Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Văn học Việt Nam với đề tài "Bước đầu tìm hiểu đóng góp của Tản Đà trong việc hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt (1900 – 1930)" do sinh viên Phạm Thị Thúy Hằng thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thành Thi tại Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành tháng 5 năm 2005).
Về mặt thực tiễn nghiên cứu, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu từ lâu đã được lịch sử văn học ghi nhận với tư cách là một thi sĩ lỗi lạc, "người bắc chiếc cầu nối giữa hai bờ sông thơ" hay "gạch nối giữa hai nền thơ cũ và thơ mới" như nhận định của Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam. Tuy nhiên, bộ phận văn xuôi của ông lại thường bị đặt dưới bóng hào quang của thơ ca hoặc chịu những đánh giá chưa thỏa đáng. Xuân Diệu trong Các nhà thơ cổ điển Việt Nam từng dẫn lại câu nói của Paul Valéry: "Cái tinh túy của văn xuôi là để tiêu mất" và khẳng định rằng: "Văn tài của Tản Đà phát tiết nhiều nhất trong thơ ông nhưng bản lĩnh Tản Đà thì văn xuôi của ông mới nói được hết". Xuất phát từ thực tế tư liệu và khoảng trống nghiên cứu đó, tác giả khóa luận xác định việc khảo sát văn xuôi Tản Đà là yêu cầu cần thiết nhằm hoàn thiện nội hàm của khái niệm "tính giao thời" trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của ông.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác lập:
- Đặt văn xuôi Tản Đà vào tiến trình lịch sử văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến năm 1930 để thấy rõ vị trí bản lề của ông trong giai đoạn chuyển giao từ văn học trung đại sang hiện đại.
- Khảo sát, phân tích toàn diện những đóng góp về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của Tản Đà ở bộ phận văn xuôi hư cấu.
- Làm rõ những nét đặc sắc về tư tưởng triết luận, quan niệm nhân sinh, quan niệm văn chương và phong cách nghệ thuật của Tản Đà ở bộ phận văn xuôi không hư cấu.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các tác phẩm văn xuôi tiếng Việt của Tản Đà. Phạm vi khảo sát tập trung vào 11 tác phẩm chính: Tản Đà văn tập, Giấc mộng con (tập I) và Giấc mộng con II, Khối tình (bản chính và bản phụ), Thần tiền, Tản Đà tùng văn, Thề non nước, Kiếp phong trần, Trần ai tri kỷ, Tản Đà nhàn tưởng, Giấc mộng lớn, và Tản Đà xuân sắc. Khóa luận chủ động loại trừ các trước tác thuộc thể loại tuồng, ca kịch, sách giáo khoa, bản dịch thuật, các công trình khảo cứu và các bài sử luận thuần túy in trên An Nam tạp chí.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài dựa trên lý luận văn học và lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn cận - hiện đại, đặc biệt là phạm trù văn học giao thời (nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX) và tiến trình hiện đại hóa chữ quốc ngữ. Về mặt phân loại thể loại, tác giả khóa luận chỉ ra sự bất cập trong cách tự phân loại mang tính chủ quan của chính Tản Đà trong Giấc mộng con (chia thành: Văn vần, Thuyết văn, Kịch văn, Tản văn, Dịch văn). Thay vào đó, tác giả dựa trên tiêu chí bản chất thẩm mỹ, thủ pháp sáng tác và tính chất chất liệu hiện thực để phân định di sản văn xuôi của Tản Đà thành hai bộ phận rạch ròi:
- Văn xuôi hư cấu: Gồm các tác phẩm xây dựng hình tượng nghệ thuật bằng tưởng tượng và hư cấu nghệ thuật (Giấc mộng con I & II, Thần tiền, Thề non nước, Kiếp phong trần, Trần ai tri kỷ, và tác phẩm tự truyện Giấc mộng lớn).
- Văn xuôi không hư cấu: Gồm các thể luận thuyết, nhàn tưởng, hài đàm, bàn về triết học, đạo đức, đời sống xã hội và văn chương (Tản Đà văn tập, Tản Đà tùng văn, Tản Đà nhàn tưởng, Tản Đà xuân sắc, Khối tình...).
