linh chiCốt khí củ là những loại dược liệu tăng cường miễn dịch hiệu quả. Chúng chứa các polysaccharide (đa đường)beta-glucan kích thích hệ thống miễn dịch, giúp cơ thể nhận diện và tiêu diệt các tế bào ung thư.

III. Thành phần hóa học chính trong dược liệu ức chế ung thư

Thành phần hóa học của các dược liệu ức chế ung thư rất đa dạng và phong phú. Những chất chính có tác dụng chống ung thư bao gồm: alkaloid, flavonoid, polyphenol, steroid, terpenoid, polysaccharide và các chất chống oxy hóa khác. Mỗi nhóm chất này có cơ chế tác dụng khác nhau, nhưng tất cả đều hướng tới ức chế sự tăng sinh tế bào ung thưkích thích apoptosis. Các nghiên cứu hiện đại cho thấy, dược liệu kết hợp thường có tác dụng synergistic mạnh hơn so với sử dụng dược liệu đơn lẻ.

3.1. Chất flavonoid và polyphenol

Các chất flavonoid tìm thấy abundantly trong Kim ngân hoaBảy lá một hoa có tác dụng chống oxy hóa mạnh mẽ. Polyphenol giúp tiêu diệt gốc tự docấn chế sự phát triển của tế bào ung thư bằng cách can thiệp vào các đường dẫn truyền tín hiệu tế bào.

3.2. Polysaccharide và beta glucan

Polysaccharide từ Nấm Linh chiCốt khí củ có khả năng kích thích các tế bào miễn dịch như T lymphocyte và macrophage. Những tế bào này có khả năng nhận diện và phá hủy các tế bào ung thư hiệu quả, từ đó nâng cao sức đề kháng của cơ thể.

IV. Cơ chế tác dụng sinh học và ứng dụng lâm sàng

Dược liệu ức chế ung thư hoạt động thông qua nhiều cơ chế sinh học khác nhau. Các cơ chế chính bao gồm: kích thích apoptosis (chết tế bào theo chương trình), ức chế tăng sinh tế bào, chống oxy hóa, chống viêm, tăng cường miễn dịchức chế angiogenesis (hình thành mạch máu nuôi khối u). Trong ứng dụng lâm sàng, các dược liệu này thường được kết hợp với các phương pháp điều trị truyền thống như hóa trị, xạ trị để tăng hiệu quả điều trịgiảm tác dụng phụ của các phương pháp này.

4.1. Cơ chế ức chế tăng sinh tế bào

Các chất hoạt động sinh học trong dược liệu giúp ức chế chu kỳ tế bào ở các giai đoạn G1/S hoặc G2/M. Điều này làm cho tế bào ung thư không thể phân chia và cuối cùng chết đi. Alkaloidterpenoid đặc biệt hiệu quả trong cơ chế này.

4.2. Ứng dụng lâm sàng và hiệu quả điều trị

Các dương liệu ức chế ung thư được sử dụng rộng rãi trong chương trình hỗ trợ điều trị ung thư tại các bệnh viện. Chúng giúp giảm tác dụng phụ của hóa trị, tăng cường miễn dịch, cải thiện chất lượng cuộc sốngkéo dài thời gian sống sót của bệnh nhân.

28/12/2025
Bùi thị thùy dung tổng quan về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của một số dược liệu có tác dụng ức chế tế bào ung thư khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN 1. ĐỐI TƯỢNG Các tài liệu bao gồm y văn, sách, bài báo khoa học (trong nước và quốc tế) về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của các dược liệu có tác dụng ức chế tế bào ung thư. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Phương pháp thu thập thông tin Bước 1: Xác định mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Mục tiêu: Tổng hợp và phân tích các tài liệu khoa học về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của dược liệu có tác dụng ức chế tế bào ung thư.

