Chương 1. Khái quát về cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên biên giới Tây Nam. Trong chương này tác giả khái quát bối cảnh quốc tế và trong nước từ sau cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của dân tộc ta, những chính sách diệt chủng của tập đoàn phản động Pol Pot – Ieng Sary với nhân dân Việt Nam, buộc nhân dân ta phải tiến hành cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và đường lối kháng chiến chống tập đoàn phản động Pol Pot – Ieng Say của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Những đóng góp của nhân dân huyện Hòa Thành trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên tuyến biên giới Tây Nam (1975-1979) là những ghi nhận 8 về sự đóng góp trực tiếp và thực hiện vai trò hậu phương của nhân dân huyện Hòa Thành cho cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam.
Đặc điểm, bài học kinh nghiệm từ những đóng góp của nhân dân huyện Hòa Thành trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc. Tác giả hệ thống lại những đặc điểm và nêu ra một số bài học kinh nghiệm từ những đóng góp của nhân dân huyện Hòa Thành trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc. KHÁI QUÁT VỀ CUỘC CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC TRÊN BIÊN GIỚI TÂY NAM 1. Bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước sau cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam năm 1975 1.
Bối cảnh quốc tế Bối cảnh quốc tế và bối cảnh khu vực là hai nhóm vấn đề cần lưu ý khi tác động đến cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Việt Nam. Xét về bối cảnh quốc tế thì sự tác động của Chiến tranh Lạnh diễn biến hết sức phức tạp đã cuốn các quốc gia vào vòng xoáy của xung đột. Xung đột của Campuchia và Việt Nam diễn ra trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Liên Xô đang ngày càng nóng lên. Bối cảnh này không chỉ chi phối các nước lớn mà còn tác động đến Việt Nam, Campuchia và mối quan hệ này.
Sự vận động của chính trị quốc tế thời kì này chủ yếu gắn liền với tình trạng mâu thuẫn và xung đột. Sự thiếu vắng niềm tin là phổ biến. Những nỗ lực để đạt được niềm tin chính trị là rất khó khăn và trong nhiều trường hợp là không đạt được. Sau cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ ở Việt Nam, cục diện và tương quan lực lượng mới cùng với những điều chỉnh trong chính sách của Mỹ, Liên Xô tại Đông Nam Á có liên quan mật thiết đến những diễn biến chính trị quốc tế của khu vực, bao gồm xu thế hòa dịu trong quan hệ giữa khối các quốc gia Đông Dương và ASEAN lẫn tình trạng ngày một xấu đi trong quan hệ Việt Nam – Campuchia và dẫn đến chiến tranh bùng nổ.
Những chuyển biến trong quan hệ quốc tế đã tác động mạnh mẽ đến quan hệ giữa Việt Nam và các nước láng giềng. Năm 1975, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi, đế quốc Mỹ phải chấp nhận thất bại và rút quân đội về nước. Thắng lợi của Việt Nam có sự giúp đỡ quan trọng từ Liên Xô về cả kinh tế, quân sự lẫn chính trị trên trường quốc tế. Trong bối cảnh các nước trên thế giới tăng cường mở rộng quan hệ thì quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam là: “Đối với hệ thống xã hội chủ nghĩa, chúng ta ra sức tăng cường đoàn 10 kết hữu nghị, tăng cường hợp tác kinh tế với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004, tr.
Từ giữa những năm 1960, các thế lực đế quốc đã mưu tính nắm trọn vấn đề Campuchia, phá hoại mặt trận đoàn kết nhân dân các nước ở Đông Dương, làm suy giảm tinh thần cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam (Bộ Ngoại giao, 1979, tr. Các thế lực đế quốc hậu thuẫn cho Lon Nol tiến hành cuộc đảo chính, lật đổ Sihanouk – người đứng đầu chính quyền trung lập ở Campuchia từ năm 1954. Hành động này của Lon Nol đã đưa Campuchia vào quỹ đạo cuộc chiến tranh tại Đông Dương. Tuy nhiên dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Campuchia và sự giúp đỡ của Việt Nam, ngày 17/4/1975, nước Campuchia đã được giải phóng, hoàn toàn thoát khỏi sự thống trị của chính quyền Lon Nol do Mỹ dựng nên.
Tuy nhiên, các thế lực đế quốc đã hậu thuẫn cho tập đoàn Pol Pot chiếm quyền lãnh đạo Đảng Cộng sản Campuchia, gạt bỏ Quốc trưởng Sihanouk để thiết lập một chế độ độc tài, phát xít và diệt chủng đối với nhân loại. Xét về bối cảnh khu vực thì lợi ích của các nước lớn và sự tương tác giữa các quốc gia này đã chi phối quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á và tác động trực tiếp đến các quốc gia trong khu vực. Với tầm quan trọng về địa chính trị, Đông Nam Á mà cụ thể hơn là Đông Dương, có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn sau cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Dù căn bản vẫn chịu sự chi phối của Chiến tranh Lạnh, lợi ích các nước lớn ngày càng gia tăng xung đột, đan xem cả lợi ích quốc gia, nhưng quan hệ Việt Nam – ASEAN, ngay sau Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết (01/1973), đã cho thấy xu thế hòa dịu, hợp tác có bước tiến triển dù đó chỉ là những bước ban đầu.
