CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VÀ PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẤT 1. Sự cần thiết của việc Nhà nước quản lý đất đai 1. Vị trí và vai trò của đất đai với con người Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là thành quả đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Trải qua hàng ngàn năm, nhân dân ta đã phải tốn biết bao công sức, mồ hôi, xương máu mới cải tạo, bảo vệ và bồi bổ được vốn đất như ngày nay.
Không những vậy trong nền kinh tế hiện đại, người ta còn coi đất đai là hàng hoá đặc biệt. Tuy nhiên, đất đai có những đặc trưng không giống với các tư liệu sản xuất khác. Thứ nhất, về nguồn gốc, đất đai không do con người làm ra mà do tự nhiên tạo ra, có trước con người và bị giới hạn bởi diện tích, không gian, cố định về vị trí địa lý; trong khi đó nhu cầu sử dụng đất (SDĐ) của con người ngày càng tăng. Nên, đất đai ngày càng trở lên khan hiếm và có giá trị cao.
Thứ hai, cũng giống như bất kỳ tư liệu sản xuất khác, đất đai cũng có độ khấu hao. Độ khấu hao của đất được chuyển hoá thành giá thành sản phẩm qua mỗi chu kỳ sử dụng. Song khác với các tư liệu sản xuất khác, đất đai không bao giờ mất hết độ khấu hao nếu sau mỗi chu kỳ sử dụng, con người biết cách cải tạo, bồi bổ đất đai. Thứ ba, do có giá trị ngày càng cao, có tính bền vững và cố định về vị trí địa lý nên đất đai được sử dụng làm tài sản bảo đảm trong các quan hệ thế chấp, bảo lãnh vay vốn và được dùng làm vốn góp liên doanh, liên kết trong hoạt động kinh tế.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ tư, đất đai không chỉ liên quan trực tiếp đến lợi ích mọi thành viên trong xã hội mà còn liên quan đến lợi ích của Nhà nước, là một thành tố quan trọng hàng đầu của môi trường sống của con người, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng nên việc SDĐ phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc chung của xã hội do Nhà nước đặt ra; Khác với nhiều quốc gia trên thế giới, đất đai thuộc quyền sở hữu của các chủ sở hữu khác nhau: tư nhân, Nhà nước, tập thể. Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Quy định này xuất phát từ nhu cầu nội tại của việc đoàn kết sức mạnh toàn dân tộc trong công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm giành và giữ nền độc lập. Hơn nữa, việc xác định và tuyên bố đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý còn mang ý nghĩa khẳng định chủ quyền, tính độc lập và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Mặt khác, hiện nay nước ta còn khoảng gần một nửa diện tích đất chưa sử dụng (khoảng 10.265 ha), chủ yếu là đất trống, đồi núi trọc. Việc xác lập đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý cũng là cơ sở để Nhà nước xây dựng các chương trình, kế hoạch cụ thể nhằm từng bước đưa diện tích đất này vào sử dụng góp phần phát huy tiềm năng, thế mạnh của đất đai với vai trò là nguồn lực, nguồn vốn to lớn để phát triển đất nước; Với vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng như vậy, đất đai luôn đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ, thống nhất và đồng bộ nhằm bảo đảm SDĐ đúng mục đích, tiết kiệm và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc Nhà nước quản lý đất đai Luật đất đai 2003 đã quy định rõ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai được thực hiện bằng việc Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua các chính sách tài chính về đất đai; trao quyền sử dụng đất (QSDĐ) cho người SDĐ thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ đối với người SDĐ ổn định; quy định quyền và nghĩa vụ của người SDĐ … Việc Nhà nước quản lý toàn bộ vốn đất đai dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn chủ yếu sau đây: Thứ nhất, xét về bản chất chính trị, Nhà nước ta (Nhà nước CHXHCN Việt Nam) là Nhà nước do nhân dân lao động thiết lập nên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền và lợi ích của nhân dân.
Về cơ bản, lợi ích của Nhà nước là đồng nhất với lợi ích của nhân dân. Mặt khác ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân, để quản lý toàn bộ vốn đất đai thuộc quyền sở hữu của mình, nhân dân với tư cách một cộng đồng xã hội không thể tự mình đứng ra thực hiện các nội dung cụ thể của hoạt động quản lý đất đai mà phải cử người thay mặt mình đứng ra làm nhiệm vụ này. Người đó chính là Nhà nước CHXHCN Việt Nam ; Thứ hai, xét về nguồn gốc ra đời và chức năng của Nhà nước. Nhà nước là một tổ chức chính trị do xã hội thiết lập nên với một trong những chức năng cơ bản là thay mặt xã hội quản lý, điều phối nhịp nhàng, đồng bộ mọi hoạt động của con người theo một quỹ đạo chung đảm bảo sự vận động và phát triển của xã hội không rơi vào tình trạng rối loạn, vô tổ chức.
