Chương 1 ĐỜI VÀ THƠ VIỄN PHƯƠNG 1. MỘT ĐỜI NGƯỜI, MỘT ĐỜI THƠ: Viễn Phương tên khai sinh là Phan Thanh Viễn, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1928 tại xã Bình Đức, quê gốc ở huyện Tân Châu, tỉnh An Giang (thời xưa thuộc tỉnh Long Xuyên). Một vùng quê với cảnh túng thiếu và đói nghèo vì thiên tai lũ lụt hằng năm. Gia đình ông vốn có truyền thống và bản thân Viễn Phương cũng rất ham học.
Cho nên vào năm 1943, sau khi xong bậc tiểu học ở quê nhà xứ lụa Tân Châu, ông đã rời quê và chuyển lên học ở trường Trung học Cần Thơ (Tỉnh lỵ Cần Thơ bấy giờ được gọi là Tây Đô, là một trung tâm văn hóa của miền Lục tỉnh). Ngay từ thuở nhỏ, Viễn Phương rất thích đọc sách, ông luôn cố gắng tìm đọc từ các tác phẩm của tác giả trong nước rồi đến những danh tác nước ngoài nhưng sách vở lúc ấy lại vô cùng hiếm hoi. Lòng ham đọc sách đến nỗi có lúc ông đã từng ao ước mình được làm công tác thư viện như Lão Tử có “tàng kinh các” để thỏa sức được đọc và học bao điều hay. Cũng từ đó, Viễn Phương đã bắt đầu chập chững làm thơ và lòng yêu văn chương đã ươm mầm trong ông từ thuở ấy.
Trước hoàn cảnh đất nước rơi vào tay giặc Pháp, trên ghế nhà trường Viễn Phương chỉ thấy trời đất tối sầm, cuộc đời bế tắc, không còn tâm trí đâu để học hành. Và những sáng tác của ông lúc bấy giờ là bài thơ lãng mạn khóc gió, than mây, khóc tình yêu tan vỡ và cuộc đời là biển khổ mênh mông. Khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, lời kêu gọi chống Pháp của Bác Hồ: “Thà chết chứ không chịu mất độc lập, tự do; thà chết chứ không bao giờ muốn trở lại nô lệ một lần nữa” [15, tr 4] đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư 14 tưởng Viễn Phương. Như người chết đuối vớ được phao, ông đã bước theo con đường cách mạng với cõi lòng thanh thản.
Ông tham gia công tác thanh niên, học sinh. Với ngọn lửa căm thù bừng cháy trong tim, nhà thơ đã vào bộ đội chiến đấu, mặt đối mặt với quân thù. Sau đó, ông tham gia Vệ quốc quân chống Pháp ở đồng bằng Nam Bộ. Từ đây, sự chiến đấu oai hùng của nhân dân ta đã trở thành niềm cảm hứng cao độ cho những sáng tác của ông.
Viễn Phương được nhiều người biết đến khi ông bắt đầu sáng tác thơ đăng báo Tiếng Súng Kháng Ðịch của Khu 9 Nam Bộ. Nhờ làm thơ khá nên sau đó ông đã được chuyển về Sở thông tin Nam Bộ đóng tận rừng Trẹm U Minh. Năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng, cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi. Hiệp định Genève được ký kết.
Nhiều anh chị em tập kết ra Bắc riêng nhà thơ được phân công về Sài Gòn hoạt động trong lòng địch. Ông dạy học, làm thuê để kiếm sống nhưng công việc chủ yếu vẫn là sáng tác văn thơ với bút danh Viễn Phương. Bài của ông còn được đăng trên một số tờ báo ở Sài Gòn như Nhân loại, Hừng sáng, Công lý và nhà thơ còn có bút danh khác là Phương Viễn. Lúc bấy giờ mục tiêu chủ yếu của cách mạng là tập trung chống xâm lược, chống áp bức, bất công và đấu tranh cho quê hương thống nhất.