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai gồm ba phương pháp nền tảng:
- Phương pháp hệ thống: Nhìn nhận văn xuôi Tản Đà như một chỉnh thể thống nhất trong mối quan hệ hữu cơ với thơ ca và toàn bộ sự nghiệp của tác giả.
- Phương pháp loại hình: Phân xuất và khảo sát tác phẩm theo các mô hình thể loại văn xuôi hư cấu và không hư cấu.
- Phương pháp so sánh lịch sử: Đặt tác phẩm của Tản Đà trong sự đối sánh với văn xuôi trung đại (thế kỷ X – XIX) và các tác giả cùng thời (Nguyễn Trọng Quản, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh).
- Các thủ pháp nghiên cứu cụ thể: Khảo cứu văn bản, phân loại - thống kê, phân tích - tổng hợp, và so sánh đối chiếu văn bản.
Nguồn dữ liệu chính được trích xuất từ bộ Tản Đà toàn tập (Tập II do nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương sưu tầm, biên soạn và giới thiệu, NXB Văn học, 2002), kết hợp cùng các công trình nghiên cứu của Dương Bá Trạc, Lê Thanh, Vũ Ngọc Phan, Ngô Bằng Dực, Phạm Văn Diêu, Tầm Dương, Xuân Diệu, Phan Cự Đệ, Trần Đình Sử, Lê Trí Viễn và Đinh Gia Khánh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương một: Tản Đà và văn xuôi Việt Nam từ thế kỷ X đến 1930
Chương một thiết lập hệ thống bối cảnh lịch sử - xã hội, tiểu sử tác giả và toàn cảnh diện mạo văn xuôi dân tộc làm hệ quy chiếu cho sự xuất hiện của Tản Đà.
Sau năm 1896, thực dân Pháp hoàn tất bình định quân sự, chia cắt Việt Nam thành ba kỳ với các chế độ cai trị khác biệt (thuộc địa ở Nam Kỳ, bảo hộ ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ), đẩy mạnh hai cuộc khai thác thuộc địa làm biến đổi sâu sắc cơ cấu giai cấp. Chế độ khoa cử chữ Hán lần lượt bị xóa bỏ (Nam Kỳ năm 1867, Bắc Kỳ năm 1915, Trung Kỳ năm 1918). Chữ quốc ngữ cùng hệ thống báo chí hiện đại ra đời (Gia Định báo 1865, Lục tỉnh tân văn 1909, Đông Dương tạp chí 1913, Nam Phong tạp chí 1917) trở thành môi trường tôi luyện và truyền bá văn xuôi mới.
Về cuộc đời, Nguyễn Khắc Hiếu (sinh năm 1889, mất ngày 7/6/1939 tại số 71 Ngã Tư Sở, Hà Nội) xuất thân dòng dõi Nho học suy tàn: cha là Nguyễn Danh Kế đỗ Cử nhân, từng giữ chức Án sát Ninh Bình; mẹ là Nhữ Thị Nghiêm, xuất thân xóm Bình Khang. Sau khi liên tiếp thi hỏng ở hai khoa thi Hương Kỷ Dậu (1909) và Nhâm Tí (1912), lại gặp cảnh thất tình với tiểu thư họ Đỗ ở phố Hàng Bồ, Tản Đà chuyển hướng hẳn sang con đường viết văn chuyên nghiệp. Ông viết cho Đông Dương tạp chí (ra mắt bài văn xuôi đầu tiên Định tặc năm 1915), sáng lập Tản Đà thư cục (1922), chủ trương An Nam tạp chí (ra mắt 10 số trong giai đoạn 1926 – 1927, đình bản rồi chấm dứt hẳn năm 1933).
Khóa luận tiến hành tổng thuật lịch sử phát triển của văn xuôi dân tộc qua hai giai đoạn lớn:
- Giai đoạn từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XIX: Đi từ văn sử bất phân đến văn học độc lập, từ ghi chép lịch sử (Đại Việt sử ký, Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư) sang truyện ký chí quái, truyền kỳ (Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, đỉnh cao là Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thế kỷ XVI), và đỉnh cao ký sự lịch sử với Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái.
- Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đến 1930: Bước chuyển sang văn xuôi quốc ngữ từ ghi chép khẩu ngữ, phiên âm, dịch thuật (Trương Vĩnh Ký với 74 truyện trong Chuyện đời xưa, ký sự Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi 1881; Huỳnh Tịnh Của với Chuyện giải buồn) đến truyện ngắn sơ khai (Truyện thầy Lazarô Phiên năm 1887 của Nguyễn Trọng Quản; truyện của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Công Hoan) và tiểu thuyết hiện đại (Tố Tâm năm 1925 của Hoàng Ngọc Phách; các tác phẩm của Hồ Biểu Chánh ở Nam Kỳ).
| Giai đoạn lịch sử |
Hình thái ngôn ngữ & Thể loại tiêu biểu |
Tác giả & Tác phẩm tiêu biểu |
Đặc điểm thi pháp & Nội dung |
| Thế kỷ X – XVI |
Chữ Hán; sử ký, truyện ký, truyền kỳ, chí quái |
Lý Tế Xuyên (Việt điện u linh), Trần Thế Pháp (Lĩnh Nam chích quái), Nguyễn Dữ (Truyền kỳ mạn lục) |
Từ văn sử bất phân tiến dần sang sáng tác hư cấu; sử dụng yếu tố kỳ ảo để phản ánh hiện thực suy thoái. |
| Cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX |
Chữ Hán; tùy bút, phóng sự, ký sự lịch sử |
Phạm Đình Hổ (Vũ trung tùy bút), Ngô gia văn phái (Hoàng Lê nhất thống chí) |
Đi sâu vào hiện thực sinh hoạt đời thường và biến cố lịch sử; cá tính hóa ngôn ngữ nhân vật. |
| Cuối thế kỷ XIX – 1900 |
Chữ quốc ngữ buổi đầu; ký sự, truyện dịch, truyện ngắn đầu tiên |
Trương Vĩnh Ký (Chuyện đời xưa, Chuyến đi Bắc Kỳ...), Nguyễn Trọng Quản (Truyện thầy Lazarô Phiên) |
Sử dụng lời nói thường ngày; thoát ly văn biền ngẫu; bắt đầu miêu tả giằng xé nội tâm nhân vật đời thường. |
| 1900 – 1930 (Thời kỳ Tản Đà) |
Chữ quốc ngữ trên báo chí; tiểu thuyết tâm lý, truyện ngắn hiện thực, tự truyện |
Hoàng Ngọc Phách (Tố Tâm), Hồ Biểu Chánh, Tản Đà (Giấc mộng lớn, Thần tiền...) |
Tính chất giao thời sâu sắc; đan xen giữa tư tưởng đạo lý cũ và ý thức cá nhân mới; hiện đại hóa câu văn xuôi. |
Chương hai: Những đóng góp của Tản Đà ở bộ phận văn xuôi hư cấu
Chương hai tập trung phân tích giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật của văn xuôi hư cấu, làm nổi bật cảm hứng hiện thực xuyên suốt các chiều kích:
- Từ cuộc đời riêng của bậc "tài tử đa cùng": Tác phẩm Giấc mộng lớn được khảo sát như một thể văn tự truyện độc đáo, ghi lại hơn 30 năm thăng trầm của chính tác giả. Đó là bi kịch tuổi thơ mồ côi cha năm ba tuổi, mẹ bỏ đi năm bốn tuổi; bi kịch hai lần trượt khoa cử; bi kịch thất tình; biến cố tuyệt thực "tích cốc" suốt sáu tháng uống rượu dưới gốc ngọc lan tại rừng núi Hòa Bình; những cuộc lưu lạc tha hương, vay nợ làm báo, bị chủ nhà đuổi ở Vĩnh Yên làm tiêu tan cơ ngơi hơn hai ngàn đồng bạc. Tản Đà là người đầu tiên đưa toàn bộ con người thực, cảnh ngộ thực của cá nhân vào tác phẩm văn xuôi với thái độ thành thật và cốt cách tự tin.
