đặt vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống về lý luận, thực tiễn, thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành nghệ thuật biểu diễn nói chung và nghệ thuật múa rối nói riêng. Vì vậy đề tài "Phát triển nguồn nhân lực tại Nhà hát Múa rối Việt Nam" rất cần thiết và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn cho ngành nghệ thuật biểu diễn nói chung và Nhà hát Múa rối Việt Nam nói riêng. Đặc biệt, trƣớc tình hình 12 z Nhà hát chuẩn bị xã hội hóa thì đề tài có ý nghĩa rất quan trọng cho Nhà hát Múa rối Việt Nam, giúp Nhà hát có thể cải cách và hoàn thiện bộ máy quản lý của mình sao cho phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trƣờng góp phần nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực ngành nghệ thuật múa rối một cách hiệu quả đáp ứng đƣợc thị hiếu ngày càng cao của khán giả. Khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, cũng có thể đƣợc xác định trên một địa phƣơng, một ngành hay một vùng. Theo đó, nguồn nhân lực đƣợc xác định bằng số lƣợng và chất lƣợng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế, xã hội. Tiềm năng lao động của con ngƣời bao hàm cả thể lực, trí lực và tâm lực (nhƣ đạo đức, lối sống, nhân cách và truyền thống lịch sử văn hóa dân tộc).
Số lƣợng, chất lƣợng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế xã hội chính là số lƣợng, chất lƣợng của bộ phận dân số trong độ tuổi đang có việc làm, chƣa có việc làm nhƣng có khả năng làm việc. Về chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng phát triển thể lực; trình độ học vấn, kiến thức, tay nghề, tác phong nghề nghiệp; cơ cấu tuổi tác, giới tính, thiên hƣớng, tình trạng phân bổ theo lãnh thổ và khu vực hoạt động là thành thị hay nông thôn. Theo Luật Lao động, nguồn nhân lực của xã hội bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động nhƣng có khả năng hoặc sẽ tham gia lao động. Số lƣợng nguồn nhân lực phụ thuộc vào tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và độ tuổi lao động; chất lƣợng nguồn nhân lực phụ thuộc vào sự nghiệp giáo dục đào tạo và thể chất ngƣời lao động, yếu tố di truyền, nhu cầu sử dụng.
Nguồn lao động nói theo nghĩa rộng hơn là lực lƣợng lao động. Nó không chỉ bao gồm lực lƣợng lao động mà còn bao gồm cả bộ phận dân số từ 13 z đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động, nhƣng chƣa tham gia hoạt động kinh tế (đang đi học; nội trợ gia đình; không có nhu cầu làm việc; nghỉ hƣu nhƣng vẫn có khả năng lao động v.) Lực lƣợng lao động hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những ngƣời từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động đang có việc làm, hoặc không có việc làm, nhƣng có nhu cầu làm việc. Giữa các quốc gia có sự khác nhau về quy định đô tuổi lao động. Hiện nay, nhiều nƣớc lấy tuổi tối thiểu là 15 tuổi, còn tuổi tối đa vẫn có sự khác nhau, tùy thuộc vào tình hình phát triển kinh tế xã hội của mỗi nƣớc, có nƣớc quy định là 60, có nƣớc là 65, thậm chí có nƣớc đến 70, 75 tuổi.
Đặc biệt ở Úc không có quy định tuổi về hƣu và do đó không có giới hạn tuổi tối đa. Ở nƣớc ta quy định tuổi lao động là từ 15 - 60 tuổi đối với nam và từ 15 - 55 tuổi đối với nữ. Dân số từ đủ 15 tuổi trở lên Có đủ khả năng lao động Không có khả năng lao động Đang làm Thất Đi học Nội trợ cho Không có Tình trạng việc trong nghiệp gia đình nhu cầu khác các ngành mình làm việc kinh tế quốc dân Lực lƣợng lao động Nguồn lao động (nguồn nhân lực) Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa quy mô dân số từ đủ 15 tuổi trở lên với lực lƣợng lao động và nguồn lao động ở Việt Nam. 14 z Nguồn nhân lực đƣợc phân chia thành: Nguồn nhân lực sẵn có, nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế; nguồn nhân lực dự trữ.
Nguồn nhân lực sẵn có trong dân cƣ Nguồn nhân lực tham gia trong Nguồn nhân lực dự trữ hoạt động kinh tế Lao động Đang Chƣa đang làm Lực lƣợng làm có nhu việc trong lao động nghĩa Đi học Nội trợ cầu làm các ngành đang thất vụ quân việc kinh tế nghiệp sự quốc dân Hình 1.2: Sơ đồ về mối quan hệ giữa các bộ phận trong nguồn nhân lực Nguồn nhân lực có những đặc trưng sau: - Số lƣợng nguồn nhân lực, trả lời cho câu hỏi là có bao nhiêu ngƣời và sẽ có thêm bao nhiêu nữa trong tƣơng lai. Sự phát triển về số lƣợng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong, bao gồm nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lƣợng lao động; và các yếu tố bên ngoài của tổ chức nhƣ sự gia tăng về dân số hay lực lƣợng lao động do di dân. - Chất lƣợng nhân lực, là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận nhƣ: trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức kỹ năng, sức khỏe, năng lực thẩm mỹ. của ngƣời lao động.
Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực. 15 z - Cơ cấu nguồn nhân lực, đây là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phƣơng diện khác nhau: cơ cấu về trình độ đào tạo, dân tộc, giới tính, độ tuổi. Phát triển nguồn nhân lực.
Khái niệm Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phƣơng pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện quy mô cơ cấu và nâng cao chất lƣợng từng con ngƣời lao động (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý - xã hội) đáp ứng đòi hỏi về nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Cũng tƣơng tự nhƣ trong các thuật ngữ tăng trƣởng và phát triển kinh tế, phát triển nguồn nhân lực gắn liền với sự hoàn thiện, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, thể hiện ở việc nâng cao nâng cao trình độ giáo dục quốc dân, trình độ kỹ thuật, chuyên môn, sức khỏe và thể lực cũng nhƣ ý thức hệ, đạo đức của ngƣời lao động. Còn tăng trƣởng nguồn nhân lực gắn với việc tăng về số lƣợng trong lực lƣợng lao động. Phát triển nguồn nhân lực có vai trò và ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong bối cảnh dân số, lao động và kinh tế nƣớc ta và ngành nghệ thuật biểu diễn nói riêng.
Nhƣng tăng trƣởng nguồn nhân lực là một yếu tố của phát triển nguồn nhân lực do đó quá trình phát triển nguồn nhân lực đòi hỏi tạo ra sự biến đổi về mặt số lƣợng và chất lƣợng một cơ cấu đội ngũ nhân lực hợp lý cần thiết để tham gia một cách hiệu quả vào quá trình phát triển vì sự tiến bộ kinh tế xã hội. Khác với đầu tƣ cho các nguồn lực phi con ngƣời, đầu tƣ cho nguồn nhân lực là sự tác động đến đời sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng và toàn xã hội nói chung. 16 z Phát triển nguồn nhân lực đƣợc xem xét trên hai mặt chất và lƣợng. Về chất, phát triển nguồn nhân lực phải đƣợc tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát triển trí tuệ, thể lực, kỹ năng và tạo môi trƣờng thuận lợi cho nguồn lực phát triển.
Về lƣợng là gia tăng số lƣợng nguồn nhân lực, điều này tùy thuộc vào nhiều nhân tố trong đó dân số là nhân tố cơ bản. Dân số và cấu thành dân cƣ của địa phƣơng là cơ sở cho sự hình thành và phát triển nguồn lao động. Dân số cung cấp nguồn nhân lực. Tăng dân số sẽ có ảnh hƣởng trực tiếp đến quy mô nguồn nhân lực.
Dân số tăng nhanh sẽ trực tiếp làm tăng nguồn lao động xã hội. Việc này một mặt tạo điều kiện cho phát triển kinh tế, mặt khác gây sức ép rất lớn trong việc bố trí sử dụng số ngƣời bƣớc vào độ tuổi lao động. Mỗi năm nếu số ngƣời bƣớc vào độ tuổi lao động tăng thêm này cao hơn nhiều so với nhu cầu sử dụng lao động của nền kinh tế - hậu quả là tỉ lệ thất nghiệp ngày càng tăng. Bất kỳ quá trình sản xuất nào cũng có 3 yếu tố: sức lao động, đối tƣợng lao động và tƣ liệu lao động.
Do vậy, phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tƣ vào các yếu tố của quá trình sản xuất. Cần lƣu ý rằng trong tất cả các yếu tố đầu tƣ thì đầu tƣ vào con ngƣời, đầu tƣ cho nguồn nhân lực chính là đầu tƣ quan trọng nhất. Đầu tƣ cho con ngƣời đƣợc thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn: giáo dục tại trƣờng, đào tạo nghề nghiệp tại chỗ, chăm sóc y tế. Phát triển nguồn nhân lực dƣới gốc độ của một đất nƣớc là quá trình tạo dựng một lực lƣợng lao động năng động, thể lực và sức lực tốt, có quá trình lao động cao, có kỹ năng sử dụng lao động có hiệu quả.
Xét ở góc độ cá nhân thì nguồn lực là việc nâng cao kỹ năng, năng lực lao động và chất lƣợng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động. Tổng thể phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao thể lực, trí lực của ngƣời lao động, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất. Trí lực có đƣợc nhờ quá trình đào tạo và tiếp 17 z thu kinh nghiệm. Thể lực có đƣợc nhờ vào chế độ dinh dƣỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế, môi trƣờng lao động.
Nội dung chủ yếu của phát triển nguồn nhân lực. Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực. Quá trình quy hoạch phát triển nguồn nhân lực đƣợc thực hiện trong mối liên hệ mật thiết với quá trình hoạch định và thực hiện các chiến lƣợc và chính sách phát triển, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực đƣợc thực hiện qua các bƣớc sau đây: - Phân tích môi trƣờng, xác định mục tiêu phát triển. - Phân tích hiện trạng nguồn nhân lực.
- Phân tích quan hệ cung cầu nhân lực, xây dựng các chính sách, kế hoạch chƣơng trình thực hiện để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực.