CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỘNG CƠ DU LỊCH VÀ DU LỊCH LGBT 1. Khái quát về động cơ du lịch 1. Lịch sử nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu về sự lựa chọn điểm đến các học giả đều đặt ra câu hỏi là Tại sao con người muốn đi du lịch? Tại sao lại chọn điểm đến này thay vì điểm đến kia? Những câu hỏi tương tự như vậy được Smith & Turner (1973) cụ thể hoá trong nghiên cứu của mình “ Điều gì thôi thúc con người đi du lịch? Đi du lịch Florence hay là ngồi ở nhà xem ti vi? Tại sao lại Bali mà không phải là Acapulco hay một nơi khác? Thậm chí, tại sao một số người không muốn đi du lịch? Có phải họ nghèo không hay là họ có lí do nào khác.” Chính từ câu hỏi này mà nhiều nghiên cứu về động cơ du lịch ra đời (Crompton, 1979).
Các nghiên cứu về mô hình động cơ du lịch được manh nha từ đầu thập niên 70 của thế kỉ 20 và có thể được đánh giá thành ba giai đoạn. Giai đoạn đầu, các học giả tập trung phân loại khách du lịch và tìm hiểu lí họ đi du lịch. Các lí do này liên quan chủ yếu đến khía cạnh tâm lí. Nổi bật là nghiên cứu của Cohen, Plog năm 1972.
Bước sang giai đoạn hai, các nghiên cứu tranh luận, phản biện về các nguyên nhân cụ thể liên quan đến các yếu tố tâm lí – xã hội như nhiên cứu của Dann vào năm 1977; McIntosh cùng năm; Cohen, Cromtop vào năm 1979. Giai đoạn cuối cùng là sự phát triển cũng như phân tán, các nghiên cứu đa dạng hơn như nghiên cứu của Maygo và Javis (1981), Iso-Ahola (1982), Pear (1982), Mansfiled (1992) và Fodness (1994). Tuy nhiên nhiều nghiên cứu trong giai đoạn này thiếu sự đồng thuận về các nỗ lực nghiên cứu liên ngành, đa chiều. Do đó, Harril & Potts (2002) khẳng định lại một lần nữa là cách tiếp cận về khía cạch tâm lí – xã hội phải bao gồm yếu tố tâm lí bên trong và bối cảnh môi trường bên ngoài.
Hầu hết các nghiên cứu trước đó xem nhẹ hoặc không bao gồm một trong các yếu tố nói trên. Các mô hình lí thuyết phổ biến Trải qua quá trình phát triển của nghiên cứu về động cơ du lịch, nhiều mô hình động cơ du lịch đã được đề xuất tương ứng với lí thuyết nghiên cứu tại bảng 1. 5 Các mô hình lí thuyết này đã được thử nghiệm, trích dẫn và cũng có nhiều quan điểm trái chiều. Bảng dưới đây là thống kê các mô hình lí thuyết được trích dẫn nhiều nhất theo số lượt trích dẫn.1 Số lượng trích dẫn của một số lí thuyết động cơ du lịch phổ biến Số lượt trích dẫn STT Tác giả ( năm ) đến 8/2018 1 Maslow ( 1943) 23.338 5 Cohen (1972) 941 6 Plog (2001) 829 7 Pearce (1988) 697 8 Peare và Lee (2005) 678 Nguồn: Yousaf và cộng sự (2018) * Mô hình của Maslow Theo Maslow, nhu cầu của con người được chia thành 5 cấp độ khác nhau: sinh học; an toàn; tình cảm; uy tín và tự đổi mới.
Năm cấp độ này được chi thành 2 nhóm. Nhóm nhu cầu cơ bản gồm 2 tầng cuối cùng: nhu cầu sinh học là các nhu cầu ăn, uống, ngủ, nghỉ, tình dục và các nhu cầu bản năng tương tự phục vụ cho sinh tồn của của con người; nhu cầu an toàn là nhu cầu được sống trong môi trường an toàn để thực hiện các hoạt động một cách hiệu quả. Nhóm nhu cầu bậc cao là ba bậc còn lại. Nhiều nhà nghiên cứu đã vận dụng lí thuyết này trong lĩnh vực du lịch để nhận biết được các nhu cầu khác nhau của khách du lịch và từ đó lí giải các hành vi du lịch của họ.
Động cơ thoả mãn nhu cầu sinh học, du khách không chỉ đi du lịch để đáp ứng nhu cầu tồn tại mà còn thưởng thức tính mới lạ, độc đáo trong ẩm thực địa phương. 6 Tương tự, dịch vụ lưu trú cũng mới lạ, khác biệt so với phòng ngủ ở nhà. Tình dục cũng là một ví dụ điển hình. Một số quốc gia nổi tiếng với du lịch tình dục như Thái Lan, Brazil, Tây Ban Nha, Colombia, Philippines, Hà Lan, Cam-pu-chia, Cộng hoà Dominica.
Thủ đô Amsterdam của Hà Lan thu hút 4,63 triệu lượt khách quốc tế hàng năm và du lịch tình dục đóng góp 5% GDP của quốc gia này [74]. Động cơ an toàn, điểm đến chỉ có thể thu hút số lượng lớn du khách chỉ khi điểm đến đó có một môi trường an toàn, họ cảm thấy được bảo vệ từ bất kì mối lo ngại nào trong thời gian lưu tại đây. Hiển nhiên rằng, khi điểm đến thuyết phục được khách du lịch lựa chọn vì tính an toàn thì hình ảnh điểm đến càng được phổ biến hơn. Động cơ tình cảm, đó là động cơ được giao lưu, kết bạn với những người đến từ các nền văn hoá khác nhau.
Đây cũng là một mong muốn tạo dựng nhiều mối quan hệ trong cả đời sống cá nhân lẫn công việc vì vậy ngạn ngữ phương Tây có câu “ người lạ là một người bạn mà bạn chưa từng gặp mặt”. Ngoài ra, tình cảm gia đình cũng được thắt chặt hơn trong các chuyến đi du lịch. Sau động cơ thứ 3 là động cơ uy tín, hay bản thân được tôn trọng. Ở động cơ này, du khách muốn gây ấn ượng vơi bạn bè và người thân qua số lần đi du lịch, và các kiến thức họ thu lượm được.
Khi đó họ cảm thấy bản thân được nâng nên một vị thế mới. Cuối cùng là động cơ tự đổi mới. Khách du lịch nhân thấy rằng qua các hoạt động du lịch thì họ cải thiện, nâng cao được nhiều kĩ năng như team builing, học nấu ăn, làm thủ công mà trước giờ họ chưa từng thực hành. Ngoài ra những đóng góp cho xã hội như hoạt động thiện nguyện cũng giúp quá trình đổi mới bản thân có nhiều mặt tích cực như trân trọng giá trị cuộc sống và bài học đạo đức, bảo vệ môi trường… * Mô hình của Compton Sau khi thực hiện 39 cuộc phỏng vấn phi cấu trúc với các nhóm khách ở những lứa tuổi và nghề nghiệp khác nhau, Crompton rút ra kết luận có 9 động cơ du lịch được chia thành hai nhóm.
Nhóm thứ nhất là động cơ tâm lí- xã hội gồm bẩy động cơ thoái khỏi môi trường sống tẻ nhạt, khám phá và tự đánh giá bản thân, thư giãn, địa vị xã hội, hoài niệm, cải thiện mối quan hệ ( gia đình, bạn bè), gặp gỡ bạn mới. 7 Nhóm hai là nhóm văn hoá bao gồm mới lạ và giáo dục ( hiểu biết hơn về điểm đến). Trong khi nhóm một, động cơ đẩy, liên quan đến cá nhân nhiều hơn thì nhóm hai , động cơ kéo, có phần liên quan đến các đặc tính của điểm đến. * Mô hình Đẩy Kéo của Dann (1977) Dann (1977) cho rằng động cơ du lịch chịu ảnh hưởng của động cơ kéo và đẩy.