Câu hỏi nghiên cứu: - Dược liệu nào được báo cáo là có tác dụng ức chế tế bào ung thư? - Những thành phần hóa học nào trong các dược liệu trên liên quan đến tác dụng ức chế tế bào ung thư? - Cơ chế tác dụng sinh học được ghi nhận là gì? Dựa trên kết quả lâm sàng nào? Bước 2: Xác định phạm vi nghiên cứu - Tập trung vào các tài liệu khoa học công bố vào khoảng 20 năm gần đây để đảm bảo tính cập nhật (bao gồm các nghiên cứu về dược liệu tại Việt Nam và Quốc tế). Bước 3: Thu thập thông tin Nguồn tài liệu: - Cơ sở dữ liệu khoa học: Sử dụng PubMed, ScienceDirect, Google Scholar để tìm các bài báo liên quan đến thành phần hóa học và tác dụng sinh học của dược liệu. - Tài liệu trong nước: Tạp chí khoa học Việt Nam, cơ sở dữ liệu của các trường đại học, viện nghiên cứu. - Sách và tài liệu tham khảo: Sách chuyên khảo về dược liệu từ các trường đại học hoặc thư viện trường Đại học Dược Hà Nội.

Xác định từ khóa tìm kiếm: - Tiếng Anh: “medicinal plants”, “chemical composition”, “biological activity”, “anticancer”, “cancer treatment”, “phytochemicals”, “herbal medicine”. - Tiếng Việt: “dược liệu”, “thành phần hóa học”, “tác dụng sinh học”. 3 Tiêu chí lựa chọn tài liệu: - Các bài báo, sách, tài liệu có nội dung về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của dược liệu được công bố trên các nguồn uy tín, có độ tin cậy cao và có bằng chứng khoa học đầy đủ. Tiêu chí loại trừ: - Các tài liệu không rõ nguồn gốc, không có dữ liệu thực nghiệm, không liên quan trực tiếp đến tác dụng ức chế tế bào ung thư.

Quy trình thu thập: - Tìm kiếm tài liệu theo từ khóa - Sàng lọc tiêu đề và tóm tắt để lựa chọn ra tài liệu phù hợp. - Đọc toàn văn để xác định chính xác các tài liệu đáp ứng đủ các tiêu chí. Phương pháp xử lý thông tin Phân tích tài liệu: - Phân tích thành phần hóa học: Tổng hợp các hợp chất hóa học được báo cáo và tác dụng sinh học tương ứng của chúng. - Phân tích tác dụng sinh học: Tổng hợp các tác dụng sinh học của dược liệu và thành phần hóa học của chúng.

Tổng hợp và hệ thống hóa tài liệu: - Lập bảng: Tổng hợp danh sách dược liệu, thành phần hóa học và tác dụng sinh học của 27 dược liệu 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ UNG THƯ 2. THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI 2. Khái niệm Ung thư là sự tăng sinh không kiểm soát của các tế bào trong cơ thể [4]. Những tế bào này có khả năng xâm lấn và phá hủy các tổ chức xung quanh.

Đồng thời di cư và đến phát triển ở nhiều cơ quan khác nhau rồi hình thành di căn [5]. Hiện có hơn 200 loại ung thư khác nhau trên cơ thể người có những đặc điểm giống nhau về bản chất nhưng khác nhau về nguyên nhân, tiến triển, phương pháp điều trị và tiên lượng bệnh [6]. Nguyên nhân Có thể chia các nguyên nhân gây ung thư ra thành 2 nhóm lớn: Nguyên nhân bên ngoài và nguyên nhân bên trong [7]. Nguyên nhân bên ngoài Tác nhân vật lý: Do tia phóng xạ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên DNA làm thay đổi cấu trục DNA dẫn đến điều kiện hình thành một số bệnh di truyền và ung thư [7].

Tác nhân hóa học: Hóa chất từ môi trường, thức ăn, chiến tranh… [7]. Tác nhân sinh học: Chủ yếu do virus, bao gồm: Virus viêm gan B, C, virus gây u nhú ở người (HPV). Ngoài ra, sán Schistosoma và vi khuẩn Helicobacter polyri (HP) [7]. Nguyên nhân bên trong Nội tiết tố: Enzym và chất vi lượng.

