phần mở đầu, phần kết luận, các tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: 8. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Trong chương này, học viên tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài. Trong những vấn đề lý luận, tìm hiểu về các khái niệm cơ bản: Cải lương, ước lệ, kịch bản và vở diễn. Sử dụng lý thuyết nghiên cứu là tiếp xúc, tiếp biến và giao lưu văn hóa để tìm hiểu về tính dung hợp và tổng hợp của loại hình nghệ thuật Cải lương, hiểu được nguồn gốc, đặc điểm của loại hình này và quá trình ảnh hưởng của văn hóa phương Tây (tư tưởng mới mẻ, tiến bộ) vào ngòi bút sáng tác của Trần Hữu Trang.
Sử dụng lý thuyết về tác phẩm nghệ thuật để thấy được sự thống nhất về nội dung và hình thức trong tác phẩm nghệ thuật và làm cơ sở để triển khai nghiên cứu đóng góp của soạn giả Trần Hữu Trang trên hai phương diện này. Trong những vấn đề thực tiễn, tìm hiểu về cơ sở lịch sử, văn hóa trong việc hình thành và phát triển của sân khấu Cải lương (1917 – 1945). Bên cạnh đó, khái quát về cơ sở gia đình và truyền thống văn hóa của soạn giả Trần Hữu Trang: cuộc đời, sự nghiệp và những tác phẩm thành công của ông có sức ảnh hưởng đến sân khấu Cải lương. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA SOẠN GIẢ TRẦN HỮU TRANG ĐỐI VỚI CẢI LƯƠNG NAM BỘ VỀ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG KỊCH BẢN Chương này, người viết sẽ nêu bật về những đóng góp của soạn giả Trần Hữu Trang ở phương diện nội dung.
Cụ thể nhấn mạnh những đóng góp ở ba khía cạnh: Đề tài, chủ đề và tư tưởng qua các sáng tác của ông. Từ đó, phát hiện và nêu bật những giá trị văn hóa từ các sáng tác đã góp phần không nhỏ đối với sự thành công của nghệ thuật sân khấu Cải lương và nền kịch hát dân tộc. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA SOẠN GIẢ TRẦN HỮU TRANG ĐỐI VỚI CẢI LƯƠNG NAM BỘ VỀ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC KỊCH BẢN Chương này, học viên sẽ nêu bật những đóng góp của soạn giả Trần Hữu Trang ở phương diện hình thức nghệ thuật. Cụ thể là cho thấy việc soạn giả vận dụng thành công thi pháp kịch Phương Tây ở các kịch bản của mình qua hai phương diện: xây dựng nhân vật và kết cấu kịch bản.
Bên cạnh đó, soạn giả còn kế thừa thi pháp sân khấu kịch hát truyền thống của dân tộc qua hai khía cạnh đóng góp về: âm nhạc sân khấu và ước lệ sân khấu. Điều này đã làm nên sự thành công cho kịch bản (vở diễn) Cải lương hiện thực tâm lý xã hội của Trần Hữu Trang. Nhìn thấy được sự hòa quyện và tầm quan trọng của các yếu tố sáng tạo khác: đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ, thiết kế mỹ thuật sân khấu,… cũng góp phần không nhỏ để giúp cho những sáng tác của soạn giả Trần Hữu Trang thêm phần thành công và sống mãi theo thời gian. Trong phần kết luận sẽ rút ra những giá trị từ tính cách con người và sự nghiệp của soạn giả Trần Hữu Trang.
