Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Đóng góp của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư giai đoạn trước 1945" do nghiên cứu sinh Hồ Thị Thanh Thủy thực hiện tại Trường Đại học Vinh (năm 2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đinh Trí Dũng và PGS.TS. Phan Huy Dũng, thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (Mã số: 9.21).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX, Lưu Trọng Lư được ghi nhận là một trong những gương mặt khởi xướng phong trào Thơ mới. Tuy nhiên, trước năm 1945, bên cạnh di sản thơ ca, ông còn để lại một khối lượng sáng tác văn xuôi đáng kể với 27 truyện ngắn và 27 tiểu thuyết. Thực tế nghiên cứu văn học sử cho thấy mảng thơ của Lưu Trọng Lư đã được khảo sát kỹ lưỡng, trong khi bộ phận văn xuôi tự sự của ông lại chưa nhận được sự quan tâm tương xứng. Sự khuất lấp này xuất phát từ việc văn đàn giai đoạn 1930–1945 xuất hiện nhiều cây bút văn xuôi nổi tiếng cùng khuynh hướng lãng mạn hoặc hiện thực, khiến văn xuôi Lưu Trọng Lư bị đánh giá mờ nhạt hoặc phiến diện.

Năm 2011, bộ sách Lưu Trọng Lư, Tác phẩm – truyện ngắn và tiểu thuyết (trọn bộ 2 tập, dung lượng 1145 trang khổ 16x24 cm) do Lại Nguyên Ân và Hoàng Minh sưu tầm, biên soạn được ấn hành, cung cấp hệ thống tư liệu đầy đủ về mảng sáng tác này. Do đó, việc nghiên cứu văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945 là yêu cầu học thuật cấp thiết nhằm đánh giá toàn diện diện mạo tác gia, làm rõ quá trình giao lưu văn hóa Đông – Tây và bổ sung những nhận định xác đáng về bức tranh văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích bao quát của luận án là đánh giá toàn diện vị thế của Lưu Trọng Lư với tư cách một nghệ sĩ đa năng trên nhiều thể loại, đồng thời bổ sung và điều chỉnh các nhận định về đặc điểm, thành tựu của văn xuôi tự sự Việt Nam giai đoạn 1930–1945 trên cơ sở nguồn tư liệu văn bản đã được công bố đầy đủ.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 4 nội dung:

  1. Tổng thuật tình hình nghiên cứu về sáng tác của Lưu Trọng Lư nói chung, văn xuôi tự sự của ông nói riêng; đồng thời minh định các khái niệm, thuật ngữ then chốt phục vụ nghiên cứu.
  2. Nhận diện và phân tích những nét riêng về khuynh hướng thẩm mỹ trong văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trong mối quan hệ với các khuynh hướng thẩm mỹ chủ đạo của văn học Việt Nam giai đoạn 1930–1945.
  3. Làm sáng tỏ những đặc điểm của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trên phương diện hệ thống đề tài và hệ thống hình tượng nhân vật qua sự so sánh đồng đại với các cây bút cùng thời.
  4. Chỉ ra, phân tích và đánh giá các kiểu lựa chọn nghệ thuật mang tính đặc thù trong văn xuôi tự sự của Lưu Trọng Lư trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những đóng góp về nội dung tư tưởng, khuynh hướng thẩm mỹ, đề tài, hình tượng và phương thức nghệ thuật của mảng văn xuôi tự sự do Lưu Trọng Lư sáng tác trước năm 1945.
  • Phạm vi tư liệu khảo sát: Trọng tâm khảo sát là 27 truyện ngắn và 27 tiểu thuyết của Lưu Trọng Lư sáng tác trước năm 1945 được in trong bộ sách Lưu Trọng Lư, Tác phẩm – truyện ngắn và tiểu thuyết (2 tập, Nxb Lao Động – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2011).
  • Phạm vi so sánh, đối chiếu: Luận án mở rộng khảo sát các tác phẩm văn xuôi tự sự cùng thời kỳ của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Đỗ Tốn, Khái Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng; đồng thời liên hệ đối chiếu với văn xuôi 30 năm đầu thế kỷ XX (Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn) và văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam.
Tiêu chí Nội dung xác lập trong luận án
Cơ quan đào tạo Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành / Mã số Văn học Việt Nam / Mã số: 9.21
Tác gia nghiên cứu Lưu Trọng Lư (1911–1991)
Quy mô tư liệu chính 27 truyện ngắn và 27 tiểu thuyết sáng tác trước năm 1945
Văn bản nguồn chính Lưu Trọng Lư, Tác phẩm – truyện ngắn và tiểu thuyết (2 tập, 2011)
Thời gian - Không gian khảo sát Giai đoạn văn học 1930–1945 tại Việt Nam (không gian Hà Nội, Huế, Quảng Bình)

