phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của Luận văn Chƣơng 2. Thực trạng công nghệ sản xuất chƣơng trình truyền hình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh Chƣơng 3. Giải pháp quản lý công nghệ sản xuất chƣơng trình truyền hình tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN 1. Lý luận về đổi mới quản lý 1. Khái niệm quản lý Quản lý về cơ bản và trƣớc hết là tác động đến con ngƣời để họ thực hiện, hoàn thành những công việc đƣợc giao, để họ làm những điều bổ ích, có lợi. Điều đó đòi hỏi ta phải hiểu rõ và sâu sắc về con ngƣời nhƣ : cấu tạo thể chất, những nhu cầu, các yếu tố năng lực, các quy luật tham gia hoạt động.
Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hƣớng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dƣới, của những ngƣời dƣới quyền. Biểu hiện cụ thể qua việc, lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát. Hƣớng đƣợc sự chú ý của con ngƣời vào một hoạt động nào đó; điều tiết đƣợc nguồn nhân lực, phối hợp đƣợc các hoạt động bộ phận. Có nhiều học giả thuộc các trƣờng phái khác nhau đã đƣa ra những khái niệm về quản lý theo các cách tiếp cận khác nhau: Các Mác cho rằng quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp.
"Quản lý một cách khoa học là một cuộc cách mạng tư tưởng hoàn toàn của công nhân., về trách nhiệm của công nhân đối với công việc của họ., về cách đối xử của họ đối với những người đồng sự và đối với chủ. Nếu không có những cuộc cách mạng như vậy. thì không thể có việc quản lý một cách khoa học", F. "Quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra", H.Weber - Đức (1864-1920), đã đƣa ra một thể chế quản lý hành chính, tức là "thể chế quan liêu", có nghĩa rằng tổ chức này tiến hành công việc quản lý thông qua chức vụ hoặc chức vị.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com "Quản lý là tổ chức sự hợp tác tự phát, tức là vận dụng tri thức khoa học xã hội để đảm bảo sự tận tụy của cá nhân đối với mục tiêu và hoạt động sản xuất của tổ chức", G. Khái niệm quản lý theo trƣờng phái hiện đại: Quản lý là một tập hợp những hệ thống con trong một tổ chức hiệp tác, nhằm đạt đƣợc sự nhất trí cao nhất giữa tổ chức với môi trƣờng làm việc và giữa các hệ thống con của một tổ chức. Quá trình quản lý chỉ diễn ra khi có hai yếu tố là chủ thể quản lý và đối tƣợng quản lý. Chủ thể quản lý là ngƣời quản lý, đối tƣợng quản lý bao gồm các nguồn lực, nội dung quản lý, mục tiêu, kế hoạch và điều kiện, phƣơng tiện quản lý.
Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tƣợng quản lý luôn cụ thể và xác định. Để có thể đạt đƣợc mục tiêu thì tổ chức phải luôn đảm bảo đƣợc sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của cả hai bên. Tuy nhiên, quản lý chỉ xuất hiện khi có quyền lực của nhà lãnh đạo. Với những nhà lãnh đạo khác nhau thì sẽ có những cách thức quản lý khác nhau và ảnh hƣởng quyền lực lên đối tƣợng quản lý cũng khác nhau, tuỳ thuộc vào sự phân cấp quản lý cho đối tƣợng quản lý.
+ Chủ thể quản lý: cá nhân hoặc một tập thể ngƣời làm công tác quản lý. + Đối tƣợng bị quản lý: là những ngƣời liên quan trực tiếp dƣới quyền hoặc là những vật chịu tác động trực tiếp từ con ngƣời (nhằm đạt đƣợc những mục tiêu đặt ra trong một môi trƣờng xác định). + Input (đầu vào của hệ thống): bao gồm các nguồn lực nhƣ con ngƣời, trang thiết bị, tài chính, thông tin. + Output (đầu ra của hệ thống): là sản phẩm theo kế hoạch, mục tiêu dự kiến đạt đƣợc.
+ Van điều chỉnh: có nhiệm vụ điều chính các nguồn lực đầu vào theo cách thức quản lý của chủ thể quản lý. + Lệnh điều khiển: chủ thể quản lý có nhiệm vụ đƣa ra lệnh điều khiển khi có các thông tin từ các yếu tố khác nhau. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Sensor (có thể coi giống nhƣ trạm quan trắc): có nhiệm vụ thu thập các thông tin đầu ra của hệ thống. + Phản hồi: có nhiệm vụ phản ánh những thông tin từ sensor chuyển về cho chủ thể quản lý.
+ Môi trƣờng: các yếu tố thuộc các hệ thống nằm ngoài hệ thống đƣợc xem xét (hệ kinh tế, hệ xã hội, hệ tƣ tƣởng, hệ tâm lý .) và có quan hệ tƣơng tác với hệ thống đƣợc xem xét. Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động đông ngƣời đƣợc hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả cao bền lâu và không ngừng phát triển. Chẳng thế mà ngƣời Nhật khẳng định rằng : " Biết cái gì, biết làm gì là quan trọng nhƣng quan trọng hơn là biết quan hệ. " Ngƣời Mỹ cho rằng : " Chi phí cho thiết lập, khai thông các quan hệ thƣờng chiếm 25% đến 50% toàn bộ chi phí cho hoạt động.
