phần mở đầu của công trình. Những kiến giải đó phần nào đã làm sáng tỏ nguồn gốc, cấu trúc, tính chất của biểu tượng trong đời sống văn hóa nhân loại. Cũng trong phần này, các tác giả đã tiến hành sự phân loại và phân tích các chức năng của biểu tượng. Tóm lại có các chức năng sau: 1 - thăm dò những vùng miền nằm bên lề ý thức; 2 - là vật thay thế “cái không xác định của dự cảm”; 3 - trung gian: nối liền thực và mộng, ý thức và vô thức, vật chất và tinh thần, tự nhiên và văn hóa; 4 - là lực lượng thống nhất - liên kết các chiều sâu nội tại với cái siêu tại vô tận; 5 - giáo dục và tri liệu; 6 - xã hội hóa, nghĩa là đưa con người nhập sâu vào hiện thực, tạo sự lưu thông sâu sắc với môi trường xã hội; 7 - cộng hưởng tạo âm vang rung động trong ý thức cá nhân và tập thé; 8 - chức năng siêu nghiệm, kết nối, điều hòa những lực lượng đối kháng, mở đường cho sự tiến bộ của ý thức; 9 - chức năng biến đôi năng lượng tâm than.
Đây chỉ là một sự nghiên cứu và đánh giá có ý nghĩa thao tác. Các tác giả cũng đã lưu ý rằng trên thực tế, những chức năng này thực hiện đồng thời trong những mối quan hệ tương hợp, chi phối lẫn nhau. 14 Trên đây, chúng tôi điểm qua một số định nghĩa về biểu tượng từ góc độ văn hoá và tất yếu không tránh khỏi sự sơ lược và phiến diện so với thực tế đầy đa dạng và phức tạp. Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận thấy đây là một cái “phông” không thê thiếu dé chúng ta đi vào tiếp cận khái niệm từ góc độ mỹ học, lí luận văn học.
Xuất phát từ những nên tảng triết học khác nhau, các khuynh hướng, trường phải nghiên cứu phê bình văn học có những lý giải không giống nhau về biéu tượng. Trên cơ sở tiếp thu những hạt nhân hợp lý trong những quan niệm đó, dưới ánh sang phản ánh luận Mac - Lénin, mỹ học, lí luận văn học Maexit đã lý giải một cách thỏa đáng van đề biểu tượng trong văn học nghệ thuật. Tổng hợp những thành tựu mỹ học, lý luận văn học Maexit, các soạn giả của cuốn Tir điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa biểu tượng như sau: Trong nghĩa rộng biểu tượng thể hiện “đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng văn học nghệ thuật”. Văn học nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, phản ánh thế giới khách quan theo những nguyên tắc, phương thức, phương tiện riêng.
Hình tượng - phương tiện phản ánh đời sống của văn học nghệ thuật - vừa là sự tái hiện thé giới, đồng thời cũng là hiện tượng đầy tính ước lệ. Các tác giả đã lý giải: “Băng hình tượng, nghệ thuật sáng tạo ra một thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng”. Như vậy, theo nghĩa rộng khái niệm biểu tượng gan gũi với tính ước lệ trong van học nghệ thuật. Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là “một phương thức chuyển mã của lời nói” đặt bên cạnh ân dụ, hoán dụ hoặc là một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt “có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nao day, vừa thé hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lý sâu xa về con người và cuộc đời”.
Các tác giả còn nhắn mạnh: “Loại biểu tượng là hình tượng nghệ thuật thể hiện tập trung nguyên tắc phản ánh hiện thực thông 15 qua tính quan niệm, thông qua các mô hình đời sống của văn học nghệ thuật”. Từ điển cũng đã dé cập đến những phương diện khác của biểu tượng như: quá trình tạo nghĩa “có lịch sử lâu đời hàng vạn năm, gắn với quá trình hình thành quan niệm về thé giới của con người cô xưa”, sự bổ sung bồi đắp ý nghĩa của biểu tượng, sự chi phối của yếu tố dân tộc, thời đại và cá tính sang tạo của nhà văn đối với biểu tượng. Trong khuôn khổ một Tir điển thuật ngữ, những luận giải trên đây đã bao quát được khá toàn diện các khía cạnh của biểu tượng với tư cách là thuật ngữ của mỹ học, lý luận văn học. Như vậy, ở phần trên, qua một số định nghĩa về biểu tượng, chúng ta có thé hình dung sơ bộ về khái niệm trong toàn bộ sự đa dạng và phức tạp của nó.
Nhưng càng tiến tới định hình một ý niệm về biểu tượng, ta càng nhận thấy con đường di tìm cho biểu tượng một định nghĩa gần như nghịch chiều với bản chất của nó. Sự cứng nhắc của khái niệm rất dễ làm biểu tượng mất đi sự sống động và trở nên xơ cứng. Tuy nhiên như Phan Ngọc đã nói, khái niệm là cây gậy chống của tư duy, chúng tôi buộc phải xác định cho mình giới hạn của khái niệm với tư cách là công cụ dé thực hiện dé tài. Ngay phan sau đây, chúng tôi sẽ trình bày khái niệm biểu tượng từ góc độc tiếp cận của mình, tất nhiên đặt trong mối quan hệ với bản chất xuyên suốt của biểu tượng.