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành phân loại và tổng thuật toàn diện lịch sử nghiên cứu theo 4 nhóm vấn đề chính:

                                  TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Lý thuyết văn       Ảnh hưởng phương Tây         Vị trí Lưu Trọng Lư       Nghiên cứu văn xuôi
xuôi tự sự          & Hiện đại hóa               trước & sau 1945          Lưu Trọng Lư
(Pospelov, Todorov, (Dương Quảng Hàm,            (Hoài Thanh, Vũ Ngọc      (Phan Khôi, Vũ Ngọc
Trần Đình Sử...)    Bùi Đức Tịnh...)             Phan, Hà Minh Đức...)     Phan, Lại Nguyên Ân...)

1. Nghiên cứu lý thuyết về văn xuôi tự sự

  • Học giả quốc tế: Tác giả điểm lại các công trình nền tảng về lý luận thể loại của G. Pospelov (Dẫn luận nghiên cứu văn học), J. Culler, F. Lyotard, Tz. Todorov (Ngữ pháp Câu chuyện mười ngày, 1969 - khởi xướng thuật ngữ Tự sự học / Narratology), R. Barthes, S. Chatman, G. Prince. Các công trình này xác lập cấu trúc hai tầng bậc của tự sự (diễn ngôn/discours và câu chuyện/histoire) cùng vai trò trung tâm của nhân vật, cốt truyện, điểm nhìn và hành vi trần thuật.
  • Học giả trong nước: Tiếp thu quan điểm từ Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu), Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên), Vương Trí Nhàn, Nguyễn Đăng Na (Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại), Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Nghĩa Trọng, Hà Minh Đức (Lý luận văn học), Trần Đình Sử (Tự sự học - một số vấn đề lý luận và lịch sử), Nguyễn Thái Hòa. Văn xuôi tự sự được xác định là loại hình văn học phản ánh hiện thực qua nhân vật, biến cố, hành động và lời trần thuật khách quan, phân biệt tương đối với văn xuôi trữ tình.

2. Nghiên cứu về ảnh hưởng của văn học phương Tây đối với quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam

  • Trước 1945: Dương Quảng Hàm phân tích sự biến đổi của luân lý, ngôn ngữ, cú pháp và tư duy học thuật dưới tác động của văn hóa Pháp; Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam nhấn mạnh sự thâm nhập của phương Tây trên mọi phương diện đời sống vật chất và tư tưởng, tạo tiền đề cho phong trào quốc văn mới.
  • Sau 1945: Bùi Đức Tịnh (Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết & Thơ mới) khảo sát quá trình tiếp biến văn hóa Pháp ở văn học Nam Bộ; Phạm Thế Ngũ nhận diện các trào lưu lãng mạn, tả chân, tượng trưng, hiện tượng phỏng tác cốt truyện phương Tây ở Hồ Biểu Chánh (Ai làm được, Chúa Tàu Kim Qui, Cay đắng mùi đời, Ngọn cỏ gió đùa) và Phạm Duy Tốn; Phan Cự Đệ, Đỗ Lai Thúy, Huỳnh Lý, Đặng Anh Đào, Đào Duy Hiệp tiếp tục làm rõ quá trình Âu hóa trong cấu trúc thể loại văn xuôi.

3. Nghiên cứu khái quát về vị trí Lưu Trọng Lư trong bức tranh văn học trước 1945

  • Trước 1945: Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu), Hoài Thanh – Hoài Chân (Thi nhân Việt Nam), Lê Tràng Kiều (bài viết trên Hà Nội báo, 1936), Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại) đều khẳng định vai trò mở đường và cổ vũ phong trào Thơ mới của Lưu Trọng Lư qua các bài diễn thuyết tại Quy Nhơn (1934), tập thơ Tiếng thu, bài thơ Mùa thu, Trên đường đời, Vắng khách thơ.
  • Sau 1945: Phạm Thế Ngũ, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức và Nguyễn Văn Thành (Lưu Trọng Lư - Về tác gia và tác phẩm), Lê Thị Đức Hạnh (1991), Nguyễn Văn Long (1987) khẳng định Lưu Trọng Lư là nghệ sĩ tài hoa, nhạy bén với những chuyển biến của thời đại, đắm chìm trong thế giới mộng và sầu.

