CHƯƠNG 1 LƯƠNG KHẮC NINH TRONG BỐI CẢNH XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH BÁO CHÍ - VĂN HỌC QUỐC NGỮ NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX - ĐẦU THẾ KỶ XX 1. Bối cảnh xã hội Nam bộ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Có thể nói từ khi thực dân Pháp đặt mũi giày của chúng lên mảnh đất hình chữ S của chúng ta (năm1858), nước Việt Nam đứng trước những biến thiên lớn: Việt Nam bị chia cắt thành ba miền Bắc - Trung - Nam với chính sách cai trị khác nhau. Bắc kỳ và Trung kỳ theo chế độ bảo hộ, Nam kỳ thành xứ thuộc địa 1. Thế là, cuộc sống bình lặng trên mảnh đất hình chữ S bị khuấy động bởi tiếng súng xâm lược Pháp.
Kế hoạch đầu tiên của Pháp sau khi thôn tính được Nam kỳ là đặt ra chế độ cai trị mới, lập ra hệ thống điều hành toàn sĩ quan người Pháp. Nắm được tâm lí của người Việt vốn quý trọng giá trị truyền thống và văn hoá xóm làng, và để có người phục vụ cho bộ máy cai trị thuộc địa của mình, năm 1880, người Pháp cho phép người Việt được tham gia vào bộ máy hành chính này (có cử một số sĩ quan Pháp kiểm soát công việc của họ). Chính trị khác nhau dẫn đến kinh tế, văn hóa, giáo dục và các phương diện khác của mỗi vùng cũng khác biệt: 1 1862 - năm cho đời của Lương Khắc Ninh, một phần đất Việt bị mất vào tay giặc do chính quyền nhà Nguyễn đã nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Đến năm1867, Nam kỳ lục tỉnh hoàn toàn rơi vào quyền kiểm soát của Pháp.
- 15 - Về phương diện kinh tế: Hiển nhiên bao giờ bọn cướp nước cũng chú ý vào thế mạnh chủ yếu của vùng đất chiếm được trước tiên. Sau khi xác định được việc sản xuất lúa gạo là thế mạnh ở đất Nam bộ thì thực dân Pháp không tiếc tiền của, công sức, đầu tư vào để nâng cao sản xuất, trở thành trọng điểm của chương trình khai thác. Kim ngạch xuất khẩu gạo tăng rất nhanh vì ngoài hoạt động xuất khẩu gạo của ta và Hoa kiều sang các nước láng giềng, người Pháp bắt đầu đưa hạt gạo Việt Nam sang châu Âu, châu Mỹ. Xuất khẩu gia tăng, thuế thu vào của người Pháp trên mảnh đất thuộc địa của mình cũng tăng.
Như vậy, ước nguyện khai thác của chúng đã được thành tựu. Điều đó làm tăng thêm lòng tham vơ vét của chúng. Thế là, để tăng gia sản xuất, hàng loạt các máy cày, máy bừa, máy gặt của Mỹ, của Pháp, của châu Âu được đưa vào cánh đồng trồng lúa ở miền Tây Nam bộ để thử nghiệm, nhằm thay thế cho các công cụ thô sơ của người nông dân bản xứ [44, tr. Nền nông nghiệp trồng lúa tại Nam bộ từng bước được cơ giới hoá, kỹ nghệ hoá.
Thực ra, đây là một chuyển biến hợp lí với quy luật phát triển. Từ 1859, cảng Sài Gòn trở thành đầu mối giao thông đắc lực cho việc xuất khẩu gạo. Nhằm bảo đảm chất lượng xuất khẩu, người Pháp còn cho thử nghiệm để tìm kiếm giống lúa cho năng suất cao. Điển hình là năm1888, giống lúa Miến Điện đã được thử nghiệm tại nhiều làng ở Mỹ Tho, năm 1892, tỉnh Cần Thơ cho thử giống lúa Nhật Bản, năm 1915 cho thử giống lúa Java, năm 1916, các nhà trồng trọt người Âu nhận thóc giống Tây Ban Nha về thử [44, tr.
