Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống xuất bản khoa học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam với quy mô 34 tạp chí và 45 ấn phẩm định kỳ chuyên ngành (gồm 33 ấn phẩm tiếng Việt và 12 ấn phẩm tiếng Anh) giữ vị trí trung tâm trong việc công bố tri thức học thuật quốc gia. Tuy nhiên, tính đến giai đoạn khảo sát 2016 - 2018, toàn bộ hệ thống vẫn chưa có ấn phẩm nào được chỉ mục trong các cơ sở dữ liệu học thuật quốc tế uy tín như Scopus hay Web of Science (ISI). Thực trạng này phản ánh rào cản lớn về hội nhập học thuật quốc tế, trong đó phương thức quản trị nguồn lực tài chính mang tính truyền thống, bao cấp là nút thắt cơ bản nhất.

Số liệu thống kê thực tế cho thấy nguồn kinh phí vận hành của các tạp chí phụ thuộc tới hơn 80% vào nguồn ngân sách nhà nước cấp hàng năm. Trong năm 2016, tổng ngân sách nhà nước phân bổ cho 33 tạp chí tiếng Việt và 9 phụ trương tiếng Anh đạt hơn 8,4 tỷ đồng, song định mức cấp phát lại bị dàn trải nghiêm trọng, phổ biến chỉ ở mức 100 đến 300 triệu đồng cho mỗi tòa soạn mỗi năm. Mức kinh phí này không đủ để triển khai các quy chuẩn biên tập quốc tế như phản biện kín độc lập, ứng dụng hệ thống xuất bản trực tuyến hoặc thu hút chuyên gia quốc tế tham gia ban biên tập.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề đổi mới toàn diện công tác quản lý tài chính tại 34 cơ quan tạp chí trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trong khung thời gian từ năm 2012 đến năm 2016, gắn liền với các mốc pháp lý quan trọng như Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và Nghị định số 54/2016/NĐ-CP về cơ chế tự chủ tài chính cho tổ chức khoa học công nghệ công lập. Ý nghĩa then chốt của luận văn là thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu định lượng và giải pháp thực chứng nhằm tái cấu trúc dòng vốn, nâng tỷ lệ nguồn thu tự chủ từ dưới 20% lên trên 40%, tạo bệ phóng đưa ít nhất 2 đến 3 tạp chí chuyên ngành đạt chuẩn quốc tế trong chu kỳ 5 năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý tài chính công và cơ chế quản trị tự chủ đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ. Trọng tâm lý thuyết bắt nguồn từ các quy định thể chế của Nhà nước như Nghị định số 115/2005/NĐ-CP, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, và được hoàn thiện qua Nghị định số 16/2015/NĐ-CP cùng Nghị định số 54/2016/NĐ-CP. Các khung thể chế này quy định quá trình chuyển đổi căn bản từ phương thức cấp phát kinh phí theo dự toán thụ động sang cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ và trao quyền tự chủ toàn diện về tài chính, bộ máy và hoạt động chuyên môn.

Đồng thời, luận văn tích hợp khung tiêu chuẩn đánh giá tạp chí khoa học quốc tế của hệ thống Scopus và Viện Thông tin Khoa học ISI. Khung tiêu chuẩn này xác lập 8 chỉ tiêu định lượng và định tính bắt buộc: tính định kỳ xuất bản chuẩn xác, chính sách tạp chí minh bạch, quy chuẩn trích dẫn tường minh, ngôn ngữ thông tin thư viện chuẩn tiếng Anh, chất lượng nội dung nguyên gốc, quy trình bình duyệt chuyên gia độc lập (peer review), tính đa dạng quốc tế của ban biên tập cùng tác giả, và năng lực vận hành cổng thông tin trực tuyến (online submission system).

Hệ thống khái niệm nòng cốt trong nghiên cứu bao gồm: Quản lý tài chính tạp chí khoa học (quy trình tạo lập, phân phối và kiểm soát các dòng tiền tệ phục vụ xuất bản), Quỹ nhuận bút theo Nghị định số 18/2014/NĐ-CP, Quỹ phản biện độc lập theo Quyết định số 2011/QĐ-KHXH, và Tự chủ tài chính trong tổ chức khoa học công nghệ công lập.