Một số ion như Fe2+, Cu2+ có nồng độ cao dễ gây tác nước, tạo thành gốc superoxyd gây độc cho cơ thể hoặc hoạt động của enzym SOD bị giảm sút cũng có thể gây ung thư [5]. Các gốc tự do: Có hoạt tính sinh học mạnh, phản ứng nhanh nên dễ gây tổn thương DNA [5]. Các yếu tố di truyền: Chiếm từ 5 – 10% của các loại ung thư do xuất hiện gen đột biến được di truyền từ cha mẹ [5]. Suy giảm miễn dịch và AIDS: Làm tăng nguy cơ nhiễm các loại virus [5].Cơ chế Quá trình phát triển ung thư liên quan đến tổn thương 2 nhóm gen: Gen sinh ung thư (Oncogenes) và gen kháng ung thư (Tumor suppressor genes) [6], [7].

Ngoài ra 5 còn liên quan đến gen sửa chữa các tổn thương DNA và gen điều hòa chết tế bào theo chương trình [7]. Gen sinh ung thư: Tổng hợp ra protein đóng góp vào sinh ung thư [6]. Khi đột biến sẽ gây ra sự tăng sinh không kiểm soát được và tiền gen sinh ung thư trở thành gen sinh ung thư. Hiện nay có trên 50 loại gen sinh ung thư đã được phát hiện: APC, myc, ras,… [7], [8].

Gen kháng ung thư: Mã hóa cho những protein kiểm soát phân bào làm chu kỳ phân bào bị dừng lại ở một pha, thường ở pha G1 [7]. Khi bị đột biến sẽ làm biến đổi tế bào lành thành tế bào ác tính. Hiện nay phát hiện được: BRCA-1, BRCA-2, NF-1, NF-2,… [6]. Gen điều hòa chết tế bào theo chương trình: Một số gen như bcl-2, bcl-xL, bcl-xS, p53 và myc [7].

Sự chết theo chương trình của tế bào (apoptosis) giữ vai trò quan trọng trong nhiều bệnh: Điều hòa trực tiếp sự phát triển của khối u, góp phần ngăn chặn hay làm chậm sự phát triển của bệnh AIDS [8], [9], [10]. Gen sửa chữa DNA: Các gen này duy trì sự toàn vẹn của bộ gen. Bản thân các gen sửa chữa DNA không gây ung thư nhưng chúng cho phép xuất hiện các đột biến trong các gen khác trong quá trình phân chia tế bào bình thường [7]. Nguyên tắc Do ung thư là một căn bệnh phát triển trong một thời gian tương đối dài kể từ khi khởi phát từ một tế bào ban đầu, nên điều trị bệnh là hoàn toàn có thể.

Tuy nhiên, khi bệnh ở giai đoạn di căn thì việc điều trị sẽ rất khó khăn và tỷ lệ tử vong cao. Vì thế việc điều trị bệnh được thực hiện càng sớm càng tốt [11]. Phương pháp điều trị Phẫu thuật: Phẫu thuật ung thư có thể được dùng để chẩn đoán, điều trị, xác định giai đoạn bệnh hoặc làm giảm các triệu chứng do ung thư gây ra. Phẫu thuật có thể là điều trị duy nhất hoặc có thể phối hợp với các phương pháp điều trị khác như xạ trị, hóa trị, liệu pháp hormon và liệu pháp sinh học [12].