Vì thế mà chẳng bao lâu sau, hầu hết những văn nghệ sĩ đều bị giam tại các nhà tù: Chí Hòa, Tân Hiệp, Phú Lợi, Côn Lôn. Vào năm 1956, Viễn Phương bị chính quyền Sài Gòn bắt và bị giam nhiều nơi. Vào tù, đối với người cách mạng như ông, đó chỉ là sự thay đổi địa bàn hoạt động, Viễn Phương vẫn tiếp tục làm thơ bằng ý chí và lòng căm thù giặc. Những sáng tác của ông lúc bấy giờ được những người bạn tù yêu mến và là cứu cánh giúp họ vượt qua những giây phút gian nan của cuộc đời.
15 Sau khi ra tù vào năm 1962, không thể còn hoạt động hợp pháp ở Sài Gòn, Viễn Phương đã vào chiến trường Củ Chi tiếp tục chiến đấu. Ở vùng đất này, cuộc chiến diễn ra vô cùng ác liệt, bom pháo suốt ngày đêm. Giặc ruồng bố thường xuyên, biệt kích Mỹ sớm khuya rình rập đến nỗi hồ sơ lí lịch của cán bộ, ban Tổ chức chôn sâu dưới đất còn bị đánh bật lên. Tuy là văn nghệ sĩ nhưng ông và đồng đội vẫn phải làm ruộng, làm rẫy, phải tự đào địa đạo chiến hào và cầm súng chiến đấu như mọi chiến sĩ, du kích lúc bấy giờ.
Vì hoàn cảnh chiến tranh diễn ra khốc liệt cho nên người dân nơi đây đã quen sống dưới hầm hơn là trên mặt đất, họ đào hầm còn giỏi hơn xây nhà. Do vậy Viễn Phương cũng đã trở thành một nhà thiết kế địa đạo chuyên nghiệp và đây là điều mà ông rất tự hào. Dù sống trong gian khổ cùng cực nhưng Viễn Phương vẫn say mê làm thơ viết văn. Ông vẫn xem sự nghiệp văn chương là niềm vui lớn trong đời mình.
Làm được bài thơ hay viết được bài văn nào, Viễn Phương cũng chép ra một bổn gởi về R, sau đó được các đồng đội gửi ra Hà Nội. Nhờ vậy mà tuy chiến đấu ở Củ Chi trên vùng đất miền Nam nhưng thỉnh thoảng tác phẩm của ông cũng được phát trên Ðài Tiếng nói Việt Nam và đã có vài quyển thơ văn in ở Hà Nội. Ðối với Viễn Phương - một thi sĩ, chiến sĩ trên chiến trường - đây quả thật là một niềm vui lớn. Viễn Phương đã bám trụ trên chiến trường đất thép trên mười bốn năm.
Khoảng thời gian ấy không phải là quá dài đối với đời người. Nhưng lại là một điều kỳ diệu với chính bản thân ông. Vì chẳng ai dám nghĩ mình sẽ còn sống trên một chiến trường vô cùng ác liệt như thế. Nơi đây họ thường quen thấy cái chết còn hơn là sự sống, cho nên những lần chứng kiến sự hy sinh của bao người trên mảnh đất này, Viễn Phương đã giật mình vì sự may mắn của chính mình: “Trong cuộc chiến tranh ác liệt này, cái sống và cái chết luôn kề sát bên nhau, chỉ một phút, một giây, một đường tơ, một kẽ tóc.