Biểu tượng trong văn học nghệ thuật - một loại hình tượng đặc biệt Đề hiểu rõ biểu tượng như một yếu tố thuộc bản thể tác phẩm văn học, trước hết, chúng tôi xin bàn về một số vấn đề xung quanh nguồn gốc, vai trò, ý nghĩa của biểu tượng trong đời sống tinh thần con người - đối tượng phản ánh trung tâm của văn học nghệ thuật. Từ xa xưa, khi con người bắt đầu thoát thai khỏi loài thú, cái gọi là biểu tượng đã tồn tại như một bộ phận cau thành đời sống tỉnh thần con người va từ 16 bấy đến nay âm thầm xây cất nên nền tảng văn hoá nhân loại. Quả thực, con người sống giữa một “rừng biểu tượng” - như cách nói của chủ soái thi phái tượng trưng Pháp Baudelaire - điều đó có nghĩa là cả một thế giới biểu tượng sống trong con người. Sự tạo thành biểu tượng trong tâm thức nhân loại là một quá trình vô thức, nhưng tự bản thân chúng thể hiện nỗ lực của con người muốn xuyên qua bức man mo mit của hiện thực, vượt lên những kinh nghiệm cua cá nhân, đơn lẻ để nhận thức về một thực tại tong thé toan ven.
Khong phai ngau nhién ma khát khao khám phá những bi an là khát vọng thường trực trong bản tinh con nguoi. Cac nhà Phan tâm hoc là những người di tiên phong trong việc phát hiện và “chính danh” vị trí cho thế giới vô thức trong ngôi nhà tinh thần của con người. Lần đầu tiên người ta sửng sốt nhận ra vô thức là người bạn đồng hành có quyền lực không kém gì ý thức trong việc bẻ lái cho đời sống nhân loại. Cái vô thức luôn luôn hiện hữu trong cuộc sống dưới những hình thức che giấu, mã hóa, theo những cách khác nhau dé “tránh sự kiểm duyệt của ý thúc” - đại diện cho phần xã hội trong con người theo ý của Freud.
Từ khi đời sống con người phân chia giai cấp, đời sống tinh thần của con người cũng phân ra thành hai bộ phận: chính thống và phi chính thống. Cái bộ phận không thê công khai kia vẫn tồn tại như một dòng chảy ngầm mà nơi cư ngụ chủ yêu nhất vẫn là dòng văn hóa dân gian. Nó sống bằng biểu tượng, bằng những hình thức cải trang. Điều này được M.Bakhtin lý giải một cách sâu sắc khi bàn đến nguồn gốc dân gian của sự hình thành thé loại tiểu thuyết.
Như vậy không phải ngẫu nhiên mà các nhà phân tâm học kỳ công tìm hiểu, nghiên cứu. Biéu tượng xuất phát từ vô thức và tác động sâu xa đến đời sống tâm hồn con người, nó là một thứ mật mã của thế giới nuôi một nguồn sống vô tận cho nhân loại. Trong câu trúc biêu tượng chứa đựng một năng lượng dôn nén là 17 những “xung năng nguyên thủy” tiềm ân trong bản chất con người. Do đó biểu tượng không đơn thuần là một kiểu tín hiệu, một vật thay thế thông thường.
Nó như hình ảnh có tính chất “khải thị” mà khi xâm nhập vào đó, rung động cùng nó, chúng ta khám phá ra thế giới xuất hiện trong một dạng thức mới mẻ với cái nhìn thấu suốt. Nó khơi dậy trong con người những năng lượng tiềm ân, cho con người phút chốc được sống trong sự hội nhập với cái toàn thể bình thường vẫn bị những nguy tưởng của cái tôi che lấp. Tất nhiên những hiệu ứng lớn lao này còn phụ thuộc vào mức độ tích cực tham gia của chủ thê vào biểu tượng. Có thé nói, biểu tượng là một hình thức nhận thức đặt ra yêu cầu rất cao đòi hỏi chủ thể thực sự nhập cuộc bằng tất cả con người mình trong ý nghĩa toàn vẹn nhất.
Các ngành khoa học xã hội và nhân văn trong hành trình phát triển của mình có sự gặp gỡ nhau ở biểu tượng. Biểu tượng là chiếc cầu nối văn hóa, văn học, tín ngưỡng tôn giáo, tâm lý học., bởi rằng đây là lĩnh vực khác nhau, những hình thái khác nhau, phản ánh thế giới tâm linh con người. Khó mà hiểu sâu sắc biéu tượng trong riêng một lĩnh vực nào đó nếu không đặt nó trong mối quan hệ liên tưởng đối chiếu rộng rãi với các lĩnh vực khác. Như đã nói ở phần trước, trong văn học nghệ thuật, khái niệm biểu tượng chứa đựng nhiều cấp độ ý nghĩa khác nhau.
Trước khi tiếp cận biểu tượng với ý nghĩa là một loại hình tượng đặc biệt, thiết nghĩ chúng ta không thé bỏ qua biểu tượng với tư cách là đặc trưng phản ánh cuộc sông bằng hình tượng văn học nghệ thuật, bởi vì đây là co sở dé hình thành biểu tượng theo nghĩa hẹp. Lấy xuất phát điểm từ phản ánh luận của Mác - Lênin, các nhà lí luận văn học nghệ thuật macxit đã dành không ít giấy bút cho van đề phan ánh nghệ thuật, bởi đây là những luận điểm có ý nghĩa nền tảng cho toàn bộ lý luận. Đặt trong tương quan với phản ánh thông thường và phản ánh khoa học, phản ánh nghệ thuật được đặc trưng bởi nguyên tắc phản ánh, phương thức, 18 phương tiện, hình thức phản ánh. Không thể đồng nhất một cách máy móc cái được thé hiện trong tác phẩm văn học với hiện thực khách quan, bởi vì khác với phản ánh thông thường, phản ánh nghệ thuật không phải là sự sao chép, chụp ảnh hiện thực mà là một sự phản ánh đầy năng động, sáng tạo, đầy tính chủ quan.