Phương pháp nghiên cứu

Về nguồn dữ liệu và cỡ mẫu, tác giả thu thập và xử lý toàn bộ dữ liệu tài chính thứ cấp từ 34 tòa soạn tạp chí với 45 ấn phẩm chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam xuyên suốt giai đoạn 2012 - 2016. Dữ liệu thực chứng được tổng hợp trực tiếp từ báo cáo quyết toán của Ban Kế hoạch - Tài chính và kết quả khảo sát chuyên đề lấy ý kiến từ 100% lãnh đạo tòa soạn cùng cán bộ kế toán phụ trách.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn bộ hệ thống thay vì chọn mẫu ngẫu nhiên. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm bao quát toàn diện cả 3 khối chuyên ngành đặc thù gồm Khối Khoa học xã hội, Khối Khoa học nhân văn, Khối Nghiên cứu Quốc tế và vùng, đảm bảo phản ánh chính xác sự khác biệt về doanh thu phát hành, cơ cấu chi phí và đối tượng tiếp nhận.

Nghiên cứu phối hợp chặt chẽ giữa phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp - so sánh định lượng chuỗi thời gian và ma trận phân tích SWOT. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp bóc tách mối quan hệ giữa định mức chi trả với chất lượng bài báo học thuật, xác định lượng tồn kho ấn phẩm thực tế và định lượng tiềm năng hình thành các quỹ tự chủ tại từng nhóm tạp chí.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu thu của hệ thống tạp chí bộc lộ sự phụ thuộc nặng nề vào bao cấp khi nguồn ngân sách nhà nước chiếm hơn 80% tổng chi phí. Giai đoạn 2012 - 2016, ngân sách cấp phân bổ bình quân phổ biến chỉ từ 100 đến 300 triệu đồng mỗi năm cho từng tạp chí; chỉ một số ít đơn vị có quy mô lớn nhận mức trên 350 triệu đồng như Tạp chí Triết học (364 triệu đồng năm 2016), Tạp chí Kinh tế và Chính trị thế giới (370 triệu đồng) hay Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam (454 triệu đồng).

Thứ hai, nguồn thu từ thương mại hóa và phát hành bản in ở phần lớn các tòa soạn duy trì ở mức rất thấp, chỉ đạt từ vài triệu đến dưới 80 triệu đồng mỗi năm. Tuy vậy, nghiên cứu phát hiện điểm sáng đột phá tại Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội trực thuộc Học viện Khoa học xã hội: doanh thu bán tạp chí tăng vọt từ 15,2 triệu đồng năm 2013 lên hơn 200 triệu đồng năm 2014, đạt 680 triệu đồng năm 2015 và cán mốc hơn 1,5 tỷ đồng năm 2016, thặng dư lớn so với tổng chi phí sản xuất 900 triệu đồng cùng năm.

Thứ ba, cơ cấu chi tiêu dồn tỷ trọng lớn vào nhuận bút nhưng thiếu kinh phí đầu tư cho nâng cấp học thuật quốc tế. Điển hình tại Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam năm 2015, chi phí nhuận bút chiếm 46% (tương đương 209,97 triệu đồng) ở bản tiếng Việt và chiếm 40,6% (đạt 48,79 triệu đồng) ở bản tiếng Anh, trong khi chi cho bình duyệt chuyên gia quốc tế và số hóa dữ liệu gần như chưa được bố trí nguồn vốn riêng.

Thứ tư, hiệu quả sản xuất bản in vật lý bộc lộ lãng phí lớn do tỷ lệ tồn kho và biếu tặng quá cao. Thống kê giai đoạn 2012 - 2015 cho thấy số lượng tạp chí có tỷ lệ tồn kho trên 40% so với sản lượng in có chiều hướng gia tăng đáng kể trong năm 2015 so với giai đoạn 2012 - 2014 (thời kỳ đã ghi nhận tới 8 tạp chí tồn kho trên 40%).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên là cơ chế phân bổ tài chính truyền thống dựa trên số trang in và số lượng ấn bản định kỳ thay vì căn cứ vào nhu cầu thị trường và chỉ số trích dẫn khoa học. Tâm lý trông chờ vào ngân sách nhà nước làm giảm tính chủ động liên kết dịch vụ truyền thông và mở rộng cơ sở độc giả.

So sánh với mô hình nâng cấp Tạp chí Kinh tế và Phát triển của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (giai đoạn 2009 - 2012 với nguồn lực đầu tư trên 1 tỷ đồng mỗi năm), việc tập trung nguồn tài chính thỏa đáng cho khâu thẩm định bài viết và trả thù lao phản biện độc lập là nhân tố quyết định để hội nhập quốc tế. Kết quả khảo sát thực tế tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cũng chỉ ra có tới 92,8% ý kiến đồng thuận tuyệt đối về việc thiết lập Quỹ phản biện độc lập từ nguồn đóng góp của các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp với mức thu khoảng 1 triệu đồng cho mỗi bài viết.