Trong hoạt động kinh tế biết thiết lập, khai thông các quan hệ sản xuất cụ thể thì các yếu tố thuộc lực lƣợng sản xuất mới ra đời và phát triển nhanh chóng. Quản lý là tác động của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý một cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thu đƣợc nhƣng diễn biến, thay đổi tích cực. Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đƣa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung. Công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát.
Trong đó, các nguồn lực có thể đƣợc sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên. Nhiệm vụ cơ bản của quản lý : - Hoạch định: xác định mục tiêu, quyết định những công việc cần làm trong tƣơng lai (ngày mai, tuần tới, tháng tới, năm sau, trong 5 năm sau.) và lên các kế hoạch hành động. - Tổ chức: sử dụng một cách tối ƣu các tài nguyên đƣợc yêu cầu để thực hiện kế hoạch. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Bố trí nhân lực: phân tích công việc, tuyển mộ và phân công từng cá nhân cho từng công việc thích hợp.
- Lãnh đạo/Động viên: Giúp các nhân viên khác làm việc hiệu quả hơn để đạt đƣợc các kế hoạch (khiến các cá nhân sẵn lòng làm việc cho tổ chức). - Kiểm soát: Giám sát, kiểm tra quá trình hoạt động theo kế hoạch (kế hoạch có thể sẽ đƣợc thay đổi phụ thuộc vào phản hồi của quá trình kiểm tra). Quản lý không chỉ là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, chỉ đạo thực hiện, kiểm soát công việc, mà còn bao gồm cả việc phát huy những nổ lực của con ngƣời nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra. Nhận định của tác giả Với những trƣờng phái và khái niệm khác nhau về quản lý, trong phạm vi của luận văn, tác giả sử dụng định nghĩa: - Quản lý là điều khiển các bên tham gia tiến hành việc xác định, lập kế hoạch, kiểm tra giám sát nguồn lực và hoạt động nhằm đạt đƣợc một cách có hiệu quả các mục tiêu đã đề ra.
- Cụ thể là: Quản lý là một chu trình nhằm giải quyết một nhiệm vụ, một mục tiêu cụ thể bằng những việc: dự báo, lập kế hoạch, xây dựng tổ chức, xác định biên chế, lãnh đạo, thực hiện kế hoạch và kiểm tra. Khái niệm đổi mới Đổi mới là sự giao kết giữa sáng chế và sự hiểu biết sâu sắc, dẫn tới việc tạo ra các giá trị kinh tế và xã hội (Sáng kiến đổi mới quốc gia, Hoa kỳ) Đổi mới là quá trình chuyển ý tƣởng thành sản phẩm mới (hoặc sản phẩm hoàn thiện) để đƣa ra thị trƣờng thành quy trình, đƣa vào họat động, hoặc hoàn thiện trong công nghiệp và thƣơng mại, hoặc đƣa ra cách tiếp cận và dịch vụ xã hội mới, Nelson (1993). Đổi mới là sự áp dụng những giải pháp mới có hiệu quả hơn trong tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh và trong mọi lĩnh vực hoạt động. Đó là sự áp dụng trong bất kỳ tổ chức nào những ý tƣởng mới đối với tổ chức đó, hoặc trong sản phẩm, quá trình, dịch vụ, hoặc trong hệ thống quản lý và tiếp 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thị mà tổ chức đó đang vận hành.
Nguồn gốc của đổi mới là công tác nghiên cứu, sáng tạo. Đổi mới là quá trình sáng tạo, thông qua đó tri thức tạo ra giá trị gia tăng. Nói cách khác, giá trị gia tăng đƣợc tạo ra thông qua quá trình biến đổi tri thức thành sản phẩm mới, quy trình mới. Quá trình đổi mới là quá trình sử dụng tri thức mới, biến tri thức thành giá trị.
Không biến tri thức thành công nghệ mới, sản phẩm mới, quá trình mới thì không có đổi mới, không có sự phát triển, OECD (1997). Đổi mới là sự sản xuất, thích nghi và sử dụng một cách thành công cái mới trong các môi trƣờng kinh tế và xã hội, Ủy ban Châu Âu (2003). Đổi mới là một quá trình biến đổi bao gồm các hoạt động khoa học, nghiên cứu ứng dụng, triển khai công nghệ, đào tạo nhân lực, đầu tƣ tài chính, tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm, Arthur J. Cách tiếp cận tân cổ điển đối về đổi mới không phải là cách tiếp cận duy nhất.
Một loạt các nhà kinh tế học khác nhƣ Nelson và Winter (1982), Lundvall (1992) đã chỉ trích cách tiếp cận của kinh tế học tân cổ điển. Thay vào đó các nhà nghiên cứu này đã phát triển và tiếp cận vấn đề đổi mới theo phƣơng pháp có tính định hƣớng hệ thống. Dựa trên cách tiếp cận mang tính tiến hoá của Schumpeter, các học giả gần đây cho rằng một phƣơng pháp tiếp cận mang tính hệ thống và động có thể giải thích vấn đề đổi mới một cách triệt để hơn. Các nhà kinh tế học này cho rằng đổi mới không phải là một quá trình tuyến tính trên thị trƣờng mà là một quá trình mang tính luỹ tích, tƣơng tác qua lại và có tính học hỏi, đồng thời cũng có cơ chế phản hồi.