CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Khái niệm Toà án nhân dân cấp huyện Theo Từ điển Luật học, Tòa án được hiểu là: “Cơ quan trung tâm của quyền tư pháp có chức năng giải quyết các vi phạm pháp luật”. Tại Việt Nam, Tòa án đóng vai trò là một trụ cột quan trọng trong những cơ quan thuộc hệ thống bộ máy Nhà nước bên cạnh hệ thống cơ quan hành chính và hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước. Toà án thực hiện chức năng xét xử các loại vụ án thuộc nhiều lĩnh vực như: hình sự, dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại, lao động và giải quyết các việc khác theo quy định pháp luật.
Theo Từ điển Luật học, TAND được khái niệm là cơ quan nhân danh Nhà nước thực hiện công tác xét xử, bảo vệ công lý. Hệ thống TAND tại Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc phân cấp hành chính song song với hệ thống chính quyền địa phương từ cấp huyện trở lên đều có một TAND tương đương và hiện nay hệ thống TAND bao gồm: TAND tối cao, các TAND cấp cao, các TAND địa phương, các Tòa án quân sự và các Toà án khác do luật định mới có thẩm quyền xét xử các vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật. Đây là điểm cơ bản và quan trọng giúp phân biệt hoạt động TAND với hoạt động của các cơ quan khác trong bộ máy Nhà nước. Tại Điều 102 theo Hiến pháp 2013 và Luật TCTAND khẳng định “Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [15, tr.7], TAND là cơ quan thực thi quyền tư pháp, đóng vai trò then chốt đảm bảo tính dân chủ, là thước đo của công lý, sự công bằng xã hội và lòng tin của nhân dân.
Bản chất hoạt động xét xử của TAND là hiện thân của quyền lực nhà nước, thể hiện ý chí của giai cấp thống 10 trị trong đời sống xã hội. Do đó, tổ chức và hoạt động tư pháp, đặc biệt là TAND hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền con người, lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Vì vậy mà TAND là nơi thể hiện công lý trong bộ máy nhà nước và không thể thiếu trong hệ thống bộ máy nhà nước. Thẩm quyền xét xử của Tòa án bao gồm các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật [33, tr.
“Huyện” được định nghĩa là đơn vị hành chính địa phương cấp hai ở khu vực nông thôn, gồm các xã, phường, thị trấn; là bộ phận cấu thành của đơn vị hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Thuật ngữ “cấp huyện” thường được dùng để chỉ cấp hành chính địa phương thứ hai, bao gồm cả thành phố trực thuộc tỉnh, quận, huyện và thị xã. Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, cấp huyện tại Điều 2 bao gồm: huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Theo quy định của pháp luật, cấp huyện được chia thành 3 loại (I, II, III).
Ngoài ra còn chia theo Quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương gắn với khu vực đô thị; huyện gắn với khu vực nông thôn. Cấp huyện là đơn vị hành chính lãnh thổ trung gian nằm giữa tỉnh và xã, là cấp hành chính thuộc địa giới của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực trên địa bàn. TAND cấp huyện cũng bao gồm: huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Như vậy, TAND cấp huyện là cơ quan xét xử được tổ chức ở đơn vị hành chính cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, có nhiệm vụ giải quyết sơ thẩm ban đầu các vụ, việc theo quy định của pháp luật, đóng vai trò quan trọng và chủ chốt trong bộ máy Nhà nước tại địa phương, là nơi thể hiện công lý trong xã hội.
TAND cấp huyện đóng vai trò quan trọng trong 11 việc giữ gìn, tôn trọng và phát huy giá trị tốt đẹp của xã hội, tạo niềm tin trong nhân dân vào hệ thống tư pháp, giáo dục công dân tại địa phương chấp hành pháp luật, góp phần bảo vệ an ninh, trật tự xã hội và khuyến khích người dân đấu tranh chống lại các hành vi vi phạm pháp luật. Khái quát về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân cấp huyện 1. Về tổ chức của Toà án nhân dân cấp huyện Theo Luật TCTAND sửa đổi quy định về tổ chức TAND bao gồm: TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND cấp tỉnh (còn gọi là tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương), TAND cấp huyện (còn gọi là huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương) và Toà án quân sự. Trong đó, TAND cấp huyện có thể có các Tòa chuyên trách như Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa gia đình và người chưa thành niên, Tòa xử lý hành chính.
