chương 1. Thân thế, cuộc đời Tan Đà xuất thân trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc phong kiến có nhiều người đỗ đạt và làm quan to nhưng đến cha ông, gia đình bắt đầu suy tàn. Cha Tản Đà là cụ Nguyễn Danh Kế, đỗ Cử nhân, làm Tri huyện Nam Sang, Tri phủ Lý Nhân, Xuân Trường, thăng đến chức An sat (Ninh Bình) thì về hưu. Sinh thời, cụ nổi tiếng là một ông quan liêm khiết ** Teng tip văn học Việt Nam, lập XX.
Trung tim Khoa hoe và Xã hội nhãn vin quốc gia - Khoa học Xã hội 2000.S Nguyễn Thanh Thi -10- SVTH : Pham Thị Thiy Hang Bude đầu tìm hiểu đóng góp của Tản Đà. nhưng rất tài tử, phong lưu. Mẹ Tần Đà là bà Nhữ Thị Nghiêm, xuất thân từ xóm Bình Khang, một thời nổi danh tài sắc. Cha và mẹ là hai người có ảnh hưởng lớn đến tài năng, tính cách và bản chất phong tình của Tản Đà.
Cuộc đời Tản Đà ba chìm bảy nổi, rày đây mai đó. Ông sinh ra và sống trọn vẹn trong thời kỳ đen tối của xã hội thực dân phong kiến. Thêm vào đó, gia đình cũng có cảnh ngộ riêng. Năm ông lên ba tuổi, cha qua đời.
Một năm sau, mẹ trở lại chốn Bình Khang, tình mẫu tử bị chia la từ đó. Ông vẻ sống cùng người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Tái Tích. Ngay từ nhỏ, Tản Đà đã được dạy đỗ theo con đường “văn chương cit nghiệp". Ông rất sing bái đạo học Khổng - Mạnh và nuôi mộng nối gót cha anh trên con đường khoa hoạn.
Năm 19 tuổi, ông theo học trường Quy Thức, phố Gia Ngư, Hà Nội. Cũng năm ấy, Tản Đà quen biết và thầm yêu người đẹp ho Đỗ ở phố Hàng Bồ. Ông dùi mài kinh sử, những mong lập được công danh rồi quay về rước nàng nhưng mấy lần thi là mất lần thất bại (Thi hỏng liền hai khóa Kỷ Dậu (1909) và Nhâm Tí (1912)). Cay đắng trở về Hà Nội, ông chứng kiến cảnh người yêu cất bước theo chồng.
Thất chí lan thất tình, ông ôm một mối hận lòng bỏ lên vùng rừng núi Hòa Bình tìm quên lãng. Cũng từ đấy, Tản Đà bắt đầu sống những tháng ngày không ổn định. Anh rể Tản Đà là nhà thơ trào phúng Nguyễn Thiện Kế đón ông về ở nhà Bạch Thái Bưởi một thời gian. Tại đây, ông được tiếp xúc với “Tan thu”, tức là những sách có xu hướng tiến bộ ở phương Tây được người Trung Hoa dịch ra chữ Hán, Năm 27 tuổi, Tản Đà lập gia đình.
Sau khi người anh cả từ trần (1916), gia đình Tản Đà trở nên túng quan, “Không làm quan, cũng không muốn làm thay, Nguyễn Khắc Hiếu mạnh dan bước hẳn vào một nghề nghiệp mới : làm văn" ~°. Lúc dau, ông công tác với "Đông Dương tap chí", không bao lâu sang viết cho “Nam Tim [DDưựng Sd Te 33 GVHD :1.S Nguyễn Thành Thi -I1- SVTH : Pham Thị Thúy Hằng Bước đầu tìm hiểu đóng góp của Tản Đà. Năm 1921, ông được mời làm chủ bút tạp chí “Hữu Thanh” —cđ quan ngôn luận của hội "Trưng Bắc kỳ công nông thương tương tế” nhưng cũng chỉ nửa năm, ông xin từ chức vì có nhiều điểm bất đồng với Ban quản trị. Ông về quê it lâu rồi cùng hai người bạn là Đặng Đức Tô và Nguyễn Thượng Văn lập ra “Tản Đà thư cục” ở Hàng Gai (1922).
Năm 1925, nhân các phong trào chính trị đương làm chấn động xã hội (Phan Chu Trinh về Sài Gòn, Phan Bội Châu bị xử ở tòa án), Tản Đà đứng ra lập “An Nam tap chí” nhưng chẳng bao lâu, báo phải đình bản vì thiếu tiền, trong khoảng 1926 — 1927, Tản Đà cho ra mắt 10 số “An Nam tạp chí". Sau khi tạp chí bị đình bản, Tản Đà đi du lịch nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người : gặp Phan Bội Châu ở Huế, gặp Nguyễn Thái Học ở Hà Nội, thăm mộ Nguyễn Huệ ở Bình Định và hai lần vào Sài Gòn cộng tác với nhà báo Diệp Văn Kỳ. sau đó lại ra Bac tìm cách làm sống lại "An Nam tạp chí". Dù hết sức tâm huyết với tờ báo của mình nhưng lực bất tòng tâm, Tản Đà đành phải đau xót nhìn tờ báo chết đi trong quên lãng (1933).
Những năm cuối đời, văn chương ế ẩm, sinh kế khó khăn, Tản Đà phải xoay xd đủ mọi cách để kiếm sống. Ông nhận dich Đường thi cho báo “Ngày nay", chú thích quyển “Kim Vân Kiều ”, dịch “Liêu trai” cho nhà xuất bản “?ân Dan”. Viết mướn không đủ sống, ông mở lớp dạy học. Day học cũng không có học trò, ông xoay sang dùng nghề xem số Hà Lạc.
Nhưng xem bói vẫn không có khách. Cuối cùng vì thiếu tiền thuê nhà, ông bị chủ nhà đuổi, tịch thu đồ dạc. Tản Đà dọn ra vùng quê nghèo nàn cửa kinh thành Hà Nội và sống những ngày cuối đời trong cảnh cùng quẫn, bệnh tật. Ngày 7/6/1939 (cũng nhằm ngày 20/4 AL), ông lia tran tại căn nhà số 71 Ngã Tư Sở, Hà Nội (nay là nhà số 47 đường Nguyễn Trãi, Hà Nội), kết thúc trọn nửa thế kỷ của một kiếp “trích tiên ".
Sự nghiệp văn chương So với các tác gid đương thời, Tản Đà là người sáng tác lâu nam nhất. Với bút lực đôi đào. Tản Da để lại một sự nghiệp văn chương khá đồ GVHD :T.S Nguyễn Thành Thi -12- SVTH : Pham Thị Thúy Hằng Bước đầu tìm hiểu đóng góp của Tản Đà. ` = sộ với đóng góp ở nhiều lĩnh vực từ thơ ca, văn xuôi đến dịch thuật, báo chí.
Ngoài ra, ông còn viết tuéng hát, khảo cứu lịch sử, khảo cứu, bình luận van học. Về văn xuôi Tản Đà ở các tài liệu khác nhau có sự thiếu thống nhất về tên tác phẩm và nam xuất bản vì cùng một tác phẩm được các nhà xuất bản khác nhau in ở các thời điểm khác nhau và có khi đổi tên tác phẩm khi in lại. Để có sự thống nhất trong quá trình khảo sát, người viết có liệt kê tên tác phẩm kèm theo năm xuất bản lần dau tiên (va lan thứ hai nếu có đổi tên) và nhà xuất bản, nhà in ở phan phụ lục 1. Tất cả đều dẫn theo “Tản Đà toàn tap”, tập II do Nguyễn Khắc Xương sưu tim, biên soạn và ˆ giới thiệu “ˆ.
Vấn để thể loại trong các sáng tác văn xuôi của Tản Đà khá phức tạp. Quan niệm và cách phân chia các thể loại văn học thời Tản Đà và hiện nay có khác nhau. Trong “Giấc mộng con”, Tản Đà đã tự phân loại tác phẩm của mình như sau : Vanvan (thơ ca, từ khúc) Thuyết văn (tiểu thuyết) Kịchvăn (tuổng, chèo) Tản văn — (văn xuôi gồm thể chính và thể ngoại) Dich van (văn dịch) Cách phân loại của Tản Đà hiện nay không còn được sử dụng nữa chưa nói đến sự chủ quan, thiếu căn cứ lý luận rõ ràng. Trong bài viết "Vấn dé thé loại văn học trong sáng tác của Tản Đà", Lê Chí Dũng có để cập đến thơ văn “chính thống” và “phi chính thống".
Ông cho rằng Tản Đà đã cách tân các thể loại chính thống trong văn chương trung đại và sử dụng những thể loại phi chính thống “để phản GVHD :T.S Nguyễn Thành Thi -13- SVTH : Phạm Thị Thúy Hằng ánh cuộc sống thành thị dang ut sản hóa” ”. Để phù hợp với mục đích nghiên cứu của khóa luận, người viết dé xuất cách phân chia văn xuôi Tan Đà thành hai bộ phân : văn xuôi hư cấu và văn xuôi không hư cấu (dựa trên tiêu chí thủ pháp sáng tác và chất liệu trong các sáng tác). Những tác phẩm mà nhà văn dựa vào trí tưởng tượng và bằng thủ pháp hư cấu để xây dựng nên các hình tượng nghệ thuật được xếp vào loại văn xuôi hư cấu, bao gốm “Giấc mộng con”, “Giấc mộng con 11”, “Thần tiên ”, “Thể non nước ", “ Kiếp phong tran”, “Trần ai ky”. Văn xuôi không hư cấu bao gồm các tác phẩm còn lại : luận thuyết, nhàn tưởng, hai dam.
bàn bạc vé văn chương, triết học, đạo đức, các vấn dé đời sống, xã hội,. Riêng “Giấc mộng lớn ” là một cuốn tự truyện * mà “người viết tự truyện có khi cũng vẫn dụng hu cấu, "thêm thắt” hoặc "sắp xếp lại” các chỉ tiết của cuộc đời mình, nhằm làm cho sự trình bày về cuộc đời ấy trở nên hợp lý, nhất quan” “Hen nữa, chính Tản Đà trong bai “Tua Giấc mộng lớn " cũng viết : “Vậy thời “Giấc mộng lon” là một tập kỷ thực chăng ? Hoặc có người hỏi chơi như thế, tac giả thật khó mà trả lời. Đã gọi là mộng thời sao được la kỷ thực. Vậy thời “Giấc mộng lớn” là một cuốn tiểu thuyết chăng ? Hoặc có người hỏi chơi như thế, tác giả lại càng khó trả lời.
Có sự thật mới chép, thời không phải là tiểu thuyết. Thôi thời kỷ thực hay tiểu thuyết, tự độc giả muốn cho sao thời là sao”. Dựa vào đặc điểm của thể loại tự truyện, đề tài và nội dung của tác phẩm, khóa luận xếp “Giấc mộng lớn ” vào bộ phan văn xuôi hư cấu. * Trinh Bá Dinh, Nguyễn Đức Mậu Sd.
Tr 412 Theo “Tổng tập văn học Việt Nam” Sdd Lai Nguyên An. 150 thuật ngữ van học. Hà Nội : Dai học quốc gia.S Nguyễn Thành Thi -14- SVTH : Pham Thị Thúy Hằng 1. VÀI NÉT KHÁI QUÁT TOÀN CẢNH VĂN XUÔI VIET NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN 1930 1.
Văn xuôi Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX Trong văn chương phong kiến, văn xuôi không được dé cao bằng thơ ca. Tuy nhiên, văn xuôi Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX không phải là không phát triển và cũng đã đạt được những thành tựu nhất định. Vào thời Lý, về thể loại truyện, ký thì sử sách thường nhac đến “Báo cực truyện ” (khuyết danh tác gid) và “Ngoai sử ky” của Đỗ Thiện. Nhưng hiện nay chúng ta cũng không được biết gì hơn về các tác phẩm này ngoài một vài đoạn được dẫn ra trong “Việt điện u linh ” và “Lĩnh Nam chính quái ” (những sách xuất hiện sau đời Lý).
Đời Trần, về tản văn chữ Hán trước hết phải kể đến các tác phẩm sử học. Ngoài “Đại Việt sử ký ” của Lê Văn Hưu - bộ chính sử đầu tiên của Việt Nam còn có “Việt sử cương mục” và “Nam Việt thế chi” của Hỗ Tông Thốc, “Đại Việt sử luge” (khuyết danh tic giả) v. các bộ “gọc điệp ”, “Dai điển thực luc” v. ghi chép thế hệ các vua Trần, các sự việc lớn của Nhà nước.