Đặc biệt là Động cơ đẩy trong nghiên cứ của ông chính là sự phi quy tắc ( anomie) của bối cảnh xã hội dẫn đến nhu cầu muốn thoát khỏi thực tại và khẳng định địa vị xã hội (ego-enhancement). Còn động cơ kéo là những đặc tính của điểm đến thu hút khách du lịch. Trước và sau Dann cũng có một số nghiên cứu dựa trên lí thuyết đẩy kéo này.2 Các mô hình Động cơ kéo - đẩy trong các nghiên cứu ban đầu Tác giả Động cơ Đẩy Động cơ Kéo Gray (1970) Mong muốn đi du lịch đến nơi nào Dịch vụ, tiện nghi của điểm đó khác với nơi hiện tại sinh sống đến mà ảnh hưởng đến lựa (Wanderlust) chọn điểm đến (Sunlust) Dann (1977) Mong muốn thoát khỏi cuộc sống Đặc tính hấp dẫn điểm đến, hàng ngày (Anomie) và địa vị xã cơ hội giao lưu văn hóa tại hội (Ego-enhancement) đị phương, tài nguyên điểm đến Crompton(1979) Thoát khỏi cuộc sống hiện tại, tự Mới lạ tại điểm đến, văn khám phá, nghỉ dưỡng, quan hệ xã hoá bản địa hội, cải thiện tình cảm Iso-Aloha Tiềm kiếm và trốn tránh - (1982) Nguồn: Tác giả tự tổng hợp * Mô hình Tìm kiếm - Trốn tránh ( Iso-Aloha, 1982) Iso-Aloha đề xuất mô hình động cơ du lịch vào năm 1982 dựa trên các nghiên cứu của mình về nghỉ dưỡng. Theo đó, có hai động cơ chính đồng thời ảnh hưởng đến hành vi nghỉ dưỡng của du khách đó là tìm kiếm và trốn tránh trong chiều kích cá nhân và liên cá nhân.
Bốn miền động cơ được thể hiện cụ thể hoá như sau (Snepenger et al. Miền Tìm kiếm cá nhân: Nói cho người khác về những trải 8 nghiệm của mình; Cảm thấy hạnh phúc với bản thân; Trải nghiệm điều mới lạ một mình. Tìm kiếm liên cá nhân gồm có Du lịch cùng người có chung sở thích; Gặp bạn mới; Gắn kết mối quan hệ gia đình/ bạn bè. Trốn tránh cá nhân gồm có Thoát khỏi môi trường sống hàng ngày; Thay đổi nhịp sống thường ngày; Vượt qua những cảm xúc tiêu cực.
Trốn tránh liên cá nhân là Tránh xa những người làm phiền mình; Thoát khỏi môi trường sống và làm việc căng thẳn; Tránh giao lưu với người khác. Tuy nhiên, theo Hsu & Huang ( 2008), mô hình này chủ yếu dựa vào động cơ nghỉ dưỡng vì họ cho rằng du lịch là một hoạt động nghỉ dưỡng trong khi đó điều này phải được hiểu ngược lại; hơn nữa, du lịch bao gồm nhiều hoạt động khác. Như vậy, mô hình này chưa đầy đủ để đánh giá động cơ du lịch * Mô hình của Cohen 1972 Cohen (1972) phân loại khách du lịch thành bốn nhóm dựa trên mối tương quan giữa khách du lịch – doanh nghiệp du lịch - điểm đến: khách du lịch đại chúng đoàn trọn gói (organised mass tourist), khách du lịch đại chúng cá nhân (the indivual mass tourist), khách du lịch tự khám phá ( the explorer) và khách du lịch bụi ( the drifter). Hai nhóm đầu được xếp vào nhóm du khách phụ thuộc vào công ty du lịch.
Nhóm còn lại là nhóm không phụ thuộc. Nhóm phụ thuộc đi du lịch không muốn tương tác với văn hoá bản địa và tìm kiếm sự tương đồng tại nơi họ sinh sống. Trái lại nhóm không phụ thuộc thì họ đi du lịch với động cơ tìm cái mới lại so với nơi họ sinh sống, giao lưu với văn hoá tại điểm đến. Tuy nhiên, mô hình lí thuyết này cũng gặp khá nhiều chỉ trích vì chỉ phân tích mỗi khía cạnh tậm lí chủ quan mà chưa đề cập đến các yếu tố môi trường xã hội xung quanh và xem như là tương tác hành vi của khách du lịch (Murphy, 1993).