Dữ liệu phân tích này có thể được trình bày trực quan qua biểu đồ cột kép so sánh tương quan giữa ngân sách nhà nước cấp đối ứng với nguồn thu bán ấn phẩm giai đoạn 2012 - 2016, kết hợp bảng ma trận phân nhóm 34 tạp chí theo tỷ lệ tồn kho và doanh số phát hành. Cách tiếp cận trực quan này hỗ trợ các nhà quản trị nhận diện chính xác các đơn vị hoạt động hiệu quả để ưu tiên phân bổ dòng vốn trọng điểm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính và thúc đẩy các tạp chí hội nhập chuẩn quốc tế, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, chuyển đổi phương thức phân bổ ngân sách sang cơ chế đầu tư trọng điểm cuốn chiếu giai đoạn 5 năm. Lãnh đạo Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cùng Ban Kế hoạch - Tài chính cần chấm dứt việc phân bổ dàn trải 100 đến 300 triệu đồng mỗi năm, thay vào đó chọn lọc 2 đến 3 tạp chí hạt nhân (như Vietnam Social Sciences hoặc Vietnam Socio-Economic Development) để đầu tư gói kinh phí vượt trội từ 1 đến 1,5 tỷ đồng mỗi năm trong chu kỳ 5 năm. Mục tiêu đặt ra là đưa các tạp chí này gia nhập danh mục Scopus/ISI, tiến tới tự chủ 50% đến 70% tài chính sau khi kết thúc chu kỳ đầu tư.

Thứ hai, thể chế hóa và vận hành Quỹ phản biện độc lập tại 100% các tòa soạn. Ban Biên tập các tạp chí cần ban hành quy định thu phí phản biện từ 1 đến 2 triệu đồng đối với các bài báo là sản phẩm nghiệm thu của đề tài khoa học các cấp (đã đạt tỷ lệ đồng thuận 92,8%). Nguồn thu này phải được quản lý độc lập để chi trả thù lao thỏa đáng cho các chuyên gia bình duyệt kín trong và ngoài nước trong giai đoạn 2019 - 2023.

Thứ ba, cắt giảm từ 35% đến 50% sản lượng in ấn giấy để tái cơ cấu dòng vốn sang xuất bản số. Các tòa soạn cần kiểm soát chặt chẽ quy mô in ấn, kiên quyết hạ tỷ lệ tồn kho xuống dưới mức 15%, đồng thời trích chuyển tối thiểu 25% ngân sách thường xuyên để nâng cấp hệ thống phần mềm quản lý bài nộp trực tuyến và phát triển cổng thông tin điện tử mở (Open Access).

Thứ tư, áp dụng cơ chế khoán chi linh hoạt và điều chỉnh định mức chi tiêu nội bộ. Thủ trưởng các viện nghiên cứu và Tổng biên tập cần vận dụng tối đa thẩm quyền tự chủ theo Nghị định số 54/2016/NĐ-CP và Quyết định số 2011/QĐ-KHXH, thiết lập khung nhuận bút linh hoạt từ 2 đến 5 triệu đồng cho các công trình nghiên cứu chất lượng cao có trích dẫn quốc tế nhằm thu hút các học giả đầu ngành.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung giải pháp của luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, các nhà quản lý và hoạch định chính sách tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính. Nhóm này có thể sử dụng kết quả nghiên cứu làm căn cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế giao quyền tự chủ tài chính theo Nghị định số 54/2016/NĐ-CP cho khối cơ quan báo chí khoa học công lập.

Thứ hai, Ban Biên tập và Tổng biên tập các tạp chí khoa học chuyên ngành trong cả nước. Nghiên cứu mang lại khung tham chiếu hữu ích về việc xây dựng Quỹ phản biện độc lập, phương thức cơ cấu tỷ lệ chi nhuận bút (chiếm 40% đến 46%) và bài học kinh nghiệm phát hành đạt doanh thu 1,5 tỷ đồng từ mô hình Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội.

Thứ ba, cán bộ quản lý tài chính, kế toán viên tại các đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ có thu. Luận văn cung cấp phương pháp xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, chỉ tiêu kiểm soát tỷ lệ tồn kho ấn phẩm dưới ngưỡng an toàn 15% đến 20% và quy trình quyết toán dòng vốn tự chủ minh bạch.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý Kinh tế, Quản lý Công. Tài liệu này là nguồn tham khảo học thuật giá trị về phương pháp phân tích tài chính đơn vị sự nghiệp công lập, xử lý chuỗi số liệu thứ cấp 2012 - 2016 và áp dụng tiêu chuẩn Scopus/ISI vào quản trị xuất bản.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao các tạp chí khoa học xã hội bắt buộc phải đổi mới quản lý tài chính theo chuẩn quốc tế? Đổi mới quản lý tài chính là điều kiện tiên quyết để tạo nguồn lực đầu tư cho hệ thống phản biện độc lập, số hóa quy trình biên tập và chi trả thù lao chuyên gia quốc tế. Nếu giữ nguyên mức phân bổ ngân sách dàn trải 100 đến 300 triệu đồng mỗi năm, các tạp chí không thể đáp ứng 8 tiêu chuẩn khắt khe của Scopus và ISI.