Đất đai có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với toàn xã hội và cả với từng thành viên sống trong xã hội. Vì thế nên nó không thể không chịu sự quản lý của Nhà nước nhằm dung hoà lợi ích giữa các thành viên trong xã hội và dung hoà lợi ích giữa cá nhân với lợi ích của cộng đồng trong quá trình SDĐ vì sự phát triển bền vững ; Thứ ba, Nhà nước là một tổ chức trong hệ thống chính trị song khác với các tổ chức chính trị khác; Nhà nước là một tổ chức chính trị - quyền lực được nhân dân trao cho quyền lực công quản lý xã hội. Để thực hiện chức năng của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mình, Nhà nước có quyền thu thuế; có quyền ban hành pháp luật; có quyền thành lập bộ máy nhà nước. để bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh trên thực tế.
Do đó, trong các phương thức quản lý của con người thì phương thức quản lý nhà nước là phương thức có hiệu quả nhất được sử dụng để quản lý đất đai - tài sản quý giá nhất của xã hội ; Thứ tư, như phần trên đã đề cập nước ta còn khoảng gần một nửa diện tích đất tự nhiên chưa sử dụng (chủ yếu là đất trống, đồi núi trọc .) chủ yếu tập trung ở khu vực miền núi phía Bắc ; phía Tây các tỉnh khu IV (cũ), các tỉnh miền Trung ; các tỉnh Tây Nguyên. Đây cũng là những vùng chậm phát triển so với các địa phương khác trong cả nước. Vì vậy muốn đưa diện tích đất này vào sử dụng cho các mục đích khác nhau của xã hội nói riêng và thúc đẩy sự phát triển các khu vực này nói chung nhằm thu hẹp khoảng cách so với những địa phương khác đòi hỏi phải đầu tư nguồn vốn ban đầu rất lớn mà ngoài Nhà nước ra không có bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào có đủ khả năng và điều kiện để thực hiện được việc này ; Thứ năm, ở nước ta đất đai là thành quả cách mạng ; trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta phải tốn rất nhiều mồ hôi, công sức mới khai phá và cải tạo được vốn đất đai như ngày nay. Mặt khác, Việt Nam vẫn còn là nước chậm phát triển « đất chật, người đông » ; diện tích đất canh tác bình quân một đầu người vào loại thấp trên thế giới (chưa bằng 1/6 mức trung bình của thế giới), trong khi đó tốc độ phát triển dân số ở mức cao.
Vì vậy để quản lý chặt chẽ, khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả đất nông nghiệp vì lợi ích của các thế hệ người Việt Nam hiện tại và tương lai thì không thể thiếu được sự quản lý của Nhà nước đối với đất đai nói chung và đối với đất nông nghiệp nói riêng ; Thứ sáu, đối với một nước nông nghiệp có khoảng 80% dân số làm nông nghiệp như nước ta. Để xây dựng và củng cố quyền lực của nhà nước Trung ương tập quyền thì Nhà nước phải nắm và quản lý được toàn bộ đất đai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đây là cơ sở kinh tế đảm bảo sự thống nhất, tập trung quyền lực vào tay chính quyền trung ương. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai Theo Từ điển Luật học: “Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định và phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi; Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất.
Theo nghĩa hẹp là hướng dẫn chấp pháp, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước »1 ; Trên cơ sở khái niệm về quản lý nhà nước nói chung được đề cập trên đây, Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học đã đưa ra khái niệm về quản lý đất đai và quản lý nhà nước đối với đất đai cụ thể như sau: - "Quản lý đất đai là hoạt động bao gồm việc thiết lập các cơ chế, các chính sách và các công cụ quản lý, các biện pháp quản lý và việc vận hành cơ chế đó nhằm quản lý và sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu quả kinh tế cao"2; - " Quản lý nhà nước đối với đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về đất đai"3; 1 Bộ Tư pháp: Viện Khoa học Pháp lý - Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa & Nxb Tư pháp, Hà nội - 2006, tr. 2 Trường Đại học Luật Hà Nội: Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (Phần Luật đất đai, Luật lao động, Tư pháp quốc tế), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội -1999, tr.