4. Nghiên cứu chuyên sâu về văn xuôi tự sự sáng tác trước 1945 của Lưu Trọng Lư

  • Trước 1945: Ý kiến đánh giá có sự phân cực rõ nét. Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại xếp Lưu Trọng Lư vào hàng "nhà tiểu thuyết rất tầm thường" với cốt truyện lỏng lẻo, giọng văn buồn tẻ, kể chuyện lôi thôi, tùy hứng; ngược lại, Phan Khôi đánh giá cao tập truyện ngắn đầu tay Người sơn nhân (1933), coi đây là tác phẩm mở đầu cho cõi tư tưởng của văn nghệ mới; Lê Tràng Kiều đăng các bài viết trên Hà Nội báo và Tiểu thuyết thứ năm (1936, 1938) nhiệt liệt bênh vực tiểu thuyết Khói lam chiều và khen ngợi Nàng công chúa Huế.
  • Sau 1945: Nguyễn Văn Long (1987) chỉ ra Lưu Trọng Lư viết văn xuôi thiên về cảm xúc chủ quan ("để lòng mình tràn lan trên trang giấy"), ít chú trọng cấu trúc cốt truyện xã hội phức tạp, phân tích các tác phẩm Người sơn nhân, Con chim sổ lồng, Ly tao tuyệt vọng, Khói lam chiều, Chiếc cáng xanh; Lưu Khánh Thơ trong Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (tập 1) tóm tắt, phân tích 7 tác phẩm; Lại Nguyên Ân (2011) trong bài khảo luận tổng quát đã chỉ ra sự kết hợp giữa chất thơ và chất văn xuôi, dấu ấn không gian ba vùng đất (Quảng Bình, Huế, Hà Nội), sự chuyển dịch đề tài từ thần tiên, kỳ ảo sang hiện thực phong tục và kiểu nhân vật mang tâm lý thất bại. Một số luận văn thạc sĩ của Hồ Thị Thanh Thủy (2012), Trần Hoài Ngọc (2012), Lê Phương Thảo (2013) bước đầu tiếp cận các khía cạnh phong cách truyện ngắn và truyện dài.

Khoảng trống nghiên cứu: Trước luận án này, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện, có hệ thống trên toàn bộ 27 truyện ngắn và 27 tiểu thuyết của Lưu Trọng Lư để định vị chính xác những đóng góp mang tính loại hình và thi pháp của mảng văn xuôi này trong tiến trình văn học Việt Nam 1930–1945.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và hệ khái niệm công cụ

  1. Khái niệm Văn xuôi tự sự: Được xác định trên cơ sở phân biệt với văn xuôi trữ tình và văn xuôi nghị luận. Đây là bộ phận sáng tác bằng văn xuôi thuộc loại hình tự sự, lấy việc trần thuật sự kiện, khắc họa nhân vật, tổ chức cốt truyện và tái hiện thế giới khách quan làm phương thức biểu đạt trung tâm, tích hợp các yếu tố trữ tình dựa trên phong cách cá nhân của nhà văn.
  2. Khái niệm Khuynh hướng thẩm mỹ (Aesthetic Tendency): Chỉ thiên hướng ổn định trong việc lựa chọn phương tiện, kỹ thuật, chất liệu nghệ thuật nhằm thể hiện cái đẹp và các phạm trù mỹ học (cái bi, cái cao cả, cái hài). Luận án khu biệt và ứng dụng hai khái niệm:
    • Khuynh hướng thẩm mỹ cổ điển: Thiên hướng vươn tới cái đẹp chuẩn mực, trang trọng, mực thước, ưa chuộng tính chất hài hòa, cân đối, đặt con người trong tương quan gắn kết với thiên nhiên và vũ trụ.
    • Khuynh hướng thẩm mỹ thị dân: Nảy sinh từ quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa, hướng vào cái tôi cá nhân, khẳng định cảm xúc bản năng, đời sống riêng tư và khát vọng giải phóng tình cảm cá nhân thoát khỏi các quy phạm đạo đức phong kiến.
  3. Lý thuyết Tự sự học (Narratology): Vận dụng các luận điểm về người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật (tiêu điểm, khoảng cách, phương vị), kết cấu cốt truyện và thi pháp không – thời gian nghệ thuật.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu văn học chuyên ngành:

