Chương 1 NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1. ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN VÀ TÍNH QUY LUẬT CỦA QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 1. Khái niệm đời sống văn hóa tinh thần Văn hóa - cho đến nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau. Tựu trung lại, nói tới văn hóa là nói tới con người và nói tới việc phát huy những năng lực bản chất người của con người nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội.
Chính vì vậy, mà nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đi tới khẳng định rằng, khái niệm văn hóa chứa đựng bản chất nhân văn, nhân bản. Và, cơ sở của mọi hoạt động văn hóa là khát vọng hướng tới cái chân, cái thiện và cái mỹ - ba trụ cột có tính chất bền vững, vĩnh hằng và là thước đo của sự phát triển văn hóa của mỗi dân tộc cũng như của cả nhân loại. Tiếp cận một cách cụ thể hơn thì, văn hóa là sự phát huy các năng lực bản chất của con người, là sự thể hiện đầy đủ nhất chất người, nên văn hóa có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, từ hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, cư xử, giao tiếp, thậm chí đến cả những suy tư thầm kín của mỗi cá nhân. Hoạt động văn hóa là hoạt động sản xuất ra các giá trị vật chất và giá trị tinh thần nhằm giáo dục con người hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ và khả năng sáng tạo ra chân, thiện, mỹ trong đời sống của từng con người cũng như của cả xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện 8 của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [77;431]. Qua quan niệm trên của Hồ Chí Minh cho thấy: Văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng nhất, bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra; văn hóa là động lực giúp con người sinh tồn; văn hóa là mục đích cuộc sống loài người; xây dựng văn hóa dân tộc phải toàn diện, đặt xây dựng “tinh thần độc lập tự cường” lên hàng đầu.
Năm 1988, tại lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor đưa ra định nghĩa: Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống và dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình [105;23]. Qua định nghĩa vừa nêu trên, nhận thấy yếu tố cốt lõi của văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình con người làm nên lịch sử của mình, là cái mà dựa vào đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình. Với ý nghĩa đó, có thể khái quát lại: Văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử bằng lao động của mình trên cả hai lĩnh vực sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Văn hóa tinh thần là tổng thể những giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử bằng lao động của mình trên lĩnh vực sản xuất tinh thần.
Nói đến đời sống là nói “sinh hoạt”, nói “hoạt động”. Mác viết: “Cuộc sống là gì nếu không phải là hoạt động sống” [75;233]. Như vậy, nói đời sống văn hóa tinh thần là nói hoạt động của con người trên lĩnh vực tinh thần - hoạt động sản xuất, trao đổi và tiêu dùng giá trị tinh thần diễn ra trên các lĩnh vực tư tưởng, phong tục tập quán, nghệ thuật, giáo dục, tín ngưỡng - tôn giáo. Đời sống văn hóa tinh 9 thần không phải là một cơ cấu tĩnh tại, một hệ thống đóng kín, nằm im của những giá trị loại biệt mà là một tổng thể đang vận động của các giá trị tinh thần được thực hiện và thể hiện thông qua hoạt động của con người trên các lĩnh vực khác nhau của sự sản xuất, trao đổi và tiêu dùng tinh thần.
Đời sống văn hóa tinh thần bao gồm các lĩnh vực hoạt động chủ yếu: tư tưởng, phong tục tập quán, nghệ thuật, giáo dục, tín ngưỡng - tôn giáo. Mỗi lĩnh vực hoạt động có mục đích, nhiệm vụ và chức năng riêng nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Trước hết, về lĩnh vực hoạt động tư tưởng, phong tục tập quán Hoạt động tư tưởng là nhằm hình thành thế giới quan khoa học - hệ thống các quan điểm về thế giới tự nhiên, xã hội, về qui luật vận động và phát triển của chúng, về các con đường nhận thức và cải tạo thế giới ấy. Thế giới quan khoa học được coi là “cốt lõi” của văn hóa, bởi thế giới quan khoa học không chỉ bao gồm các tri thức, nhận thức, quan niệm mà còn có cả tình cảm, niềm tin.
