mở đầu và kết thúc, do đó nó có nội hàm rất rộng. Công trình Literature and Culture: Both Interaction and Effectiveness của Mohammad Reza Hesaraki đã xác định một số khái niệm về văn hóa và văn học cũng như mối quan hệ giữa hai vấn đề này trong đời sống của con người. Tác giả khẳng định văn học và văn hóa là hai vấn đề không thể tách rời, là mối quan hệ song phương, khi nói về văn hóa thì văn học cũng đồng thời xuất hiện có thể dưới dạng vô thức như suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc, cách thức cá nhân của xã hội… hay xuất hiện dưới dạng các nguyên tắc và quy tắc. Sự tương tác giữa văn học và văn hóa không giới hạn trên một khu vực địa lý cụ thể nào mà tác động trên toàn thế giới.
Các nền văn hóa bao gồm niềm tin của con người, truyền thống trong bất kỳ xã hội nào, và văn học bộc lộ những yếu tố này dưới góc độ khác nhau. Vì vậy, văn học tương tác và tác động đến văn hóa. Những thay đổi văn hóa dẫn đường cho xã hội, do đó, văn hóa truyền đến thế hệ tương lai và sự đổi mới văn hóa có thể bảo vệ xã hội khỏi bị hủy diệt. Có một số yếu tố bên trong nền văn hóa hài hòa với nhau và hình thành một số niềm tin, giá trị, những yếu tố này có thể được phát triển bằng văn học.
Trên thực tế, văn hóa là kết quả của một xã hội, vì vậy các yếu tố của văn hóa bắt nguồn từ suy nghĩ của mọi người trong xã hội. Từ công trình này chúng tôi khẳng định rằng mối quan hệ giữa văn học và văn hóa luôn có sự tương tác với nhau, bởi đối với văn học thì các yếu tố văn hóa như truyền thống, tín ngưỡng,… tạo ra các tài liệu văn học có giá trị, giúp phát triển văn hóa. Mặt khác, văn hóa coi văn học như là một thành tựu của nó, tạo nên kết quả của một nền văn hóa. 5 Trong công trình Culture and Literature: Interdependence của hai tác giả Tawhida Akhter và Meenakshi Lamba, trên cơ sở phân tích hai khái niệm Văn hóa và Văn học thông qua các ví dụ, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của hai vấn đề.
Văn học được coi là biểu hiện của văn hóa và xã hội, đại diện cho ý tưởng và ước mơ của mọi người được đặt trong một thời gian và không gian nhất định, được phác thảo theo cách cảm hứng và tưởng tượng nhất. Nó vừa mô tả và truyền cảm hứng cho những thay đổi xã hội và thường được coi là nguồn đáng tin cậy của sự miêu tả nền văn hóa. Văn học và văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau, cả hai đều có một mối quan hệ với bên kia bởi vì, trong suốt nhiều năm và từ lâu đời nhất, văn học là hiện thân của văn hóa. Một tác phẩm văn học chỉ có thể được hiểu đầy đủ bằng cách liên hệ nó với tổng thể động lực của các sự kiện lịch sử và xã hội bởi vì phương tiện của nó nhận thức là một bộ phận của truyền thống văn hóa.
Sự tương tác giữa ngôn ngữ và các khía cạnh khác của văn hóa rất gần gũi đến mức không có phần nào của văn hóa có thể được nghiên cứu một cách chính xác trong sự tách biệt với ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một phần quan trọng và việc sửa đổi ít nhất là một phần để phản ứng với sự thay đổi văn hóa, đặc điểm văn hóa mới đòi hỏi phải có từ vựng mở rộng. Trong bài viết này, tác giả còn đề cập tới việc giảng dạy văn hóa thông qua văn học. Đọc văn học không chỉ là tìm hiểu về tác phẩm mà là học cách thế giới hoạt động và vận hành.
Các văn bản văn học thúc đẩy sự hiểu biết về văn hóa giúp mở rộng kiến thức và nâng cao nhận thức của con người. Thông công trình này chúng tôi thấy các đặc trưng văn hóa trong văn bản văn học nhất là ngôn ngữ có thể mở rộng nhận thức của chúng ta về cuộc sống và làm phong phú tầm nhìn của chúng ta về toàn thế giới. Trong công trình How literature “touchs” culture? (文学怎样 动文化) của tác giả Wu Xuan khoa Trung văn Đại học Sư phạm Hoa Đông, Thượng Hải, đồng thời là giáo sư Đại học Kobe, Nhật Bản, từ sự phân tích các tác phẩm kinh điển/ cổ điển của Trung Quốc và Phương Tây, tác giả cho rằng ảnh hưởng văn hóa đối với văn học do ba khía cạnh: Thứ nhất vai trò quyết định của văn hóa đối với văn học là một thực tế. Thứ hai văn hóa gắn chặt với lợi ích hiện sinh của con người.
Văn học 6 không nhấn mạnh vào thực tế, tiện ích mà là chức năng hỗ trợ tinh thần, cảm hứng của nó đến từ sự phản ánh trân trọng của nhà văn về những yêu cầu phổ biến của văn hóa, hơn là nhận dạng phục tùng. Thứ ba, các yêu cầu văn hóa đối với văn học là một loại tư duy. Hành động của văn học đối với văn hóa không chống lại văn hóa mà là tôn trọng và không giới hạn trong văn hóa; nó không bị coi thường và loại trừ; thậm chí văn học không vượt qua văn hóa. Qua công trình này chúng tôi thấy rằng dù bất kỳ nền văn học nào, dù là văn học hiện đại hóa hay phương Tây hóa thì đều không thể bỏ qua đặc điểm là tôn trọng văn hóa và sự hiểu đúng đắn về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa.