Căn cứ quy định này và yêu cầu thực tế xét xử ở mỗi TAND cấp huyện, tổ chức của TAND cấp huyện đều có kết cấu cơ bản gồm: Cơ cấu tổ chức, bộ máy giúp việc và một số nơi sẽ có Tòa chuyên trách [33, tr456-459]. Về cơ cấu tổ chức của TAND cấp huyện theo Luật TCTAND sửa đổi quy định TAND cấp huyện gồm: Chánh án, Phó Chánh án, Chánh tòa, Phó Chánh tòa, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên về thi hành án, công chức khác và người lao động, trong đó: - Chánh án TAND cấp huyện do Chánh án TANDTC bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức; nhiệm kỳ của Chánh án TAND cấp huyện là 05 năm, kể từ ngày được bổ nhiệm. Chánh án TAND có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật TCTAND, các văn bản hướng dẫn của TAND tối cao và theo quy định của luật tố tụng. - Phó Chánh án TAND cấp huyện do Chánh án TANDTC bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức; nhiệm kỳ của Phó Chánh án TAND cấp huyện là 05 năm, kể 12 từ ngày được bổ nhiệm.
Phó Chánh án TAND cấp huyện giúp Chánh án thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án. Khi Chánh án vắng mặt, Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm Lãnh đạo công tác của Tòa án. Phó Chánh án chịu trách nhiệm trước Chánh án về nhiệm vụ được giao và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của luật tố tụng. - Thư ký Tòa án và thẩm tra viên: Đây là một chức danh tư pháp, tại Luật TCTAND sửa đổi quy định rõ về điều kiện, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn cũng như chế độ chính sách của từng ngạch thư ký Tòa án và thẩm tra viên.
- Ngoài ra, còn có các công chức khác và người lao động như: Kế toán, Lưu trữ viên, Lái xe, Nhân viên bảo vệ, Nhân viên phục vụ. - Hội thẩm nhân dân không nằm trong tổ chức của TAND cấp huyện nhưng lại nằm trong hoạt động của TAND cấp huyện đó là thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm. HTND được bầu theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân đã bầu ra Hội thẩm nhân dân. Nhiệm kỳ của HTND là 05 năm.
Về bộ máy giúp việc của TAND cấp huyện theo Luật TCTAND sửa đổi gồm có Văn phòng và đơn vị tương đương. Thông thường tại các đơn vị TAND cấp huyện đều có Văn phòng là bộ máy giúp việc chính cho TAND cấp huyện gồm: 01 Chánh Văn phòng (Thẩm phán); 01 Phó Chánh Văn phòng (Thẩm phán hoặc Thư ký); các Thư ký giúp việc (Tùy vào tình hình biên chế của đơn vị sẽ có 02 hoặc 03 Thư ký giúp việc văn phòng); 01 Kế toán; 01 Lưu trữ viên; Lái xe cơ quan, nhân viên bảo vệ và nhân viên phục vụ. Cán bộ, công chức, người lao động làm việc tại TAND cấp huyện có chế độ lương, phụ cấp theo quy định chung của hệ thống Tòa án, chịu sự điều chỉnh của quy chế, quy định riêng về quy tắc ứng xử, về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của nội bộ của hệ thống Tòa án. Về hoạt động của Toà án nhân dân cấp huyện Tại Luật TCTAND sửa đổi quy định hoạt động của TAND cấp huyện 13 bao gồm: Giải quyết sơ thẩm các vụ án dân sự mở rộng: Tại Điều 36 BLTTDS, quy định TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm vụ án về dân sự mở rộng bao gồm: tranh chấp các hợp đồng dân sự, tranh chấp đất đai, tranh chấp hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại,… đây là các quan hệ tranh chấp xảy ra thường xuyên trên cả nước, ngoài ra, còn có các tranh chấp lao động, phá sản và các vụ việc khác theo quy định pháp luật.
Giải quyết sơ thẩm các vụ án hành chính: Tại Điều 31 LTTHC quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND cấp huyện đối với các vụ án liên quan đến các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, hoặc cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện trở xuống trong cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án đó. Giải quyết sơ thẩm các vụ án hình sự: Tại khoản 1 Điều 268 BLTTHS, TAND cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về tội phạm ở mức độ ít nghiêm trọng, nghiêm trọng và rất nghiêm trọng, trừ một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và tội phạm liên quan đến an ninh quốc gia, tội phá hoại hòa bình quy định tại điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 168 BLTTHS. Giải quyết khiếu nại, tố cáo: TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến hoạt động tố tụng hoặc trong trường hợp khiếu nại, tố cáo đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Toà án được giao. Tham gia xây dựng pháp luật: TAND cấp huyện có trách nhiệm nghiên cứu, đề xuất các loại án điển hình tại địa phương để làm nguồn án lệ cho ngành Toà án.
Ngoài ra, đề xuất, đóng góp ý kiến trong công trình nghiên cứu luật, trao đổi nghiệp vụ liên ngành. Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật: Đây là một quy định mở về thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện, ví dụ như: Ra quyết định thi hành án hình sự; ra quyết định miễn, giảm thời hạn chấp hành án 14 hình sự; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và các quyết định khác do pháp luật quy định.