phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của đổi mới quản lý công tác sinh viên Chƣơng 2: Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với công tác sinh viên ở Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Chƣơng 3: Một số giải pháp đổi mới quản lý công tác sinh viên ở Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA ĐỔI MỚI QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN 1. Công tác Học sinh, Sinh viên Trong điều 1 Quy chế Công tác HSSV trong các trường đào tạo, ban hành kèm theo quyết định số 1584/GD-ĐT ngày 27/7/1993 của Bộ trưởng bộ GD&ĐT đã định nghĩa: “Người đang học trong hệ trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề gọi là học sinh chuyên nghiệp (gọi tắt là học sinh), còn người đang học trong hệ đại học và cao đẳng gọi là sinh viên.” Trong các văn bản của Bộ GD&ĐT, thường dùng chung cho các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp (nay là trường trung cấp) cụm từ “công tác học sinh, sinh viên” (CTHSSV) là danh từ dùng chung để chỉ hoạt động và tên tổ chức phụ trách công việc này. Đối với một số trường có cả hệ đại học, cao đẳng, trung cấp, khối trung học phổ thông thường dùng cụm từ “công tác học sinh, sinh viên” trong các văn bản và tên tổ chức phụ trách công việc này.
Đối với một số trường chỉ có hệ đại học sẽ chỉ dùng từ “công tác sinh viên” trong các văn bản và tổ chức phụ trách công việc này. Trường ĐH Kinh tế ĐHQGHN chỉ có hệ đại học, nên trong các văn bản, tên của bộ phận phụ trách công việc này sẽ dùng cụm từ “công tác sinh viên”. Cơ sở lý luận về quản lý Hoạt động quản lý của xã hội loài người xuất hiện khi xã hội loài người có sự phân công, hợp tác. Sự phân công, hợp tác trong lao động đã làm cho lao động của loài người đạt được hiệu quả, năng suất cao hơn.
Sự phân công và hợp tác lao động đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh. hoạt động giữa các cá nhân, các nhóm của người đứng đầu. Đây 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là hoạt động để người đứng đầu phối hợp nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra. Đầu thế kỷ 20 nhà quản lý Mary Parker Follett định nghĩa quản lý là "nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác".
Nói đến hoạt động quản lý người ta thường nhắc tới ý tưởng sâu sắc của C. Mác: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình còn giàn nhạc thì thì cần nhạc trưởng”. Như vậy hoạt động quản lý chỉ nảy sinh khi có “tổ chức”. Thuật ngữ “tổ chức” mang tính đa nghĩa, song ở đây chúng ta nói đến “tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó, mà để đạt được mục đích đó một con người riêng lẻ không thể nào đạt đến.”[38] Các tổ chức thường có sự khác biệt với nhau, sự khác biệt đó được phân biệt trên cơ sở các tiêu chí : a/ Mục đích của tổ chức; b/ Quy mô của tổ chức; c/ Cơ cấu của tổ chức; d/ Những điều kiện tồn tại và phát triển tổ chức.
Song bất luận tổ chức có mục đích, cơ cấu, quy mô. ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý thì tổ chức mới có thể hoạt động và đạt được mục đích của mình. Hoạt động quản lý theo định nghĩa kinh điển nhất là : “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đến mục đích của tổ chức.” [38] Hoạt động quản lý có 4 chức năng chủ yếu, cơ bản là: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Kế hoạch hoá (planning): Kế hoạch hoá là việc xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Kế hoạch hoá có 3 nội dung chính : a) Xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức; b) Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu; c) Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó.
Tổ chức (organizing): là việc chuyển hoá những ý tưởng khá trừu tượng của kế hoạch thành hiện thực. Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả.
Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng, và sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ. Lãnh đạo (leading): Sau khi lập được hế hoạch, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có ai đó đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Hiển nhiên việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia.
Kiểm tra (controlling): Đây là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Một kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn, đó cũng là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ như sau: - Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động. - Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra. - Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch.
- Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần. Quản lý giáo dục và quản lý công tác học sinh, sinh viên Chúng ta đã biết giáo dục là một chức năng, một hiện tượng của xã hội loài người được thực hiện một cách tự giác vượt qua cái ngưỡng “tập tính” của các giống loài động vật bậc thấp khác. Mác và Ănghen: “Một quy luật của tiến bộ xã hội là thế hệ sau phải lĩnh hội cả những kinh nghiệm xã hội mà các thế hệ đi trước đã tích luỹ và truyền lại, đồng thời phải làm phong phú thêm những kinh nghiệm đó”. Thực hiện quy luật này là chức năng của giáo dục nói chung và quản lý giáo dục nói riêng.
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc và nhân loại được kế thừa bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên” [42] Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, giáo dục cũng được quản lý trên bình diện thực tiễn ngay từ khi hoạt động giáo dục có tổ chức hình thành. Song cần lưu ý đến sự khác biệt giữa việc quản lý một cơ sở giáo dục với việc quản lý những tổ chức khác. Chính những khác biệt đó đã hình thành nên “khoa học quản lý giáo dục”. Quản lý giáo dục có những sự khác biệt rất lớn và khó khăn hơn rất nhiều so với các quản lý kinh tế - xã hội khác.
Sự khác biệt đó thể hiện ở các nội dung: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Các mục đích cụ thể, tường minh, lượng hoá của các thiết chế giáo dục rất khó xác định rõ ràng so với việc xác định mục đích của các cơ sở sản xuất kinh doanh. - Trong giáo dục, rất khó đo lường, đánh giá việc đạt đến các mục đích. Làm thế nào để đo lường được sự thích hợp hay sự đầy đủ của việc xã hội hoá nhân cách trẻ em, thanh thiếu niên sau khi chúng đã trải qua một chu trình giáo dục - đào tạo nhất định, hoặc đánh giá như thế nào về sự “phát triển nhân cách” của các em. - Đối tượng của giáo dục là trẻ em, thanh thiếu niên, có thể coi đó là “khách hàng”, “đầu ra” của các cơ sở giáo dục.
Nó khác rất xa với những “nguyên liệu thô” trong các ngành sản xuất, kinh doanh khác. Nhân tố con người trong quá trình giáo dục đào tạo này đã làm tăng thêm khó khăn trong việc đo lường, đánh giá. - Người quản lý và người giáo viên trong cơ sở giáo dục đều có chung một căn bản chuyên nghiệp, với những giá trị được chia xẻ, được đào tạo và có những kinh nghiệm không khác nhau bao xa. - Mối quan hệ “khách hàng” giữa giáo viên với học sinh, giảng viên với sinh viên có nhiều khác biệt so với quan hệ nhà chuyên môn với khách hàng ở lĩnh vực hoạt động khác.
- Cấu trúc của các cơ sở giáo dục thường bị “chia cắt, phân đoạn” vì những nhân tố bên trong cũng như tác động bên ngoài. Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội, đã xuất hiện từ lâu và tồn tại dưới mọi chế độ xã hội. Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm quản lý giáo dục, trong đó khái niệm được sử dụng phổ biến là của M.