                           HỆ THỐNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tiếp cận thi      Cấu trúc -       Phương pháp       Phương pháp       Lịch sử -
pháp học          hệ thống         loại hình         so sánh           xã hội
(Văn bản, ngôn    (Chỉnh thể tác   (Nhóm văn xuôi    (Đồng đại 1930-45 (Bối cảnh đô thị,
từ, hình tượng)   phẩm & thời đại) trữ tình/lãng mạn)& Lịch đại)       Âu hóa, tiếp biến)
  • Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Trực tiếp khảo sát cấu trúc văn bản ngôn từ của 27 truyện ngắn và 27 tiểu thuyết nhằm giải mã quan niệm nghệ thuật về con người, cách tổ chức không gian - thời gian, hệ thống mô típ và phương thức trần thuật.
  • Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Đặt văn xuôi Lưu Trọng Lư như một hệ thống nghệ thuật chỉnh thể, đồng thời xem xét nó như một phân hệ vận động trong chỉnh thể văn học Việt Nam giai đoạn 1930–1945.
  • Phương pháp loại hình: Nhận diện vị trí của văn xuôi Lưu Trọng Lư trong loại hình văn xuôi tự sự giàu chất trữ tình, đối chiếu tương đồng và khác biệt với các tác giả cùng loại hình như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Đỗ Tốn.
  • Phương pháp so sánh: Thực hiện so sánh đồng đại (với các nhóm tác giả Tự Lực văn đoàn, nhóm văn học hiện thực phê phán) và so sánh lịch đại (với truyện truyền kỳ, tiểu thuyết chương hồi trung đại và văn xuôi 30 năm đầu thế kỷ XX).
  • Phương pháp lịch sử – xã hội: Đặt tác phẩm vào bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến đang diễn ra quá trình đô thị hóa, Tây hóa và tiếp nhận văn hóa Pháp.
  • Các thao tác bổ trợ: Khảo sát văn bản, thống kê - phân loại dữ liệu, phân tích và tổng hợp văn học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các công trình lý thuyết về văn xuôi tự sự, tự sự học của các học giả phương Tây (Pospelov, Todorov, Chatman, Prince, Barthes) và các nhà nghiên cứu Việt Nam (Dương Quảng Hàm, Phạm Thế Ngũ, Đặng Anh Đào, Trần Đình Sử, Nguyễn Đăng Na). Chương này làm rõ bối cảnh tiếp biến văn hóa Pháp trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc, phân tích lịch sử tiếp nhận trước tác Lưu Trọng Lư ở cả hai mảng thơ và văn xuôi qua các giai đoạn trước và sau 1945. Qua đó, tác giả luận án khẳng định khoảng trống học thuật cần giải quyết là nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về 54 tác phẩm văn xuôi tự sự trước 1945 của Lưu Trọng Lư.

Chương 2: Sự hòa trộn các khuynh hướng thẩm mỹ trong văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945

Chương 2 tập trung giải mã sự đan xen giữa hai khuynh hướng thẩm mỹ chủ đạo:

  • Khuynh hướng thẩm mỹ cổ điển: Thể hiện qua sự kế thừa các yếu tố thi pháp truyền thống, quan niệm về cái đẹp trang nhã, mực thước, việc sử dụng các môtip ước lệ, kết cấu mang âm hưởng truyền kỳ, cổ tích, và cảm quan gắn bó giữa số phận con người với quy luật tự nhiên, trời đất.
  • Khuynh hướng thẩm mỹ thị dân: Bắt nguồn từ thực tiễn lối sống đô thị mới, đề cao ý thức cá nhân, giải phóng cảm xúc riêng tư, miêu tả những rung động tinh tế, bồng bột của tình yêu đôi lứa, đồng thời phơi bày mặt trái của lối sống kim tiền nơi phố thị.
  • Sự tiếp biến và nguyên tắc phản ánh – biểu hiện:
    • Chú ý đến những uẩn khúc trong tình cảm nhân vật: Khám phá chiều sâu tâm lý phức cảm, trạng thái lưỡng lự giữa bổn phận và dục vọng cá nhân.
    • Chú ý miêu tả những thân phận phụ nữ không may mắn: Khắc họa số phận những người phụ nữ chịu nhiều oan trái, thiệt thòi bởi định kiến lễ giáo phong kiến và hoàn cảnh xã hội (gái quê lỡ bước, người vợ chịu cảnh phụ bạc, phụ nữ truân chuyên).
    • Phối trí hài hòa không gian xa xăm với không gian cụ thể: Kết hợp giữa cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ, huyền ảo (núi rừng Quảng Bình, chùa chiền, hang động) với các địa hạt sinh hoạt đời thường cụ thể (phố xá Hà Nội, chốn đô thị, sông Hương xứ Huế).