- Nỗi đau chung cho nhân tình thế thái: Tác phẩm Thần tiền xây dựng cuộc đối thoại giữa hai đồng tiền (một đồng 18 tuổi, một đồng 13 tuổi) để vạch trần sức mạnh tha hóa ghê gớm của xã hội kim tiền. Đồng tiền can thiệp vào tình cảm vợ chồng, anh em, cha con, gây ra cờ bạc, lừa đảo, trộm cắp. Tác phẩm chỉ rõ bản chất sâu mọt của tầng lớp quan lại qua tập quán "hầu quan mà vào đêm", đòi hỏi tiền lót tay từ 15 đến 20 người cùng lúc. Đối lập với sự lạnh lùng của tiền tài là tấm lòng nhân ái của Tản Đà đối với người nghèo khó: chi ba đồng bạc làm lều tránh mưa cho trẻ hái củi, chia mười đồng bạc cho những hành khách đi tàu hạng ba đói rách.
- Mối nặng lòng "chủng tộc giang san": Tác giả khóa luận phân tích tư tưởng canh tân tiến bộ mang màu sắc tiểu tư sản của Tản Đà. Trong Giấc mộng con, Tản Đà công khai phê phán những hủ tục lạc hậu của người An Nam (đốt vàng mã, mê tín, kiện cáo, thói chửi rủa). Tại thiên "Tiểu tiểu du Á", ông tưởng tượng ra mô hình xã hội đại đồng trên đảo Bắc Băng Dương xây dựng bằng pha lê, dùng nhiệt lòng đất để sưởi ấm, triệt tiêu tư hữu và tiền tệ, hướng đến tiến hóa khoa học kỹ thuật. Lòng yêu nước trong văn xuôi Tản Đà bộc lộ qua cảm xúc hoài cổ trước các phế tích lịch sử (hành cung Tự Đức ở Thuận An biến thành đồn lính và sở kiểm lâm; ải Hải Vân; thành quách Chiêm Thành ở Quảng Nam), hành động mạo hiểm viếng thăm lăng miếu nhà Tây Sơn, thái độ tôn kính chí sĩ Phan Bội Châu, và sự đả kích đích danh bọn phản quốc (cho Lương Nhữ Hốt, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Thân đeo thẻ ngà quét chợ trời trong Giấc mộng con II; ám chỉ quan tài thần Hoàng Cao Khải).
- Về nghệ thuật: Văn xuôi hư cấu Tản Đà phá vỡ kết cấu chương hồi cứng nhắc, kết hợp linh hoạt giữa tự sự, trữ tình và triết lý, tạo lập giọng điệu tâm tình tự nhiên và nhạc tính độc đáo trong câu văn quốc ngữ.
Chương ba: Những đóng góp của Tản Đà ở bộ phận văn xuôi không hư cấu
Chương ba phân tích bộ phận văn chính luận, nghị luận, hài đàm và nhàn tưởng:
- Bức tranh thế thái nhân tình và nhận thức đời sống: Thể hiện trực tiếp các quan sát sắc sảo của Tản Đà về hiện thực thành thị hóa, sự va đập giữa các chuẩn mực giá trị cũ và mới, lối sống thực dụng đang len lỏi vào các quan hệ xã hội.
- Quan niệm về cuộc đời và cách xử thế của một cái Tôi bản lĩnh: Khóa luận chỉ ra cái Tôi trong văn chính luận của Tản Đà là sự dung hợp phức hợp giữa tinh thần nhập thế hành đạo của Nho gia, thái độ tiêu dao phóng khoáng của Đạo gia, và ý thức khẳng định giá trị cá nhân của giai cấp tư sản - tiểu tư sản thành thị.
- Quan niệm văn chương và thuyết "thiên lương": Tản Đà khẳng định thiên chức cao quý của người cầm bút, lấy "thiên lương" (lương tâm trong sáng do trời phú) làm gốc rễ cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật và đạo đức nghề nghiệp, kiên quyết chống lại thói văn chương xu thời trục lợi.