Công trình Language and Culture của tác giả Claire Kramsch khảo sát các phương pháp nghiên cứu và phương pháp tiếp cận được sử dụng trong lĩnh vực đa ngành của các nghiên cứu ngôn ngữ ứng dụng hoặc giáo dục ngôn ngữ. Dựa trên những hiểu biết thu được trong ngôn ngữ học tâm lý và xã hội học, giáo dục ngôn ngữ học và nhân học ngôn ngữ liên quan đến ngôn ngữ và văn hóa, nó được sắp xếp xung quanh năm câu hỏi chính mà các nhà giáo dục ngôn ngữ quan tâm. Thứ nhất: Ý nghĩa văn hóa được mã hóa như thế nào trong ký hiệu ngôn ngữ? Thảo luận về cách việc sử dụng một hệ thống ký hiệu ảnh hưởng đến suy nghĩ, cách người nói các ngôn ngữ khác nhau, suy nghĩ khác khi nói và cách người nói các bài diễn văn khác nhau (qua ngôn ngữ hoặc cùng một ngôn ngữ) có thế giới quan văn hóa khác nhau. Thứ hai là: Ý nghĩa văn hóa được thể hiện một cách thực dụng thông qua hành động lời nói như thế nào? Thảo luận về việc thực hiện các hành vi lời nói qua các nền văn hóa, được hiểu biết về văn hóa phân tích hội thoại và sử dụng khung văn hóa.
Thứ ba là: Văn hóa được đồng xây dựng bởi những người tham gia tương tác bằng lời nói như thế nào? Thảo luận về cách áp dụng ngôn ngữ học đã chuyển từ quan điểm cấu trúc luận sang quan điểm kiến tạo về ngôn ngữ và văn hóa, từ biểu diễn đến biểu diễn, và từ tập trung vào văn hóa đến tập trung vào tính lịch sử và tính chủ quan. Thứ tư là: Nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa bị ảnh hưởng bởi công nghệ ngôn ngữ? Văn hóa in của sách, văn hóa ảo của Internet, văn hóa giao lưu điện tử trực tuyến tất cả đều có những cách riêng để vẽ lại ranh giới của những gì có thể 7 được nói, viết và được thực hiện trong một cộng đồng diễn ngôn nhất định. Chúng được liên kết chặt chẽ với các vấn đề về quyền lực và kiểm soát. Phần cuối cùng khám phá phương pháp luận hiện tại xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa: sự gia tăng đặt câu hỏi và chính trị hóa thực tế văn hóa, tính liên ngành gia tăng của nghiên cứu, tầm quan trọng ngày càng tăng của tính phản xạ và sự hội tụ đáng chú ý của các nền văn hóa nghiên cứu giao tiếp và nghiên cứu ngôn ngữ ứng dụng trong nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa.
Trong công trình Culture, Language and Literature: Developing Intercultural Communicative Competence through International Literature của tác giả Zumbarlal Patil cho rằng mối quan hệ giữa văn hóa, ngôn ngữ giống như giữa mặt trái của một đồng tiền. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học tương tự như khiêu vũ và vũ công: chúng không thể tách rời. Văn hóa thể hiện bản thân trong mọi thứ ngôn ngữ, văn học, nghệ thuật biểu diễn, hành vi bằng lời nói và không lời của mọi người, v. Văn học chứa đựng những nội hàm văn hóa chúng không chỉ đại diện mà còn thể hiện nền văn hóa tương ứng.
Bài báo tập trung chủ yếu vào “mã” (ngôn ngữ và văn học), chỉ nói ngắn gọn và gián tiếp về “cuộc trò chuyện” hoặc “giao tiếp” và “sự tò mò” hoặc “Câu hỏi”. Cuối cùng, tờ báo đưa ra rằng sự đa dạng của các nền văn hóa và nhiều quy chuẩn về hành vi bằng lời nói và không lời nói cần thiết đào tạo về giao tiếp giữa các nền văn hóa và tài liệu đó có thể được sử dụng như một nguồn tài nguyên phong phú để phát triển khả năng giao tiếp phù hợp trong môi trường văn hóa xa lạ. Ở Việt Nam, chúng tôi thấy có nhiều công trình nghiên cứu văn hóa văn học gắn liền với tên tuổi kỳ cựu như Trần Đình Hượu, Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Chu Xuân Diên …, đây là những công trình đã góp phần xây nền móng cho ngành văn hóa học ở nước ta. Theo tác giả Trần Đình Sử, văn học với tư cách là hiện tượng văn hóa – văn học là sự tự ý thức văn hóa đồng thời phản ánh các văn hóa khác trong cuộc sống con người tạo thành diện mạo văn hóa một thời đại, một dân tộc.
Từ đó giúp con người có cái nhìn toàn diện và đánh giá một cách cụ thể, sâu sắc hơn. Văn học trực tiếp tái hiện đời sống văn hóa của dân tộc và kết tinh văn hóa 8 thẩm mỹ của dân tộc, bảo tồn văn hóa truyền thống được coi là cái gốc, cái đẹp, cái hay (Trần Đình Sử. 2017) Trong công trình Về mối quan hệ giữa văn học với văn hóa, tác giả Phan Ngọc xét văn hóa Việt Nam trên thể nghiệm của bản thân. Trước hết văn hóa là một kiểu lựa chọn nhằm thỏa mãn yêu cầu cơ bản nhất của một tộc người, có những yêu cầu không thay đổi để trở thành bản sắc văn hóa và những yêu cầu thay đổi chỉ để cho phù hợp.
Bản sắc văn hóa Việt Nam thể hiện trong bốn yêu cầu: Tổ quốc – Gia đình – Thân phận – Diện mạo.