Thực chất, xu thế này không những không tách rời đó là hệ quả của vận động Liên Xô – Mỹ. Dù còn mong manh, nhưng nền tảng cho sự hòa dịu này đến từ sự gặp gỡ của tư tưởng trung lập của cả hai phía, dù cho nhận thức về cấu trúc và mức độ trung lập vẫn khác biệt. Về phía ASEAN, tuy có nhiều cách diễn giải từ bên ngoài phản ánh việc tổ chức khu vực này vận hành theo như một khối quân sự, song thực chất, ngay tiền đề cho sự ra đời của ASEAN năm 1967 cũng đã có phần dựa trên nền tảng của chủ nghĩa 11 trung lập hướng đến mục tiêu xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực tự do trước bất kì một hình thức hoặc khả năng can thiệp của các nước ngoài như trong Tuyên bố Kuala Lumpur 1971 của ASEAN nhấn mạnh. Về phía Việt Nam, đối mặt với những nhiệm vụ nặng nề, khó khăn sau chiến tranh, nên Việt Nam muốn thực thi một đường lối đối ngoại mang tính cân bằng ở cả hai tuyến quan hệ Liên Xô và Mỹ.
Một mặt, Việt Nam vẫn tiếp tục quan hệ đồng minh xã hội chủ nghĩa với Liên Xô, mặc khác, Việt Nam cũng tìm kiếm khả năng cân bằng trong quan hệ với cả hai siêu cường thông qua động thái tích cực thúc đẩy tiến trình thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ. Trong nội khối xã hội chủ nghĩa, Việt Nam muốn tìm kiếm sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa nên rất mong có được cho mình trạng thái cân bằng. Mặc khác, đây cũng là một phương thức kết hợp để chủ trương cân bằng này thành hiện thực, Việt Nam phải tìm cách xích lại gần các nước ASEAN, lắp dần những khoảng cách bị đào sâu và chia rẽ trước đó. Sau cuộc chiến tranh giành độc lập của Việt Nam, khu vực đã hình thành một đối trọng trong quan hệ với các nước lớn ở Đông Nam Á và xuất hiện cục diện mới.
Các nước ASEAN tìm thấy đường lối mới của Việt Nam, những điểm tương đồng khi niềm tin của họ vào sức mạnh quân sự của Mỹ để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á từ lâu đã bị xói mòn và cuối cùng đã bị sụp đổ hoàn toàn với việc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam và Đông Nam Á. Tuy vẫn chịu sự chi phối của ý thức hệ Chiến tranh Lạnh, nhưng nhận thức của ASEAN về mối nguy cơ cộng sản đến từ các thế lực có khả năng xâm nhập trực tiếp vào lãnh thổ của họ chứ không phải là một hình thái xã hội. Điển hình là Malaysia, quốc gia có vai trò quan trọng trong việc hình thành khái niệm trung lập của chủ nghĩa khu vực Đông Nam Á với sáng kiến của Thủ tướng Tunku Abdul Rahman đã khẳng định rằng: “Mối đe dọa của các hành động phá hoại từ phía chủ nghĩa cộng sản không phải xuất phát từ Liên Xô mà là từ Đảng Cộng sản Indonesia” (Bugaturov Aleksey Demofenovich, Averkov Viktor Viktorovich, 2015, tr. Do đó Việt Nam hẳn không khiến các nước ASEAN phải quá lo sợ, mặt nào đó, chính Việt Nam được coi là đối tác tiềm năng với các quốc gia ASEAN cho mục tiêu trung lập hóa của khu vực, ngăn chặn những tham vọng của các thế lực đế quốc.
Tiến tới một chủ nghĩa khu vực hòa bình, tự do và trung lập ở Đông Nam Á, với nội 12 hàm quan trọng nhất là không có sự can thiệp của các nước khác vào công việc của các nước trong khu vực, trong đó có sự tham dự của các quốc gia cộng sản Đông Dương là chính sách mà ASEAN lựa chọn sau khi Việt Nam thống nhất. Qua cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Việt Nam, ngay từ đầu đã là hệ quả của rất nhiều xung đột quốc tế và khu vực đan xen, phức tạp. Nguyên căn của những xung đột này là đối đầu ý thức hệ và các mâu thuẫn về lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia được khơi lên bởi chủ nghĩa nước lớn, bá quyền, vị kỉ, cực đoan. Từ cội nguồn sâu thẳm này, các yếu tố ở cấp độ quốc tế đã không tạo ra cục diện đảm bảo an ninh, hòa bình cho khu vực thậm chí còn góp phần dung túng, nuôi dưỡng các thế lực gây nên bất ổn và xung đột.
Điển hình là chính sách và thái độ của các thế lực đế quốc trong việc kích động, tiếp tay hoặc làm ngơ trước tinh thần hận thù dân tộc cực đoan và các tham vọng lãnh thổ của tập đoàn phản động Pol Pot – Ieng Sary. Trong lúc đó, sự hòa hoãn và hợp tác đã chớm xuất hiện trong quan hệ giữa khối nước Đông Dương với ASEAN từ sau Hiệp định Paris năm 1973 lẽ ra là một xu hướng tốt cho việc xây dựng Đông Nam Á trở thành khu vực tự do, hòa bình, trung lập. Nhưng trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh và sự chi phối của các nước lớn, Đông Nam Á quay trở lại sự chia rẽ, đối đầu, xoay quanh diễn biến xung đột trên bán đảo Đông Dương. Tình hình trong nước Với Đại thắng mùa Xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi.