chương 1 trình bày sự cần thiết phải đổi mới công tác TDĐG KHPT KTXH 5 năm cấp tỉnh Dựa vào vai trò quan trọng của KHPT KTXH 5 năm đổi với hoạt động điều hành của tỉnh Căn cứ vào các bất cập của công tác KHH hiện nay TDĐG dựa trên kết quả có vai trò quan trọng đối với KHH Vlll CHƯƠNG 2: TH ựC TRẠNG CỒNG TÁC THEO DÕI ĐÁNH GIÁ THEO KẾT QUẢ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TÉ XÃ HỘI 5 NĂM 2006 - 2010 CỦA TỈNH VĨNH PHÚC Trọng tâm của chương 2 là đánh giá về công tác TDĐG theo kết quả KHPT KTXH 5 năm 2006 - 2010 của tỉnh Vĩnh Phúc. về p h ư ơ n g th ứ c th eo d õ i đ á n h g iá Hiện nay, tỉnh Vĩnh Phúc tồn tại đồng thời 2 phương thức theo dõi và đánh giá là tự đánh giá và đánh giá có sự tham gia. về n ộ i h à m c ủ a c ô n g tá c T D Đ G K H P T K T X H 5 n ă m 2 0 0 6 - 2 0 1 0 tỉn h Vĩnh P h ú c 2. v ề nội dung theo dõi đánh giá KHPT KTXH 5 năm 2006 - 2010 tỉnh Vĩnh Phúc a.
Mục tiêu Qua rà soát hệ thống thứ bậc mục tiêu của bản kế hoạch 5 năm phát triển KTXH 2006 - 2010 nhận thấy: + Các mục tiêu ở cấp độ thấy hơn chưa liên quan chặt chẽ tới các mục tiêu ở cấp độ cao hơn + Không rõ là các hành động có tạo ra các kết quả trung gian/ Đầu ra hay không? + Đầu ra/ Kết quả trung gian không rõ có dẫn đến những thay đổi ở cấp Mục đích của Chương trình/Dự án hay không? + Không rõ liệu rằng những thay đổi ở cấp Mục tiêu cụ thể có dẫn đến những thay đổi ở cấp Mục tiêu chính hay không? + Không rõ liệu ràng những thay đổi ở các mục tiêu chính có dẫn đến những thay đổi ở cấp Mục tiêu tổng quát hay không? b. Các chỉ số theo dõi đánh giá Hiện nay, công tác lập và theo dõi đánh giá kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc vẫn thiếu một bộ chỉ số theo dõi đánh giá hoàn chỉnh để làm căn IX cứ xây dựng, thực hiện và giúp toàn thể mọi đối tượng trong tỉnh tham gia theo dõi đánh giá kết quả, tác động của kế hoạch và các chương trình, đề án, và các hoạt động khác của UBND đến sự phát triển toàn diện của tỉnh Vĩnh Phúc ở mọi ngành, mọi lĩnh vực, mọi cấp. Chỉ tiêu Thông thường chỉ tiêu được xác định dựa trên sự ước lệ tượng trưng của người soạn thảo kế hoạch. Các chỉ tiêu này được thảo luận lấy ý kiến của các cá nhân chủ yếu là cán bộ của ƯBND.
Ý kiến góp ý sửa đổi chỉ tiêu của các cá nhân chủ yếu xoay quanh khả năng có đạt được hay không, hạ thấp hoặc điều chỉnh tăng lên một chút dựa vào phán đoán, nhận định của cá nhân đó về viễn cảnh trong tương lai. Các chỉ tiêu qua nhiều vòng lấy ý kiến góp ý bổ sung như vậy được thống nhất trong bản dự thảo kế hoạch do Sở Kế hoạch Đầu tư soạn thảo. Cuối cùng, các chỉ tiêu được đưa ra biểu quyết tại kỳ họp cuối năm của năm cuối kỳ kế hoạch của HĐND cấp tỉnh. về hệ thống biểu mẫu theo dõi đánh giá dựa trên kết quả Hệ thống biểu mẫu thu thập thông tin và phân tích hiện nay không thể đáp ứng được các yêu cầu thông tin cho TDĐG dựa trên kết quả KHPT KTXH 5 năm của tỉnh và các hoạt động TDĐG các chương trình, dự án khác.
Mầu biểu như trên, chỉ đưa ra được những phân tích so sánh số liệu đơn thuần giữa thực hiện và kể hoạch, và so sánh giữa các năm, còn các yêu cầu đánh giá tác động thì khó có thể trả lời được. về nội dung các bản báo cáo thực hiện KHPT KTXH 5 năm Hình thức theo dõi đánh giá kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã hội hiện nay của tỉnh mang những đặc trưng của hình thức theo dõi đánh giá mức độ tuân thủ việc thực hiện các đầu vào hoạt động như dự kiến để tạo ra các đầu ra như kế hoạch đặt ra. Tỉnh Vĩnh Phúc chưa có hệ thống TDĐG dựa trên kết quả KHPT KTXH 5 năm. v ề quy trình thông tin theo dõi đánh giá Hệ thống cơ quan NN ở tỉnh Vĩnh Phúc gồm: 3 cấp là tỉnh, huyện, xã.
Tại tỉnh, có UBND với các Sở giúp việc là: Sở KH - ĐT, Sở GD. Tại cấp huyện, có UBND huyện và các phòng giúp việc là: phòng TCKH, phòng GD.Tại xã có UBND xã với chủ tịch và các phó chủ tịch và cán bộ nhân viên. Nhận xét về thông tin phục vụ công tác theo dõi đánh giá Có thể phân chia ra các cấp độ thông tin như sau: thông tin cấp tỉnh, thông tin cấp huyện, thông tin cấp xã. Có ít thông tin cấp xã, không tổ chức thu thập thông tin tại cấp xã; Thông tin cấp huyện có thu thập nhưng không đầy đủ, việc thu thập thông tin chưa triệt để: thông tin cấp tỉnh khá đầy đủ từ nguồn báo cáo thống kê, các cuộc điều tra, khảo sát, đánh giá được tiến hành riêng biệt.
Nhưng do yêu cầu về thông tin thu thập, nên chỉ đảm bảo về thông tin đầu vào và đầu ra, có ít các thông tin về kết quả và tác động. Hoạt động chia sẻ thông tin giữa các cấp còn yểu vì yếu kém, lỏng lẻo trong quản lý; thiếu thông tin; thứ ba không phận định rõ trách nhiệm thu thập thông tin, xử lý thông tin thu hồi; thứ tư lỏng lẻo trong quản lý nhất là trong hoạt động kiểm chứng lại thông tin báo cáo từ cấp dưới gửi lên cấp trên. Hoạt động chia sẻ phối họp thông tin giữa các ban, ngành, đoàn thể trong cùng cấp cũng chưa thật sự đầy đủ gây hạn chế cho công tác theo dõi đánh giá kế hoạch. v ề phương pháp theo dõi đánh giá KHPT KTXH 5 năm 2006 - 2010 tỉnh Vĩnh Phúc a.
Đối với dữ liệu đầu kỳ - Phương pháp sử dụng là sử dụng tối ưu các tài liệu sẵn có Phương pháp thu thập số liệu là từ các bản báo cáo hành chính hàng ngày. Ví dụ như đếm lại số hồ sơ ĐKKD từ các hồ sơ ĐKKD để cho biết kêt quả vê ĐKKD. Đem lại số vụ khiếu nại tố cáo được giải quyết để cho biết hoạt động của ngành Tòa án. Đếm lại số dự án đầu tư được hoàn thành và đi vào hoạt động để cho biết kết quả về hoạt động đầu tư.
XI - Phương pháp chủ yếu thứ hai là các báo cáo thống kê b. Các phương pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu - v ề tổng hợp thông tin, phân tích thông tin và trình bày thông tin báo cáo + Tổng hợp: khi tổng hợp ít có sự đối chiểu, kiểm chứng lại thông tin + Phương pháp phân tích thông tin: thiếu sự đa dạng do cán bộ ỷ lại hoặc năng lực còn yếu hay đơn giản chỉ là không quy định phương pháp phù hợp với từng loại nhiệm vụ. - Việc trình bày báo cáo: thông thường là liệt kê thành các gạch đầu dòng hoặc diễn xuôi số liệu thu được. Có so sánh với số liệu kế hoạch hoặc kỳ trước.
Tổng hợp Phương pháp tổng hợp báo cáo: Báo cáo KHPT KTXH 5 năm chung của toàn tỉnh tổng hợp từ báo cáo kế hoạch phát triển 5 năm của ngành, lĩnh vực. Báo cáo kế hoạch phát triển 5 năm của ngành, lĩnh vực được tổng hợp từ báo cáo kế hoạch phát triển hàng năm của ngành lĩnh vực đó, và tổng kết chung tình hình thực hiện các chương trình, dự án trong giai đoạn đó. Các phương pháp phân tích so sánh Thứ nhất, nội dung báo cáo theo các chỉ số/chỉ tiêu kế hoạch 5 năm phát triển KTXH. Báo cáo nêu ra con số thực tế đạt được và nêu ra con số kế hoạch của chỉ số rồi so sánh và đưa ra nhận xét rằng “vượt” hay “không đạt” theo kế hoạch và giải thích ngắn gọn vì sao.
Thứ hai, các đánh giá thiểu sự so sánh mang tính liên tục qua các năm (ví dụ: so sánh tốc độ tăng trưởng qua các năm, những tiến bộ rõ nét nhất hoặc những tồn tại mà nhiều năm chưa giải quyết được, cũng như nguyên nhân của chúng); thiếu đối chiếu giữa mục tiêu phát triển (không phải là các chỉ tiêu kế hoạch) và kết quả đat đươc. Đánh giá các điều kiện cho theo dõi đánh giá KHPT KTXH 5 năm 2006 -2010 của tỉnh Vĩnh Phúc a. Lãnh đạo Các cấp lãnh đạo chưa thực sự quan tâm đến công tác TDĐG chương trình, dự án, kế hoạch. Ý thức trách nhiệm của các cấp lãnh đạo còn chưa cao.
Bản KH PT KTXH 5 năm 2006 - 2010 chưa được xây dựng theo kiểu dựa trên kết quả Thể hiện ở các mục tiêu, chỉ số chỉ tiêu không gắn liền với nhau. Chưa có phần theo dõi đánh giá và tổ chức thực hiện cụ thể trong bản KHPT KTXH 5 năm hiện nay. Lập kế hoạch theo dõi đánh giá chưa trở thành một phần trong công tác lập kể hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm của tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay. Năng lực cán bộ Năng lực cán bộ còn yếu và thiếu về kỹ năng, trình độ lẫn ý thức trách nhiệm.
Nguồn lực tài chỉnh và hệ thống thông tin Cơ sở vật chất thiếu thốn và yếu kém, không đáp ứng được yêu cầu về theo dõi đánh giá. Những mặt được và hạn chế của công tác theo dõi đánh giá KHPT KTXH 5 năm 2006 -2010 của tỉnh Vĩnh Phúc a. Những mặt được của công tác theo dõi đánh giả kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm tỉnh Vĩnh Phúc Đảm bảo hoạt động theo dõi đánh giá theo đầu vào đầu ra, đáp ứng được yêu cầu quản lý của tỉnh Vĩnh Phúc ở mức độ nhất định. Những hạn chế của công tác theo dõi đánh giá kế hoạch phát triển KTXH 5 năm tỉnh Vĩnh Phúc Thứ nhất, công tác theo dõi đánh giá kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã hội hiện nay mới chỉ dừng lại ở theo dõi đánh giá đầu vào, đầu ra; chưa đi sâu vào theo dõi đánh giá kết quả và tác động.
Thứ hai, sự tham gia của người dân và các cấp các ngành vào công tác theo dõi đánh giá kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã hội còn hạn chế và mờ nhạt.