Nguồn kinh phí hoạt động của 34 tạp chí thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam hiện nay phân bổ thế nào? Hệ thống tạp chí phụ thuộc hơn 80% vào nguồn ngân sách nhà nước, với tổng kinh phí năm 2016 đạt trên 8,4 tỷ đồng phân bổ cho 33 tạp chí tiếng Việt và 9 phụ trương tiếng Anh. Trong khi đó, nguồn thu từ thương mại hóa của phần lớn các đơn vị chỉ đạt dưới 80 triệu đồng mỗi năm.

Cơ chế thành lập Quỹ phản biện giải quyết vấn đề chất lượng học thuật ra sao? Quỹ phản biện hình thành từ nguồn thu phí thẩm định bài viết khoảng 1 triệu đồng đối với các đề tài nghiên cứu, nhận được sự ủng hộ của 92,8% cán bộ khảo sát. Quỹ tạo nguồn tài chính chuyên biệt để trả thù lao thỏa đáng cho người bình duyệt kín, đảm bảo tính khách quan và nâng cao chất lượng bản thảo.

Kinh nghiệm tăng trưởng doanh thu của Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội có thể áp dụng rộng rãi không? Mô hình này hoàn toàn có thể nhân rộng. Đơn vị đã nâng doanh thu từ 15,2 triệu đồng năm 2013 lên hơn 1,5 tỷ đồng năm 2016 nhờ kết hợp ấn phẩm với mạng lưới đào tạo học viên cao học và nghiên cứu sinh. Các tạp chí chuyên ngành khác có thể học hỏi cách thức khai thác đối tượng độc giả mục tiêu này.

Làm thế nào để chấm dứt tình trạng tạp chí in bị tồn kho trên 40%? Tòa soạn cần chuyển đổi phương thức in ấn từ số lượng cố định sang in theo đơn đặt hàng thực tế, đồng thời cắt giảm 35% đến 50% sản lượng bản in giấy. Nguồn kinh phí tiết kiệm từ in ấn phải được chuyển giao sang vận hành cổng xuất bản điện tử trực tuyến nhằm mở rộng đối tượng độc giả.

Kết luận

  • Hệ sinh thái 34 tạp chí với 45 ấn phẩm định kỳ phụ thuộc hơn 80% vào ngân sách nhà nước cấp (năm 2016 đạt hơn 8,4 tỷ đồng), nhưng định mức cấp bình quân 100 đến 300 triệu đồng cho mỗi đơn vị còn quá dàn trải.
  • Hoạt động thương mại hóa chưa đồng đều, tồn tại khoảng cách lớn giữa tình trạng tồn kho trên 40% ở nhiều tòa soạn với mức doanh thu đột phá hơn 1,5 tỷ đồng tại đơn vị tiên phong.
  • Khung tiêu chuẩn quốc tế Scopus/ISI gồm 8 chỉ tiêu bắt buộc đòi hỏi phải tái cơ cấu chi tiêu, đặc biệt là dành ngân sách thỏa đáng cho bình duyệt chuyên gia và xuất bản trực tuyến.
  • Mô hình Quỹ phản biện độc lập đạt tỷ lệ đồng thuận 92,8% từ khảo sát thực tế, khẳng định tính khả thi cao trong việc tạo nguồn kinh phí nâng cao chất lượng bài viết.
  • Chiến lược đầu tư trọng điểm cuốn chiếu 5 năm với quy mô 1 đến 1,5 tỷ đồng mỗi năm cho 2 đến 3 tạp chí mũi nhọn là giải pháp then chốt để đưa tạp chí khoa học xã hội Việt Nam gia nhập hệ thống chỉ mục quốc tế.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý tài chính tạp chí học thuật trong bối cảnh thực hiện tự chủ theo Nghị định số 54/2016/NĐ-CP. Lộ trình triển khai tiếp theo cần tập trung hoàn thiện cơ chế Quỹ phản biện giai đoạn 2019 - 2020 và chuẩn hóa quốc tế giai đoạn 2021 - 2025. Các cơ quan quản lý và tòa soạn tạp chí hãy chủ động áp dụng các giải pháp tài chính này để nâng cao vị thế của nền khoa học xã hội nước nhà trên trường quốc tế.