- Nghệ thuật văn xuôi không hư cấu: Thể hiện qua kết cấu lập luận chặt chẽ, lối hành văn khúc chiết, đan cài hài hòa giữa tính lý luận sắc sảo và chất trữ tình hóm hỉnh, góp phần chuẩn hóa ngôn ngữ nghị luận tiếng Việt đầu thế kỷ XX.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã đúc kết được những kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với văn bản khảo sát:
- Định lượng và phân loại hệ thống: Khảo sát chi tiết 11 tác phẩm văn xuôi nòng cốt của Tản Đà trong giai đoạn 1900 – 1930, thiết lập tiêu chí phân loại khoa học thành hai mảng văn xuôi hư cấu và không hư cấu, khắc phục cách phân loại thiếu tính lý luận trước đây.
- Khẳng định bản lĩnh sáng tạo độc lập: Chứng minh bằng cứ liệu văn bản rằng văn xuôi Tản Đà không hề lu mờ trước thơ ca của chính ông như nhận định phiến diện của Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại, mà là nơi thể hiện trọn vẹn nhất bản lĩnh sống, tư tưởng xã hội và ý thức cá nhân của ông.
- Nhận diện các giá trị hiện thực tiên phong: Làm sáng tỏ vai trò mở đường của Tản Đà cho trào lưu văn học hiện thực phê phán giai đoạn sau (ảnh hưởng trực tiếp đến lối hành văn và đề tài của Tam Lang trong Giọt lệ sông Hương, Nguyễn Công Hoan trong Kiếp hồng nhan, Răng con chó nhà tư sản).
- Đóng góp vào tiến trình hiện đại hóa ngôn ngữ: Xác lập vị trí kiên tướng mở đường của Tản Đà trên báo chí đầu thế kỷ XX trong việc rèn giũa câu văn xuôi quốc ngữ trong sáng, giàu nhạc tính, thoát khỏi lối biền ngẫu kinh viện thời phong kiến.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có những giới hạn học thuật nhất định xuất phát từ phạm vi nghiên cứu của một công trình tốt nghiệp đại học:
- Giới hạn ngữ liệu: Đề tài chủ động bỏ qua các sáng tác tuồng, kịch, công trình dịch thuật chữ Hán (Đường thi, Liêu trai chí dị), các tài liệu giáo khoa và các bài bình luận sử học trên An Nam tạp chí, do đó chưa bao quát trọn vẹn toàn bộ gia tài trước tác văn xuôi đa dạng của tác giả.
- Phương pháp xử lý văn bản: Việc đối sánh thi pháp văn xuôi giữa Tản Đà và các nhà văn Nam Bộ cùng thời (Hồ Biểu Chánh, Trương Vĩnh Ký) chủ yếu dừng lại ở bình diện nhận định lịch sử văn học, chưa đi sâu vào thống kê tần suất ngôn ngữ hay đối sánh cấu trúc ngữ pháp vi mô.
- Hướng mở tiếp nối: Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát phong cách học ngôn ngữ văn xuôi Tản Đà, tiếp cận thi pháp học hiện đại để giải mã cấu trúc thể loại tự truyện trong Giấc mộng lớn, hoặc nghiên cứu so sánh văn xuôi Tản Đà với các cây bút giao thời cùng thời kỳ ở khu vực Đông Á.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngữ văn, Văn học Việt Nam, Lý luận văn học và Lịch sử báo chí tiếng Việt đầu thế kỷ XX.
- Những người nghiên cứu tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam và hiện tượng tác gia "giao thời".
- Các phần đáng tham khảo sâu: Bức tranh toàn cảnh văn xuôi Việt Nam từ thế kỷ X đến năm 1930 (Chương 1); các phân tích văn bản chuyên sâu về kết cấu tự truyện trong Giấc mộng lớn và nghệ thuật đối thoại phê phán xã hội kim tiền trong Thần tiền (Chương 2).