Chương 3: Dấu ấn của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945 ở hệ thống đề tài và hệ thống hình tượng

Chương 3 chỉ ra những nét riêng biệt của văn xuôi Lưu Trọng Lư trong bức tranh chung của văn học Việt Nam thời kỳ 1930–1945:

                            HỆ THỐNG ĐỀ TÀI & HÌNH TƯỢNG ĐẶC THÙ
     HỆ THỐNG ĐỀ TÀI                                                 HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG
  • Hệ thống đề tài:
    • Đề tài con người trong môi trường đô thị: Phản ánh sự va đập giữa lối sống mới và nếp sống truyền thống, những cám dỗ vật chất và bi kịch tha hóa của con người trong không gian thành thị.
    • Đề tài con người lỡ vận: Miêu tả những trí thức nghèo, những số phận lận đận, bất đắc chí, bất lực trước thực tại xã hội.
    • Đề tài kỷ niệm riêng tư: Tái hiện không gian văn hóa, gia đình dòng tộc và phong cảnh ba vùng đất gắn bó với cuộc đời nhà văn: chốn đồi núi làng quê Quảng Bình, nét trầm mặc của xứ Huế, và sự sôi động, phức tạp của Hà Nội.
  • Hệ thống hình tượng con người:
    • Hình tượng con người mang tâm lý thất bại: Những nhân vật dễ đầu hàng số phận, bế tắc, chịu sự chi phối khắc nghiệt của hoàn cảnh dòng tộc, gia đình hoặc sự khác biệt tôn giáo.
    • Hình tượng con người chìm đắm trong ái tình: Tình yêu được nâng lên thành cứu cánh duy nhất của sự tồn tại, vượt qua các ranh giới xã hội, ranh giới cõi tiên – cõi tục, thần thánh – con người.
    • Hình tượng con người mộng ảo: Những nhân vật sống nhiều với nội tâm, hoài niệm, luôn ở trong trạng thái phiêu lãng, mơ màng, lẫn lộn giữa thực và mộng.

Chương 4: Những kiểu lựa chọn nghệ thuật đặc thù trong văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945

Chương 4 khảo sát các thao tác thi pháp làm nên diện mạo văn phong Lưu Trọng Lư:

  • Sử dụng và cải biến các mô típ của chủ nghĩa lãng mạn: Vận dụng các mô típ kinh điển (cuộc hạnh ngộ kỳ lạ, giấc mộng, người đàn bà bí ẩn, căn nhà cổ, tiếng đàn trong đêm) nhưng được bản địa hóa, lồng ghép vào bối cảnh phong thổ và tâm thức người Việt.
  • Nhào nặn chất liệu hiện thực theo hướng phong tục hóa: Tác giả phân biệt rõ sự khác nhau giữa xu hướng phong tục hóa và xu hướng tiểu thuyết hóa. Lưu Trọng Lư chú trọng tái hiện tỉ mỉ các phong tục tập quán cổ truyền như tục phạt vạ gái chửa hoang (Khói lam chiều), tục chặn đường đám cưới để xin nộp cheo (Chiếc cáng xanh), các quy tắc gia tộc phụ hệ (Dòng họ), mang lại giá trị ghi chép văn hóa xã hội sâu sắc.
  • Tạo sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất văn xuôi và chất thơ:
    • Cái nhìn thơ về hiện thực: Quan sát đời sống qua lăng kính thẩm mỹ giàu cảm xúc trữ tình, nắm bắt những biến thái mong manh của thiên nhiên và tâm hồn.
    • Bình diện ngôn ngữ và giọng điệu: Câu văn giàu nhạc tính, nhiều liên tưởng bất ngờ; giọng điệu trần thuật mang âm hưởng u hoài, sầu mộng, tâm tình, chia sẻ.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác lập các đóng góp khoa học mới trên cả bình diện lý luận và thực tiễn:

