PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết đề tài nghiên cứu Trong xu thế phát triển và hội nhập của đất nƣớc ngày càng mạnh mẽ, yêu cầu về đổi mới đặt ra cho các cơ quan nhà nƣớc phải có những thay đổi nhằm thích ứng đƣợc nhiệm vụ trong từng giai đoạn cụ thể. Kiểm toán nhà nƣớc cũng không ngoại lệ trong quy luật đổi mới tất yếu này. Vì vậy, ngày 20 tháng 04 năm 2005, Luật kiểm toán nhà nƣớc đƣợc thông qua tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá IX (có hiệu lực thi hành từ 01/01/2006) đã đánh dấu một bƣớc ngoặt quan trọng trong việc xác lập địa vị pháp lý và định hƣớng phát triển, thúc đẩy hoạt động kiểm toán Nhà nƣớc từng bƣớc hội nhập với khu vực và quốc tế.
Để tạo điều kiện cho kiểm toán nhà nƣớc thực hiện tốt chức năng là cơ quan chuyên môn của Quốc hội, với chức năng kiểm tra tài chính công của quốc gia. Việc đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nƣớc đối với doanh nghiệp nhà nƣớc trong giai đoạn hiện nay rất cần thiết. Hiện nay nhu cầu sử dụng thông tin nhằm nâng cao năng lực quản lý nhà nƣớc về kinh tế của các cơ quan quản lý Nhà nƣớc đối với DNNN; phục vụ quản lý điều hành nội bộ các đơn vị, thông tin cung cấp cho thị trƣờng vốn, thông tin làm cơ sở giao dịch kinh tế giữa các đối tác.không đơn thuần chỉ sử dụng những số liệu trung thực trên báo cáo tài chính mà cần sử dụng thông tin kinh tế đa chiều bao gồm cả thực trạng, kết quả và những nguyên nhân, yếu tố ảnh hƣởng đến thực trạng, kết quả đó để giúp những nhà quản lý đƣa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời về lĩnh vực hoạt động của mình. Để đáp ứng đƣợc yêu cầu đó, đổi mới cơ chế kiểm toán là một trong những nhiệm vụ 2 trọng tâm để thích ứng với vai trò, vị trí pháp lý và yêu cầu quản lý mới.
Việc đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nƣớc đối với doanh nghiệp nhà nƣớc còn nhằm phù hợp với thông lệ và xu hƣớng phát triển của kiểm toán nhà nƣớc các nƣớc trên thế giới, thuận lợi cho quá trình hợp tác, hội nhập của kiểm toán nhà nƣớc Việt nam với bè bạn quốc tế. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên để nhanh chóng triển khai áp dụng hoạt động kiểm toán nhà nƣớc đối với doanh nghiệp nhà nƣớc theo quy định của Luật kiểm toán nhà nƣớc tác giả chọn đề tài: “ Đổi mới cơ chế kiểm toán đối với các doanh nghiệp nhà nƣớc trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam”. Để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ kinh tế 2. Tình hình nghiên cứu đề tài - Là một ngành đƣợc tổ chức và hoạt động còn rất trẻ với kể so với các cơ quan ban ngành khác.
Nhƣng kiểm toán nhà nƣớc đã không ngừng đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng các thành tựu khoa học vào thực tế kiểm toán ở nƣớc ta. Nhiều công trình nghiên cứu về kiểm toán nhà nƣớc đã góp phần trƣởng thành về tổ chức và chuyên môn nghiệp vụ cuả kiểm toán nhà nƣớc. Trong đó có một số đề tài và chuyên đề có liên quan nhƣ: Mô hình tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nƣớc; Qui chế hoạt động của Đoàn kiểm toán; Qui trình kiểm toán doanh nghiệp nhà nƣớc. Các đề tài đã nghiên cứu chủ yếu mới chỉ tập trung vào những hoạt động chung của kiểm toán nhà nƣớc, hoặc các qui trình, chuẩn mực để tổ chức thực hiện trong quá trình hoạt động kiểm toán.