Chính tình cảm và niềm tin đã hình thành, phát triển và củng cố trên cơ sở của tri thức là nguồn gốc của tính tích cực của cá nhân, của cộng đồng. Do vậy, thế giới quan khoa học có vai trò quyết định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của từng cộng đồng đối với thế giới xung quanh, làm kim chỉ nam cho hoạt động và quan hệ đó phù hợp với qui luật phát triển của thực tại, thúc đẩy thêm sự phát triển đó. Để đảm bảo cho đời sống văn hóa tinh thần được phát triển đúng hướng, có gốc rễ vững chắc, bền lâu và có chất lượng thực sự thì hoạt động tư tưởng phải là hoạt động chỉ đạo, qui định trình độ và phẩm chất của đời sống văn hóa tinh thần. Hoạt động tư tưởng với tư cách là một lĩnh vực của đời sống văn hóa tinh thần có nhiệm vụ “đem lại được những tri thức đúng đắn, củng cố được niềm tin, rèn luyện được ý chí cách mạng và tinh thần lạc quan trước tiền đồ đất nước” [89;31].
Phong tục là toàn bộ những thói quen của con người đã được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nền nếp, được cộng đồng thừa nhận và tự 10 giác thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng. Phong tục không mang tính cố định và bắt buộc như nghi lễ, nghi thức, tuy nhiên nó cũng không tùy tiện, nhất thời như hoạt động sống thường ngày. Phong tục của một dân tộc, một địa phương, một tầng lớp xã hội, thậm chí của một dòng họ và gia tộc, thể hiện qua nhiều chu kỳ khác nhau của đời sống con người. Hệ thống các phong tục liên quan đến vòng đời của con người như phong tục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão; phong tục tang ma, cúng giỗ… Hệ thống các phong tục liên quan đến chu kỳ lao động của con người, mà với cư dân nông nghiệp là từ làm đất gieo hạt, cấy hái đến thu hoạch, với ngư dân là theo mùa đánh bắt cá… Phong tục là một bộ phận của văn hóa, có vai trò quan trọng trong việc hình thành truyền thống của một dân tộc, địa phương, nó ảnh hưởng, thậm chí chế định nhiều ứng xử của cá nhân trong cộng đồng.
Phong tục được tuân thủ theo quy định của luật tục hay hương ước. Cùng với sự phát triển của xã hội, một số phong tục không còn phù hợp với thời đại mới, bị đào thải, trong khi một số phong tục mới được hình thành [59;482]. Tập quán là phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc và đã thành nếp trong lối sống, trong lao động ở một cá nhân, một cộng đồng. Tập quán gần gũi với thói quen ở chỗ nó mang tính tĩnh tại, bền lâu, khó thay đổi.
Trong những tình huống nhất định, tập quán biểu hiện như một hành vi mang tính tự động hóa. Tập quán hoặc xuất hiện và định hình một cách tự phát, hoặc hình thành và ổn định thông qua sự rèn luyện và là kết quả của quá trình giáo dục có định hướng rõ rệt [60;101-102]. Thứ hai, về lĩnh vực hoạt động nghệ thuật là nhằm sáng tạo các giá trị nghệ thuật đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con người. Là lĩnh vực hoạt động có tính chất đặc trưng nhất, mang tính thẩm mỹ cao nhất trong các hoạt động sáng tạo tinh thần, và đồng thời, cũng có tính giáo dục, cảm hóa mạnh mẽ nhất đối với con người.
11 Mục đích của nghệ thuật là đem đến cho con người cái đẹp. Thông qua cái đẹp, nghệ thuật bồi dưỡng cho con người về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn và lối sống có nhân cách cao đẹp. Nghệ thuật từ lâu đã được thừa nhận là một loại hình “sắc bén nhất, có hiệu quả sâu xa và bền vững nhất trong việc hun đúc nhận thức và tình cảm con người” [90;13]. Nghệ thuật bao gồm nhiều bộ môn: văn học, mỹ thuật, nhiếp ảnh, âm nhạc, hội họa … chúng lấy chất liệu từ cuộc sống phong phú, sôi động trên mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội và chúng: “đã đưa lại một cái gì cao hơn chất liệu ấy và những phẩm chất vốn có trong bản thân chất liệu” [27;203].
Có thể nói hoạt động nghệ thuật cũng là một nhịp cầu - một “nhịp cầu đặc biệt” để giúp cho cuộc sống con người và xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác hướng tới cái đẹp, cái cao quý cả trong tâm hồn lẫn thể chất. Nghệ thuật thu hút sự chú ý không chỉ của một số người nhất định như các lĩnh vực khác, mà là của mọi người. Tính phổ biến của nghệ thuật là tạo cho nó khả năng kết dính, thống nhất con người lại với nhau trong cái đẹp, cổ vũ cho cái đẹp và phấn đấu vì cái đẹp dù cho họ là ai, thuộc diện sống nào và ở đâu trên trái đất này.