Khẳng định tầm quan trọng trong những đóng góp của ông cho sân khấu Cải lương giai đoạn những sáng tác ra đời và cho đến hôm nay các tác phẩm vẫn còn sống mãi trong lòng công chúng, chưa đựng những giá trị văn hóa to lớn của vùng đất, con người Nam Bộ nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung. Ngoài ra, luận văn còn có phần phụ lục bao gồm: Phụ lục 1: Biên bản phỏng vấn, có 12 biên bản phỏng vấn là 12 đối tượng có chuyên môn nghệ thuật cao, là những chuyên gia, đạo diễn, nghệ sĩ, soạn giả, nhà báo, giảng viên hiểu rõ về soạn giả Trần Hữu Trang và nghệ thuật sân khấu Cải lương. Phụ lục 2: Các hình ảnh về soạn giả Trần Hữu Trang và các tác phẩm nổi tiếng của ông do học viên chụp được trong quá trình quan sát – tham dự, phỏng vấn sâu và kết hợp sưu tầm. 16 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Khái niệm Cải lương Cải lương là một loại hình kịch hát truyền thống có nguồn gốc từ Nam Bộ của Việt Nam. Giải thích chữ cải lương (改良) theo nghĩa Hán-Việt, Trần Văn Khê cho rằng: cải lương là sửa đổi cho trở nên tốt hơn, thể hiện qua sân khấu biểu diễn, đề tài kịch bản, nghệ thuật biểu diễn, dàn nhạc và bài bản [85]. Để hiểu một cách cụ thể, bao quá hơn về Cải lương, cần tìm hiểu Cải lương ở các dạng từ. Ở dạng danh từ chung, Mai Mỹ Duyên cho rằng: cải lương (không viết hoa) hay chủ nghĩa cải lương (reformism) là một học thuyết chính trị chủ trương cải cách thể chế xã hội đang tồn tại.
Dưới đạng động từ thì cải lương có nghĩa là: cải tiến, cải thiện, tiến bộ hoặc làm cho hoàn thiện hơn, tốt hơn. Vậy theo quan niệm của người Việt từ đầu thế kỷ XX thì cải lương là những hành động cụ thể được khởi xướng từ một nhóm người, đa phần họ là những tri thức yêu nước, tiến bộ. Họ mong muốn mang đến cho đất nước sự thay đổi tốt hơn trước tình trạng đất nước đang trì trệ, hạn chế so với các nước phát triển khác. Dưới dạng danh từ riêng: Cải lương (được viết hoa) dùng để gọi tên một loại hình kịch hát truyền thống mới của dân tộc được ra đời ở vùng đất Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX (1917 – 1918).
Loại hình nghệ thuật này có sự tiếp thu từ sân khấu Hát bội, được phát triển từ đờn ca tài tử, ca ra bộ đến sân khấu Cải lương và đặc biệt có sự dung hòa văn hóa Đông – Tây. Tức Cải lương được trình diễn trên sân khấu hộp, có cảnh trí, có kịch bản theo cấu trúc hồi, lớp như kịch phương Tây. Nguyễn Đức Hiệp nhận định: Cải lương chịu ảnh hưởng của kịch nói phương Tây với cách diễn tự nhiên, chia thành hồi, màn, có cảnh trí sân khấu, cải biến hát bội, thêm vào đờn ca tài tử ca ra bộ (Tứ đại oán, Bình bán vắn, Hành vân, Xuân phong, Xuân nữ) và sau này điệu hát vọng cổ Dạ cổ hoài lang và nhạc tây Phương đã tạo ra nghệ thuật sân khấu Cải lương mà ta biết đến hiện nay. Năm 1920, trước cửa gánh hát Tân Thinh của ông Trương Văn Thông có treo hai câu liễn: 17 Cải cách hát ca theo tiến bộ và Lương truyền tuồng tích sánh văn minh.
Đây là hay câu liễn rất ý nghĩa nói lên được bản chất của hai từ Cải lương. Theo thời gian, hai câu thơ này trở thành lời truyền miệng của bao thế hệ khi nói về Cải lương với ý nghĩa thật sự của nó. Đa số các nhà nghiên cứu hiện nay đều thống nhất về việc giải thích hai từ cải lương theo nghĩa: Cải là cải cách, lương là lương truyền. Có nghĩa là làm mới thể loại âm nhạc dân tộc để qua đây lương truyền tuồng tích, các vấn đề muốn gửi gắm đến khán giả, nhân dân và nhiều thế hệ hôm nay, mai sau.
Ước lệ Đầu tiên, khi nói về hai từ ước lệ có thể hiểu: Ước là quy ước, định ước,… được đặt ra để mọi người làm theo. Lệ là luật lệ không thành văn, đã thành tập quán, thói quen,… được mọi người thừa nhận. Vậy nên, ước lệ trong đời sống được hiểu là những quy ước được mọi người thừa nhận và chấp hành. Có thể chuyển khái niệm ước lệ trong đời sống để hiểu ước lệ trong nghệ thuật nói chung và sân khấu nói riêng.
Tuấn Giang nhận định: Những hoạt động đời sống tự nhiên, xã hội, con người phát hiện ra phương thức ước lệ hiện thực. Ứớc lệ ra đời từ đặc tính từng dân tộc, từng loại hình, thể loại nghệ thuật. Mỗi thời đại đặt ra đặc tính ước lệ riêng. Ước lệ sẽ biến đổi theo thời gian, mang khái niệm thẩm mĩ.
Vậy ước lệ dựa trên cơ sở hiện thực nhưng khi đưa ước lệ lên sân khấu thì đặc trưng ước lệ trở thành nguyên tắc cơ bản , đóng vai trò chi phối, thấm sâu vào toàn bộ các phương tiện diễn tả và thể hiện của sân khấu ước lệ. Trong việc phản ánh hiện thực, sân khấu ước lệ không có mục đích tạo nên những hình tượng giống hệt ngoài cuộc sống vì nó không nhằm gây ảo giác như thật. Cái đang diễn ra trên sân khấu càng được lạ hóa bao nhiêu càng có hiệu quả và hấp dẫn bấy nhiêu. Nghĩa là hiện thực cuộc sống đã được đúc kết qua kịch bản dưới sự sắp đặt của tác giả, soạn giả và thăng hoa dưới sự thể hiện của người nghệ sĩ, diễn viên, trên sân khấu.
Như vậy, nghệ thuật xây dựng kịch bản của tác giả, soạn giả và nghệ thuật biểu diễn của diễn viên, nghệ sĩ đóng vai trò rất quan trọng để làm nên nghệ thuật ước lệ sân cho tác phẩm. Xử lý không gian, thời gian cũng là một vấn đề quan trọng của sân khấu ước lệ. Chỉ trên một sân khấu khoảng vài chục mét vuông nhưng không gian ước lệ mở ra vô cùng rộng lớn. Ngay trong một đoạn diễn, hành động của nhân vật có thể diễn ra ở trong nhà, khi thì ngoài sân, trên thuyền, không gian núi non, biển cả đều có thể ước lệ trên sân khấu qua nghệ thuật biểu diễn của diễn viên, tất nhiên không thể bỏ qua yếu tố cảnh trí, ánh sáng, âm thanh hỗ trợ.
Để giải quyết sự 18 vận động chớp nhoáng ấy của không gian thì chỉ có sân khấu ước lệ mới làm được. Nó gắn liền với nghệ thuật biểu diễn của diễn viên, khi vắng mặt diễn viên thì sẽ không còn yếu tố ước lệ. Không gian ước lệ gắn liền với xử lí thời gian ước lệ. Tất cả đều do diễn viên quy định, chỉ một câu nói của diễn viên thì thời gian có thể chuyển biến thành nhiều ngày, nhiều tháng hay thậm chí là mấy mươi năm.
Từ đây, thấy được ước lệ không gian, thời gian sân khấu trở nên rất tự do, phóng khoáng và nhanh chóng hơn. Vì vậy mà khả năng phản ánh hiện thực cũng trở nên to lớn hơn. Tóm lại, đặc trưng ước lệ có vai trò rất quan trọng đối với nghệ thuật sân khấu. Đặc biệt là sân khấu tự sự - ước lệ, cụ thể như các loại hình kịch hát truyền thống của dân tộc: Tuồng, Chèo, Cải lương.
Kịch bản Kịch bản có vai trò rất quan trọng trong việc đưa Cải lương phát triển mạnh mẽ, cho ra đời những vở diễn có sức chinh phục công chúng qua bao năm tháng.