Thậm chí ngày 12 tháng 9 năm 1874, tại Sài Gòn còn có tổ chức một cuộc họp thương lượng giữa người Hoa và người Âu chỉnh đốn vấn đề lúa gạo [8], [67, tr. - 16 - Bấy giờ, Nam bộ là vùng đất màu mỡ lại thưa dân, ít thiên tai, khí hậu ôn hoà, giao thương tiện lợi, nên Sài Gòn nhanh chóng trở thành tâm điểm để Pháp bành trướng chính sách khai thác, bóc lột. Tháng 2 năm 1859, đô đốc Rigault de Genouilly đã viết một báo cáo về Pháp, trong đó có đoạn như sau: “Khí hậu các tỉnh này rất tốt, đất màu mỡ, nuôi được dân địa phương và sản xuất có thừa để bán đi Trung Quốc … sông rạch chằng chịt và sự lưu thông thương mại dễ dàng. Sài Gòn cũng là vựa lúa cung cấp một phần lương thực cho Huế, cho quân đội An Nam, mỗi năm, tháng ba phải chở lúa ra Bắc” [19, tr.
Thế là, người Pháp đầu tư nhiều tiền của để cải tiến và sửa sang hệ thống giao thông vận tải, bến cảng, cơ sở hạ tầng, đường xá. Trên bộ thì đắp lộ, sửa chợ, làm cầu, mở nhiều nhà máy (nhà máy xay, nhà máy cưa, nhà máy nước đá, nhà máy đèn. Năm 1886, con đường xe lửa đầu tiên Sài Gòn - Mỹ Tho làm xong. Dưới nước thì đào kinh, khai thông sông rạch … Tính đến năm 1936, tức là sau hơn 50 năm, người Pháp đã cho đào 1.360 km kinh chính và 2.500 km kinh phụ và hàng ngàn con kinh nhỏ với kinh phí lên đến 58 triệu đồng [41, tr.
Việc vận chuyển mua bán trao đổi ngày càng diễn ra dễ dàng, nhanh chóng. Từ nhiều nơi, các thương nhân đổ về, đặc biệt là người Hoa, người Ấn nhận thấy Sài Gòn - Nam bộ là mảnh đất dễ tìm được cái ăn, cái để nên lục tục kéo sang. Hệ thống nhà hàng, ngân hàng, vũ trường, chợ búa, nhà xưởng, vựa lúa ngày một xuất hiện nhiều và thu hút đông đảo nhân công khắp nơi về lập nghiệp. Sài Gòn - Gia Định nhanh chóng trở thành khu sầm uất và phát triển.
Đúng là “đất lành chim đậu”. Nam bộ trở thành vùng đất mà nhiều người mong được ngày tìm đến. - 17 - Về phương diện xã hội: Bấy giờ, xã hội Việt Nam được giáo dục trong hình luật và dân luật của Pháp 1, có điều kiện tiếp xúc, giao lưu với những cái hay cái đẹp của văn minh phương Tây và các nước trên thế giới trong nhiều lĩnh vực nên dân trí ngày càng tiến tới chỗ văn minh, tiến bộ. Song song đó, đất nước cũng bắt đầu đối diện với những thách thức lớn lao, và đa dạng.
Lợi dụng dân tình người Nam bộ thung dung, hoà hoãn, của ngày nào ăn ngày đó, chẳng cần kiệm để dành, lại thêm dân trí còn thấp nên bọn nước ngoài vào tha hồ giở kế bán buôn. Kẻ mua người bán, bao nhiêu của lợi, mối lớn đều trôi vào túi người nước ngoài. Người dân bản xứ thường đối diện với nạn đói ngay trên mảnh đất làm ra hạt lúa lớn nhất nước là Nam bộ. Đặc biệt, thực dân Pháp đã gieo vào Nam bộ các tệ nạn và các vấn đề tiêu cực trong xã hội làm băng hoại đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lục tỉnh.
Biết rượu là thứ mà mọi tầng lớp dân chúng Việt Nam đều ưa thích, người Pháp ra sức khuyến khích các lò nấu rượu nấu thật nhiều rượu và đánh thuế (theo đơn vị lít). Dưới chế độ độc quyền buôn bán một số hàng hoá, ngày 1 tháng 5 năm 1901, Toàn quyền Đông Dương Doumer ban hành nghị định thành lập Công ty nấu rượu Đông Dương. Ngày 20 tháng 12 năm 1902, toàn quyền Đông Dương ra nghị định thiết lập chế độ độc quyền nấu cất và bán rượu trên toàn cõi Đông Dương. Dân chúng càng uống rượu nhiều, Pháp càng có lợi, một mặt thu được nhiều thuế, mặt khác dùng rượu để đầu độc dân ta mất hết ý chí đấu tranh vì tác hại của rượu là rất lớn.