Sau một 16 trận pháo, một trận bom, sau một trận càn, trận bố, người còn sống mới sực nhớ: “À mình còn sống đây!” Và tại sao mình còn sống được đến lúc này lắm lúc thật khó lòng giải đáp. Hay chăng? Không! Khéo chăng? Không! Chỉ là do may mắn mà còn! Không ai dám nói là do mình giỏi, mình hay mà còn sống được!” (Hoa trong đất) Chính từ điều may mắn ấy đã khiến cho ông cũng thấy trên vai mình mang nặng gánh nợ ân tình với những người đã khuất. Vì vậy Viễn Phương muốn được ghi, được viết lại một cách trung thực, chân thành và trọn vẹn về những tấm lòng của bao con người dành cho đất nước. Sau năm 1975, Viễn Phương giữ nhiều trọng trách Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng thành phố Hồ chí Minh, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật thành phố, Phó bí thư Đảng đoàn Văn nghệ thành phố, Đại biểu Hội đồng Nhân dân thành phố, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Năm 1996, ông được bầu làm Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh; Phó Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên Hiệp các Hội văn học Nghệ thuật Việt Nam. Tuy công việc và trách nhiệm khá bộn bề nhưng lúc nào Viễn Phương cũng tận tâm, trách nhiệm và vẫn giữ cho mình một lối sống thanh bạch, chung thủy: “Suốt cuộc đời dù lắm gian khổ đau thương nhưng tôi luôn cảm thấy hạnh phúc vì được đi theo con đường cách mạng giải phóng quê hương, con đường Bác Hồ đã vạch. Suốt cuộc đời tôi cũng vô cùng sung sướng vì ngòi bút của tôi luôn viết những dòng trong sáng vì độc lập của Tổ quốc, vì Tự do Hạnh phúc của nhân dân. Tôi sẽ giữ trái tim tôi, ngòi bút tôi trong sáng trọn đời” [93].
17 Giữa dòng đời đua chen và đầy cám dỗ, nhà thơ vẫn kiên định một ý chí sắt son. Thơ văn ông vẫn hướng đến cuộc đời với sự trao gửi tin yêu tha thiết. Viễn Phương đã thanh thản ra đi khi ông 77 tuổi, vào ngày 21-12-2005 (nhằm ngày 21- 11 Ất Dậu) tại thành phố Hồ Chí Minh. Nhà thơ đã không còn nữa để tiếp tục cuộc hành trình với thơ ca nhưng những vần thơ của ông vẫn còn in dấu mãi nơi đền thờ Bến Dược, Củ Chi.
Và trên mảnh đất miền Nam, mọi người sẽ vẫn nhớ đến ông - một thi sĩ đã trọn sống với quê hương, với văn chương bằng sự trong sáng của trái tim mình. SỰ NGHIỆP VĂN HỌC: Văn thơ là một con đường song song xuyên suốt cuộc đời của Viễn Phương, là một hành trình gắn bó thân thiết như chính lời nhà thơ tâm sự: “Tôi luôn quan niệm ngòi bút là vũ khí” [5, tr 9]. Cho nên những gì đang diễn ra với cuộc sống, liên quan đến con người và dân tộc Việt Nam cũng đều truyền xúc cảm vào tâm hồn nhà thơ. Điều đó đã khiến cho ông sáng tác một cách say mê cả hai lĩnh vực: văn xuôi và thơ.
Văn xuôi: Đến với văn xuôi, Viễn Phương xem đó là một món nợ ân tình với Tổ quốc. Ngay từ những sáng tác được đăng báo đầu tiên, những truyện cổ tích, truyện lịch sử anh hùng cũng đã được tác giả lồng vào đó với những bài học tinh tế và sâu sắc về tình yêu quê hương, đất nước… Vào năm 1957, ông đã có những truyện ngắn được in thành sách, sáng tác của ông đã được xuất bản chung với Lê Vĩnh Hòa, Tiêu Kim Thủy và Ngọc Linh trong tập truyện ngắn mang tên Chiếc áo thiên thanh của Nhà xuất bản Trùng Dương (1957) 18 Trong những năm sau này, dù vẫn yêu và sáng tác thơ nhưng trước hoàn cảnh chiến sự diễn ra liên miên và ác liệt, Viễn Phương càng đến gần với văn xuôi hơn. Truyện ký là thể loại tiêu biểu trong những sáng tác của ông. Ở thể loại này, với sự quan sát nhạy bén, Viễn Phương đã tái hiện những hình ảnh về con người trong chiến tranh, ca ngợi vẻ đẹp giản dị, sáng trong tâm hồn, đặc biệt là lòng yêu nước mãnh liệt trong trái tim của nhân dân ta.
Tập truyện ký Anh hùng mìn gạt ra đời vào năm 1968 đã đánh dấu những bước thành công đầu tiên của tác giả về văn xuôi.