Xạ trị: Là phương pháp sử dụng nguồn năng lượng cao từ tia X, tia γ, neutron và các nguồn phóng xạ khác để tiêu diệt tế bào ung thư và các khối u. Một số tác dụng không mong muốn thường gặp của xạ trị là mệt mỏi, chán ăn, khô và bong da, viêm loét niêm mạc, giảm các dòng bạch cầu, tiểu cầu, hồng cầu [12], [13]. Sử dụng hóa chất: Là phương pháp sử dụng hóa chất có khả năng tiêu diệt hoặc ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư. Hiện nay có khoảng 200 loại thuốc chống 6 ung thư được sử dụng trên lâm sàng và được phân chia thành các nhóm như nhóm alkyl hóa, nhóm thuốc chống chuyển hoá, nhóm thuốc ức chế sự phân bào, nhóm kháng sinh kháng ung thư [14], [15].

Nội tiết: Điều trị nội tiết đóng vai trò quan trọng trong chiến lược điều trị một số loại ung thư, đặc biệt là các ung thư đặc trưng liên quan đến giới. Điều trị miễn dịch (Miễn dịch trị liệu): Là sử dụng các thuốc làm thay đổi sự tương tác qua lại giữa vật chủ và khối u từ đó mà có tác dụng chống u [15], [16]. Điều trị trúng đích: Các thuốc trúng đích gồm: Imatinib, Nilotinib, Sorafenib… (có tác dụng ức chế protein kinas), Bevacizumab (có tác dụng ức chế tăng sinh mạch của khối u)…[7]. THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN 2.

Khái niệm Trong y học cổ truyền (YHCT), danh từ “Ung thư” dùng để chỉ các loại ung nhọt phát sinh cấp tính (ung), hoặc mạn tính (thư) [17]. Trong các sách “Linh khu”, “Chư bệnh nguyên hậu luận” đã có những khái niệm như “thạch thư” mô tả giống ung thư xương hay “thạch ung” mô tả giống ung thư hạch. Sau triều đại Kim Nguyên ở Trung Quốc cho đến nay thường dùng cụm từ “Thũng lựu” để chỉ các loại ung thư nói chung, còn với loại ác tính thì dùng từ “Nham” (đá núi) vì bờ của khối u nham nhở và cứng như đá. Như vậy ung thư trong y học hiện đại thuộc nham chứng trong YHCT.

Yếu tố ngoại nhân Ngoại nhân là 6 yếu tố thời tiết ở môi trường xung quanh khi tác động đến con người một cách thái quá hoặc nhân khi cơ thể suy yếu mà xâm nhập vào cơ thể để gây ra bệnh gọi là lục dâm gồm: phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa [18]. Lục dâm phạm vào kinh lạc làm khí huyết bị trở trệ, lâu ngày không giải tỏa được dẫn đến kinh lạc bị ứ tắc, tà độc uất kết mà sinh bệnh. Trong sách “Linh khu – Cửu châm luận” có viết: “Gió tám hướng xâm phạm kinh lạc có thể sinh ra ung bướu”. Sách Y tông kim giám viết: “Hỏa ứ trệ thành độc mà gây bệnh”.

Còn theo sách Linh khu – Bách bệnh sử sinh thiên thì sự ứ trệ thường do hàn gây nên, ứ trệ lâu ngày sẽ sinh u. Sự phát sinh và phát triển của Nham chứng từ quan điểm tạng tượng, chính tà có quan hệ với các yếu tố di truyền, virus, yếu tố vi lượng, dinh dưỡng, ô nhiễm môi trường,….Những điều này hoàn toàn phù hợp của quan điểm của YHHĐ cho rằng hoàn cảnh sống (ngoại tà), thói quen sinh hoạt đều liên quan đến việc hình thành khối u như 7 bức xạ mặt trời, hóa chất, chất phóng xạ, ăn uống phải thức ăn nhiễm độc thuốc trừ sâu, chất phụ gia, chất bảo quản…[7]. Yếu tố nội nhân Nội nhân là 7 trạng thái tình cảm của con người bao gồm hỉ, nộ, ưu, tư, bi, kinh, khủng, khi phát triển quả mức sẽ trở thành yếu tố gây bệnh. YHCT gọi là thất tình [18].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