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học văn học

  • Đánh giá toàn diện tác gia: Khẳng định Lưu Trọng Lư không chỉ là nhà thơ khởi xướng Thơ mới mà còn là một cây bút văn xuôi sung sức với 54 tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết, đóng góp tích cực vào sự phân hóa đa dạng của văn xuôi thời kỳ 1930–1945.
  • Cung cấp luận cứ về tiếp nhận ảnh hưởng phương Tây: Làm sáng tỏ cơ chế tiếp nhận văn học Pháp và văn học phương Tây ở một tác gia cụ thể, chỉ ra con đường kết hợp giữa tinh thần lãng mạn phương Tây với chất liệu văn hóa, phong tục truyền thống dân tộc.
  • Làm rõ tính dung hợp thể loại: Chứng minh sự giao thoa đặc thù giữa thể loại thơ và văn xuôi tự sự trong sáng tác của một tác giả song hành hai tư cách nghệ sĩ.

Kiến nghị và giải pháp ứng dụng

  • Ứng dụng trong nghiên cứu khoa học: Cung cấp nguồn tư liệu và khung phân tích cho các công trình nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, nghiên cứu loại hình văn xuôi tự sự và thi pháp học tác giả.
  • Ứng dụng trong giảng dạy đại học và sau đại học: Làm tài liệu tham khảo chuyên đề cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn học Việt Nam và Lý luận văn học khi tìm hiểu về quá trình hiện đại hóa văn học nửa đầu thế kỷ XX.
  • Ứng dụng trong giáo dục phổ thông: Bổ sung tư liệu văn học sử và văn bản học cho giáo viên Ngữ văn trung học phổ thông khi giảng dạy các bài học về tác gia Lưu Trọng Lư và tiến trình văn học giai đoạn 1930–1945.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo giới hạn phạm vi đề tài, luận án chỉ tập trung khảo sát 54 tác phẩm văn xuôi tự sự sáng tác trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 được công bố trong bộ sách của Lại Nguyên Ân và Hoàng Minh (2011). Luận án chưa thể bao quát toàn bộ các bài báo, bài tiểu luận tản mạn có thể còn thất lạc trên các báo chí thời kỳ 1933–1945, cũng như chưa khảo sát mảng văn xuôi tự sự và kịch bản của Lưu Trọng Lư ở giai đoạn sau năm 1945.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục sưu tầm, khảo dị các văn bản văn xuôi đăng báo thời kỳ 1930–1945 chưa được in thành sách của Lưu Trọng Lư.
    • Triển khai nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa bộ phận văn xuôi tự sự trước 1945 và bộ phận văn xuôi, ký sự, hồi ký, kịch bản sân khấu của Lưu Trọng Lư sau năm 1945 nhằm đánh giá toàn bộ tiến trình vận động tư tưởng nghệ thuật của tác gia.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng cụ thể trong nghiên cứu và đào tạo văn học:

Nhóm đối tượng Hạng mục nội dung đáng tham khảo Giá trị ứng dụng thực tiễn
Nghiên cứu sinh, Học viên cao học Chương 1 (Tổng quan & Khung lý thuyết Tự sự học), Chương 2 (Tiếp biến khuynh hướng thẩm mỹ) Phương pháp luận nghiên cứu tác gia, cách phân lập khuynh hướng thẩm mỹ và xử lý tổng quan tài liệu
Giảng viên đại học Chương 3 (Hệ đề tài, hình tượng) và Chương 4 (Thi pháp phong tục hóa, văn xuôi kết hợp chất thơ) Giáo trình giảng dạy chuyên đề Văn học Việt Nam 1930–1945, Thi pháp học tác phẩm tự sự
Giáo viên Ngữ văn THPT Phân tích tác phẩm tiêu biểu (Khói lam chiều, Chiếc cáng xanh, Người sơn nhân) Bổ sung tư liệu văn học sử trực quan, mở rộng kiến thức bài giảng tác gia Lưu Trọng Lư và phong trào Thơ mới
Nhà nghiên cứu văn hóa - lịch sử Phần khảo sát tư liệu phong tục tập quán miền Trung và đời sống đô thị trước 1945 Khai thác cứ liệu văn học như bằng chứng lịch sử văn hóa về phong tục làng xã và đời sống xã hội thuộc địa