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận phân chia hệ thống văn xuôi của Tản Đà dựa trên tiêu chí nào và gồm những tác phẩm cụ thể nào?
Tác giả khóa luận dựa trên thủ pháp sáng tác và tính chất chất liệu hiện thực để chia thành hai bộ phận: Văn xuôi hư cấu (gồm Giấc mộng con I & II, Thần tiền, Thề non nước, Kiếp phong trần, Trần ai tri kỷ, và cuốn tự truyện Giấc mộng lớn) và Văn xuôi không hư cấu (gồm Tản Đà văn tập, Tản Đà tùng văn, Tản Đà nhàn tưởng, Tản Đà xuân sắc, Khối tình...).
Tại sao tác phẩm tự truyện "Giấc mộng lớn" lại được tác giả khóa luận xếp vào bộ phận văn xuôi hư cấu?
Tác giả căn cứ vào đặc trưng thể loại tự truyện: người viết tự truyện luôn sử dụng hư cấu nghệ thuật để sắp xếp, lựa chọn và thêm thắt chi tiết đời mình nhằm đạt tính nhất quán nghệ thuật. Đồng thời, chính Tản Đà trong bài tựa tác phẩm cũng để ngỏ: "Có sự thật mới chép, thời không phải là tiểu thuyết... tự độc giả muốn cho sao thời là sao".
Tác phẩm văn xuôi đầu tiên của Tản Đà xuất hiện trên diễn đàn văn học là tác phẩm nào và được ghi nhận ra sao?
Tác phẩm văn xuôi đầu tiên của Tản Đà là bài Định tặc, đăng trên báo Đông Dương tạp chí năm 1915 (số 35). Chủ báo Nguyễn Văn Vĩnh khi duyệt bản thảo đã đánh giá Nguyễn Khắc Hiếu là bậc văn sĩ có biệt tài, có lý tưởng riêng và cách ngắm cảnh vật kỳ khôi lạ lùng.
Hình tượng "đồng tiền" trong tác phẩm "Thần tiền" được Tản Đà xây dựng bằng nghệ thuật gì và phản ánh hiện thực nào?
Tản Đà nhân hóa đồng tiền thông qua cuộc đối thoại gay gắt giữa hai đồng tiền (18 tuổi và 13 tuổi) để vạch trần sức mạnh tha hóa của xã hội thực dân nửa phong kiến. Tác phẩm tố cáo sự băng hoại luân thường đạo lý trong gia đình và phơi bày trực tiếp nạn tham nhũng của quan lại địa phương qua thông lệ đưa tiền "hầu quan mà vào đêm".
Lòng yêu nước của Tản Đà trong văn xuôi có điểm gì khác biệt so với văn thơ công khai của các chí sĩ cách mạng cùng thời?
Không viết văn chính trị công khai trực diện như Phan Bội Châu hay Phan Chu Trinh, Tản Đà gửi gắm lòng yêu nước một cách tự nhiên qua các chuyến du lãm giang sơn, niềm hoài cổ tiếc thương trước các di tích lịch sử đổ nát (Thuận An, Hải Vân, tháp Chàm), hành động mạo hiểm thăm mả nhà Tây Sơn, và công khai kết án bọn bán nước cầu vinh bị đày quét chợ trời trong cõi mộng.
Kết luận
Khóa luận của Phạm Thị Thúy Hằng là công trình nghiên cứu nghiêm túc, đặt văn xuôi Tản Đà vào đúng vị trí lịch sử xứng đáng trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc giai đoạn 1900 – 1930. Bằng việc phân xuất rành mạch hai bộ phận văn xuôi hư cấu và không hư cấu, tác giả đã làm rõ bản lĩnh cá nhân, cảm hứng hiện thực phê phán sâu sắc và tư tưởng yêu nước tiến bộ của Tản Đà. Công trình khẳng định giá trị nền móng của Tản Đà không chỉ ở địa hạt thi ca mà còn ở tư cách một kiện tướng mở đường cho văn xuôi chữ quốc ngữ Việt Nam cận hiện đại.