Chương 1: Cơ sở lý luận về động lực làm việc của công chức cấp xã. Chương 2: Thực trạng động lực làm việc của công chức cấp xã, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 3: Quan điểm và một số giải pháp nâng cao động lực làm việc của công chức cấp xã, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. 7 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.
Quan niệm về động lực làm việc của công chức cấp xã 1. Công chức cấp xã 1. Khái niệm - Cấp xã: Thuật ngữ đơn vị hành chính cấp xã được dùng để chỉ toàn bộ cấp đơn vị hành chính thấp nhất của Việt Nam, nghĩa là bao gồm cả xã, phường và thị trấn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính.
Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi” [14, tr. Phân cấp hành chính Việt Nam hiện nay theo Điều 110, Hiến pháp 2013 và Điều 2, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015: Điều 110. Hiến pháp năm 2013: “Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau [22]: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường”. Điều 2, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 [24]: “Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); 8 Luan van Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện); Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); Như vậy, nước ta có 4 cấp hành chính, đó là cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã.
Qua đó ta nhận thấy, xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là đơn vị hành chính thấp nhất trong phân định các đơn vị hành chính ở Việt Nam. Song, đơn vị hành chính cấp xã là đơn vị hành chính cơ bản, cấu thành nên đơn vị hành chính cấp huyện, cấp tỉnh và cả quốc gia. Do vậy, trong nhiều tài liệu, sách báo, cấp xã còn được gọi là “cấp cơ sở”. Cấp xã là cấp chính quyền trực tiếp thực hiện bảo đảm, giải quyết và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong QLNN phải được thể hiện ở hoạt động của chính quyền cấp xã, thông qua chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ.
Tóm lại, cấp xã là cấp hành chính thấp nhất trong hệ thống tổ chức hành chính của nhà nước ta; Là đơn vị hành chính cơ bản, cấu thành nên đơn vị hành chính cấp huyện, cấp tỉnh và cả quốc gia. - Công chức: Ở Việt Nam, theo quy định tại khoản 2, điều 4, Luật Cán bộ công chức năm 2008: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn 9 Luan van vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [23]. Như vậy, trong khái niệm trên, công chức có các dấu hiệu sau đây: Thứ nhất, là công dân Việt Nam; Thứ hai, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh của cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; Thứ ba, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách (trừ công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật). Khái niệm “công chức” trên đây được Luật Cán bộ, công chức năm 2008 phân biệt với khái niệm “công chức xã”.
- Khái niệm công chức cấp xã: Theo quy định tại khoản 3, điều 4, Luật Cán bộ công chức năm 2008: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [23]. Khoản 3, điều 61 Luật Cán bộ công chức năm 2008 quy định [23]: Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: - Trưởng Công an; - Chỉ huy trưởng Quân sự; 10 Luan van - Văn phòng - thống kê; - Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); - Tài chính - kế toán; - Tư pháp - hộ tịch; - Văn hóa - xã hội. Tóm lại, công chức cấp xã là công dân Việt Nam, được tuyển dụng đảm nhiệm các chức danh chuyên môn thuộc UBND cấp xã, thực hiện chức năng QLNN ở địa phương, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đặc điểm của công chức cấp xã Công chức cấp xã có những đặc điểm cơ bản của đội ngũ CBCC trong nền công vụ Việt Nam, cụ thể: Thứ nhất, công chức là công dân Việt Nam Thứ hai, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh và làm việc liên tục trong cơ quan Nhà nước Thứ ba, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các chế độ có liên quan theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, do vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã nên CCCX có những đặc điểm mang tính đặc thù như sau: Một là, về tiêu chuẩn đối với công chức cấp xã. CCCX cần phải đáp ứng những yêu cầu nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, phẩm chất đạo đức… nhằm thực thi các hoạt động, nhiệm vụ được giao. Theo quy định tại khoản 1, Điều 1, Thông tư số 13/2019/TT-BCA hướng dẫn một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố quy định [1]: “Công chức cấp xã phải có đủ các tiêu chuẩn chung quy định tại Điều 3, Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn và các tiêu chuẩn 11 Luan van cụ thể như sau [4]: Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên; Trình độ giáo dục phổ thông: Tốt nghiệp trung học phổ thông; Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Tốt nghiệp đại học trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng chức danh công chức cấp xã; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ từ trung cấp trở lên đối với công chức làm việc tại các xã: miền núi, vùng cao, biên giới, hải đảo, xã đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Trình độ tin học: Được cấp chứng chỉ sử dụng công nghệ thông tin theo chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản quy định tại Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11 tháng 3 năm 2014 của Bộ Thông tin và truyền thông”, về việc quy định cụ thể yêu cầu tuyển dụng đối với CCCX ngày càng cao để có thể đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng giải quyết công việc cho người dân. Ngoài ra, Thông tư này cũng quy định tại khoản 3, điều 1: “Các quy định tại Nghị định số 34/2019/NĐ-CP [5] và Thông tư này là căn cứ để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện tổ chức thực hiện việc quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, thực hiện các chế độ, chính sách hoặc thực hiện tinh giản biên chế.
Đối với công chức đã tuyển dụng trước khi Thông tư này có hiệu lực thi hành mà chưa đạt đủ tiêu chuẩn theo quy định tại khoản 1 điều này thì trong thời hạn 05 năm kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành phải đáp ứng đủ theo quy định” [1]. Trên cơ sở quy định trên Uỷ ban nhân dân các tỉnh chủ động xây dựng các bộ tiêu chí phù hợp với các quy định của Thông tư. Hai là, hầu hết CCCX là người địa phương, sinh sống tại địa phương, am hiểu về văn hóa, phong tục tập quán, nắm rõ được tâm tư, nguyện vọng của người dân. Vì vậy, tạo điều kiện thuận lợi cho CCCX thực hiện công tác QLNN tại địa phương.
Tuy nhiên, đặc điểm này cũng tồn tại một số hạn chế. Vì là người địa phương nên cũng dễ bị chi phối bởi mối quan hệ tình cảm 12 Luan van “một trăm cái lý không bằng một tý cái tình” nên cũng sẽ ảnh hưởng đến quá trình thực thi công vụ của CCCX. Từ đó có thể dẫn tới tâm lý nể nang ảnh hưởng tới hiệu lực, hiệu quả trong QLNN. Ba là, CCCX là người trực tiếp làm việc với người dân, gần dân nhất; trực tiếp tham gia tổ chức các hoạt động quản lý, điều hành các công việc hành chính và tổ chức thi hành pháp luật ở xã, phường, thị trấn.
CCCX trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác. Ngoài ra, mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều do đội ngũ CCCX phổ biến, triển khai đến người dân, để người dân hiểu và thực hiện đúng. Vì vậy, việc nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn đối với CCCX cũng cần phải được quan tâm sâu sắc. Bốn là, CCCX phải đảm nhiệm nhiều công việc chuyên môn.