Câu hỏi thường gặp

1. Khối lượng tư liệu văn xuôi tự sự trước 1945 của Lưu Trọng Lư được luận án khảo sát bao gồm những gì?
Luận án khảo sát toàn bộ 27 truyện ngắn và 27 tiểu thuyết sáng tác trước năm 1945 của Lưu Trọng Lư, được tập hợp trong bộ sách Lưu Trọng Lư, Tác phẩm – truyện ngắn và tiểu thuyết (trọn bộ hai tập, 1145 trang khổ 16x24 cm) do Lại Nguyên Ân và Hoàng Minh sưu tầm, biên soạn, Nxb Lao Động – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây xuất bản năm 2011.

2. Vì sao trước đây mảng văn xuôi tự sự của Lưu Trọng Lư ít được chú ý và bị đánh giá khắt khe?
Có hai nguyên nhân chính được văn bản nêu rõ: Thứ nhất, Lưu Trọng Lư quá nổi tiếng ở vai trò khởi xướng phong trào Thơ mới nên hào quang thơ ca làm lu mờ văn xuôi; thứ hai, ở giai đoạn 1930–1945 có nhiều cây bút văn xuôi cùng khuynh hướng nổi tiếng hơn, trong khi một số nhà phê bình như Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại) đánh giá khắt khe rằng tiểu thuyết của ông có cốt truyện lỏng lẻo, kể chuyện theo lối tâm tình tùy hứng, giọng buồn tẻ.

3. Khái niệm "khuynh hướng thẩm mỹ" trong luận án được định nghĩa như thế nào?
Khuynh hướng thẩm mỹ (Aesthetic Tendency) được luận án định nghĩa là thiên hướng lựa chọn phương tiện, kỹ thuật, chất liệu nhằm thể hiện cái đẹp (cùng các phạm trù cái bi, cái hài, cái cao cả) trong sáng tác nghệ thuật. Đây là biểu hiện cụ thể của quan niệm thẩm mỹ, chi phối cách hành xử, miêu tả, tổ chức hình tượng của tác giả.

4. Hai khuynh hướng thẩm mỹ nào hòa trộn trong văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945?
Đó là Khuynh hướng thẩm mỹ cổ điển (hướng về cái đẹp mực thước, trang trọng, hài hòa, kế thừa truyền thống mỹ học dân tộc và phương Đông) và Khuynh hướng thẩm mỹ thị dân (nảy sinh từ đời sống đô thị mới, đề cao cá nhân, giải phóng tình cảm riêng tư và khắc họa những biến động tâm lý của con người thời hiện đại).

5. Những nét riêng trong hệ thống hình tượng con người của văn xuôi Lưu Trọng Lư là gì?
Luận án xác định ba mô hình hình tượng nổi bật: Hình tượng con người mang tâm lý thất bại (bất lực trước hoàn cảnh dòng tộc, định kiến tôn giáo), Hình tượng con người chìm đắm trong ái tình (coi tình yêu là nguồn sống tối thượng, bất chấp ngăn cách), và Hình tượng con người mộng ảo (luôn hoài niệm, sống trong thế giới mộng mị, phiêu lãng).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hồ Thị Thanh Thủy là công trình khoa học đầu tiên khảo sát quy mô, toàn diện và có hệ thống trên toàn bộ 54 tác phẩm văn xuôi tự sự sáng tác trước năm 1945 của Lưu Trọng Lư. Công trình đã làm sáng tỏ sự hòa trộn giữa khuynh hướng thẩm mỹ cổ điển và thị dân, nhận diện hệ thống đề tài, hình tượng nhân vật độc trường cùng các lựa chọn nghệ thuật phong tục hóa và kết hợp chất thơ. Kết quả nghiên cứu không chỉ xác lập vị thế tác gia văn học trọn vẹn cho Lưu Trọng Lư trên cả hai lĩnh vực thơ ca và văn xuôi, mà còn cung cấp những luận cứ khoa học có giá trị cho lịch sử văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930–1945.