Đến nay chƣa có đề tài nào nghiên cứu về cơ chế kiểm toán nhà nƣớc đối với doanh nghiệp nhà nƣớc ở Việt Nam. 3 - Những vấn đề tác giả tập trung nghiên cứu: Đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp nhà nƣớc trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam. Mục đích nghiên cứu đề tài - Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích những vấn đề cơ bản về cơ chế Kiểm toán Nhà nƣớc nói chung để đƣa ra các phƣơng hƣớng và giải pháp đổi mới cụ thể về cơ chế kiểm toán nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp nhà nƣớc trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng đề tài nghiên cứu là: Đổi cơ chế kiểm toán nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp nhà nƣớc trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Do có nhiều các tổ chức kiểm toán khác nhau, nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi kiểm toán nhà nƣớc và cơ chế KTNN đối với DNNN. Thời gian nghiên cứu từ khi thành lập cơ quan kiểm toán nhà nƣớc theo Nghị định 70CP ngày 11 tháng 7 năm 1994 cho đến nay, phƣơng hƣớng và giải pháp về cơ chế kiểm toán nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp nhà nƣớc trong thời gian tới. Phƣơng pháp nghiên cứu Sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị học, sử dụng phuơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với phƣơng pháp thống kê, phân tích so sánh, logic và lịch sử, chuyên gia và tổng kết thực tế để nghiên cứu và giải quyết vấn đề đặt ra. Những đóng góp của luận văn - Làm rõ thêm những vấn đề cần đổi mới cơ chế của kiểm toán nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp nhà nƣớc trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở Việt nam.
4 - Phân tích thực trạng của cơ chế kiểm toán nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp nhà nƣớc. - Đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp cơ bản nhằm đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp nhà nƣớc trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam. Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đổi mới cơ chế kiểm toán nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp nhà nƣớc trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam. Chƣơng 2: Thực trạng cơ chế kiểm toán nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp nhà nƣớc trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam.
Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm tiếp tục đổi cơ chế kiểm toán nhà nƣớc đối với doanh nghiệp nhà nƣớc trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam. 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1.1 KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC VÀ CƠ CHẾ KIỂM TOÁN NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC TRONG KINH TẾ THỊ TRƢỜNG 1. Quan niệm về kiểm toán nhà nƣớc và vai trò, chức năng nhiệm vụ quyền hạn của kiểm toán nhà nƣớc 1.1 Quan niệm về kiểm toán nhà nƣớc Kiểm toán có nguồn gốc từ tiếng La tinh, theo nghĩa của từ “Audit” Kiểm toán ra đời từ thời La Mã, thế kỷ thứ III trƣớc Công nguyên. Tuy nhiên, hoạt động của kiểm toán chỉ phát triển mạnh mẽ và mang tính phổ biến trong khoảng vài trăm năm trở lại đây.
Kiểm toán hiện diện nhƣ một công cụ không thể thẩm định đối với bất kỳ một ngành kinh tế nào, một hình thái xã hội nào mà không hề bị chi phối bởi kiến trúc thƣợng tầng. Tuy nhiên, hoạt động kiểm toán chỉ thật sự có ý nghĩa quan trọng đối với các quá trình lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia kể từ sau các cuộc cách mạng về kinh tế và hiện đại hoá vào những năm của đầu thế kỷ XX. Mặc dù khái niệm kiểm toán đã xuất hiện khá lâu nhƣng cho đến nay ngƣời ta vẫn chƣa hoàn toàn nhất trí với nhau về khái niệm này. Vƣơng quốc Anh đã đƣa ra khái niệm: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất kỳ nghĩa vụ pháp định có liên quan.
Với khái niệm này, các nhà khoa học ở Anh quan niệm kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến về bản khai tài chính 6 của kiểm toán viên theo nghĩa vụ pháp định. Hoa Kỳ lại quan niệm: “Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập, có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về một thông tin có thể lượng hoá có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hoá với những tiêu chuẩn đã được thiết lập". Trong khi đó, Cộng hoà Pháp lại quan niệm rằng: “Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là một kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng tình hình tài chính thực tế, không che dấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định". Do ra đời muộn hơn so với các nƣớc trên thế giới nên ở Việt Nam, kiểm toán nói chung và khái niệm kiểm toán nói riêng đã phần nào kế thừa đƣợc sự phát triển của kiểm toán thế giới.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về kiểm toán ở Việt Nam vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm kiểm toán. Giáo trình Lý thuyết Kiểm toán của Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân quan niệm: “Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực. Khái niệm này đã cho rằng kiểm toán không chỉ là bảng khai tài chính mà là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động”; đồng thời cũng đề cập đến việc sử dụng phƣơng pháp kiểm toán khi kiểm toán viên thực thi nghiệp vụ kiểm toán. Học viện Tài chính và Trƣờng Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh có cùng quan điểm: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền, có kỹ năng nghiệp vụ, thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông 7 tin có thể định lượng của một đơn vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được xây dựng.