Ngoài độc quyền về rượu, thực dân Pháp còn độc quyền về thuốc phiện. Ma túy, thuốc phiện không ngừng tấn công vào Việt Nam. Trong 1 Dù rất phóng khoáng nhưng những tầng lớp trí thức Tây học vẫn bị quản thúc chặt chẽ. - 18 - Việt Nam cận đại, những sử liệu mới, Nguyễn Phan Quang có nhắc đến một bản điều tra chính thức của thực dân Pháp năm 1884 cho biết: “Trong 100 đàn ông Nam kỳ lúc đó, có đến 11 người nghiện thuốc phiện.000 làng chỉ có 10 trường học nhưng có đến 1.500 đại lí rượu và thuốc phiện, vì đây là nguồn mang lại ngân sách dồi dào cho Pháp” [4, tr.
Sống dưới gót giày của chủ nghĩa thực dân, xã hội Nam kỳ cũng phải đối diện với nhiều thể chế văn hoá có quan hệ đến vận mệnh dân tộc và tình hình đất nước. Kinh tế phát triển kéo theo các mặt khác của Nam bộ cũng khởi sắc. Những người có tiền thì lập nhà xưởng, nhà máy xay lúa, tiệm buôn hình thành giai cấp thương nhân. Những người có học, được tiếp thu Nho học lẫn Tây học thì được làm việc trong các cơ quan hành chính, hình thành tầng lớp viên chức.
Bên cạnh đó là đông đảo những người làm thuê, đi học, thợ thuyền … Người buôn kẻ bán, làm thuê hoà lẫn với các thương nhân giàu có có, trung lưu có đã tạo nên xã hội Nam bộ nhiều giai tầng mới: nông dân, công nhân, tư sản bản xứ và tiểu tư sản thị dân. Việt Nam dần dần được tư sản hóa nên xã hội Việt Nam cũng theo đó mà phân hoá sâu sắc: một số sĩ phu theo đuổi con đường đấu tranh vũ trang để đẩy lùi quân xâm lược; một số sĩ phu yêu nước khác có khuynh hướng chủ trương chấn hưng kinh tế theo đường tư bản chủ nghĩa như Trần Chánh Chiếu, Lương Khắc Ninh, … tìm kiếm một lối thoát cho nhân dân, cụ thể là công khai ủng hộ phong trào Minh Tân (Duy Tân). Về giáo dục: Khi bắt đầu được phép xuất hiện trong bộ máy hành chính Pháp, hầu hết người Việt Nam yêu nước không muốn hợp tác với Pháp, nên những người Việt được bổ nhiệm là những người tài mọn, trí thấp, ít có - 19 - thiện cảm, uy tín trong nhân dân. Nhận thấy bộ máy cai trị trên không có lợi cho chúng bao nhiêu nên Pháp bắt đầu thực hiện hành động lộ liễu của mình, hòng thực hiện âm mưu đồng hoá dân ta.
Ai cũng biết ban đầu chữ quốc ngữ được truyền vào Việt Nam chỉ để phục vụ cho công việc truyền giáo. Nhưng ngoài tầng lớp là nhà Nho ra còn có một lượng đông đảo là tầng lớp thấp, cụ thể là dân nghèo lại không biết chữ Nho, buộc các giáo sĩ phải nghĩ ra một thứ chữ để ghi âm tiếng người Việt để truyền đạo. Thế nhưng từ khi Pháp xâm chiếm Việt Nam, chữ quốc ngữ đã bị lợi dụng để phục vụ cho mục tiêu chính trị của Pháp. Chiếm được Nam kỳ làm thuộc địa thì Pháp cần có một thứ chữ để giao tiếp với dân.
Trong khi đó, nhiều cuộc đấu tranh vũ trang chống Pháp ở Nam kỳ bởi các sĩ phu lãnh đạo diễn ra sôi nổi nên chữ Hán không phải là thứ chữ thích hợp để Pháp làm việc đó.