phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng: - Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở l luận về chính sách học phí và hỗ trợ ngƣời học tại các trƣờng đại học công lập - Chƣơng 2. Thiết kế và phƣơng pháp nghiên cứu. Thực trạng đổi mới chính sách học phí và hỗ trợ ngƣời học tại một số trƣờng đại học công lập - Chƣơng 4.
Định hƣớng và giải pháp g p phần hoàn thiện chính sách học phí và hỗ trợ ngƣời học tại các trƣờng đại học công lập 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HỌC PHÍ VÀ HỖ TRỢ NGƢỜI HỌC TẠI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về chính sách học phí và hỗ trợ ngƣời học 1. Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới Học phí đại học là khoản chi trả của gia đình sinh viên đ nhận đƣợc nh ng lợi ích của giáo dục đại học nhƣ cơ hội việc làm tốt hơn trong tƣơng lai và mức thu nhập suốt đời cao hơn (Đại học Kobe và UNESCO Bangkok, 2014). Học phí đại học là giá mà sinh viên và phụ huynh trả cho dịch vụ giáo dục đại học vì nh ng lợi ích cá nhân (Huang và Wu, 2008).
Học phí là một phần chi phí giảng dạy cho mỗi sinh viên mà sinh viên hoặc gia đình c trách nhiệm phải trả. Học phí khác với các chi phí khác đ cung cấp dịch vụ ngoài giảng dạy nhƣ giao thông trong khuôn viên trƣờng đại học, chăm s c sức kh e sinh viên, cũng nhờ các chƣơng trình giải trí và th thao. C nhiều quan đi m trái chiều về việc c nên đƣa ra học phí đại học hay mi n giảm học phí. Sự cần thiết của học phí dựa trên các quan đi m bao gồm: - Lợi ích của từng sinh viên từ việc học đại học s c cơ hội thu nhập cao hơn và địa vị xã hội là đáng k (và c th mở rộng lợi ích này đến phụ huynh học sinh).
- Chi phí các dịch vụ công tăng dẫn tới chi phí cho giảng dạy cho mỗi sinh viên cũng tăng theo tỷ lệ thuận, vì vậy cần không thu học phí mà vẫn đảm bảo chất lƣợng giáo dục là không d dàng. - Sinh viên và phụ huynh trả tiền học phí s yêu cầu giải trình các khoản 7 chi và đây là l do đ các trƣờng đại học định hƣớng đƣợc nhu cầu và cơ chế hoạt động đ đạt hiệu quả và chất lƣợng cao trong giáo dục. Quan đi m mi n giảm học phí đại học dựa trên một số kiến chủ đạo nhƣ: - Quyền đƣợc học tập là một trong nh ng quyền thiết yêu của con ngƣời. - Xã hội s nhận đƣợc nh ng lợi ích chung rất lớn khi ngƣời dân c trình độ học vấn cao.
- Thu học phí c th hạn chế sự tham gia của các con em gia đình khu vực dân tộc thi u số, nông thôn, các gia đình c thu nhập thấp. Do đ , gây nên tình trạng mất công bằng trong xã hội. Hiện nay, dựa trên quan đi m của mỗi quốc gia về trách nhiệm tài chính của cha mẹ đối với giáo dục đại học của con em c th phân chia thành 3 loại chủ yếu của chính sách học phí: - Không thu học phí Tại một số quốc gia nhƣ: Argentina, Saudi Arabia, Iran.nhà nƣớc s chi trả toàn bộ chi phí giảng dạy cho sinh viên từ nguồn thu của Thuế. Với các sinh viên phải chịu thêm chi phí sinh hoạt nhƣ thuê nhà.Chính phủ s c các khoản trợ cấp thông qua các khoản cho vay.
- Mức học phí chung: trả trƣớc hoặc trả sau Đối với chính sách học phí trả trƣớc, phụ huynh học sinh c nghĩa vụ và trách nhiệm thanh toán một phần chi phí giáo dục của con em họ. Số tiền chi trả là khác nhau dựa trên mức học phí và thu nhập của mỗi gia đình đ luôn đảm bảo rằng họ c đủ điều kiện chi trả. - Học phí kép Đây là chính sách đƣợc vận dụng linh hoạt: ví dụ nhƣ mức học phí khác nhau gi a sinh viên trong nƣớc và quốc tế, mi n giảm học phí đối với nh ng sinh viên c nhiều thành tích trong học tập.Hiện nay, tại một số quốc gia nhƣ 8 Anh, Canada.nguồn thu học phí của sinh viên nƣớc ngoài đã trở thành một phần kinh phí hoạt động. Mức học phí xác định dựa trên chi phí giáo dục, chi phí giáo dục lại khác nhau gi các chƣơng trình, các ngành, các trƣờng.
Ngoài ra, chi phí giáo dục đƣợc xác định dựa trên lợi ích cá nhân thu đƣợc sau đào tạo. Do đ , học phí không ch phản ánh chi phí giảng dạy mà c n phản ánh giá trị thị trƣờng của việc lựa chọn ngành và chƣơng trình học mang lại. Nhƣ vậy, xác định mức học phí hợp l là một trong nh ng vấn đề đƣợc quan tâm nhất hiện nay. Theo nghiên cứu của John (1990) cho thấy nếu học phí tăng thêm 100 USD cho toàn kh a học, số lƣợng sinh viên tham gia cơ sở giáo dục s giảm 0,5 - 1%.
Dựa trên nghiên cứu của mình, Rouse (1994) rút ra kết luận cho thấy nếu học phí tăng 10 - 15% thì số lƣợng sinh viên giảm 0,1% trên mỗi phần trăm thay đổi học phí. Theo Beger và các cộng sự (2009) phát hiện thấy ở Canada tỷ lệ sinh viên từ các gia đình thu nhập trung bình và thấp c xu hƣớng giảm, trong khi số lƣợng sinh viên từ nh ng gia đình c điều kiện tăng gấp đôi khi học phí tăng. Nguyên nhân là do học phí cao thƣờng đƣợc g n với suy nghĩ về danh tiếng của trƣờng, nhất là nh ng trƣờng đại học đƣợc xếp vào loại đại học tinh hoa. Theo Wang và Ma (2009), tỷ lệ học phí đại học cần tính đến chi phí giáo dục và mức thu nhập của hộ gia đình trung bình đ duy trì đựợc chất lựợng giảng dạy của trừờng và không tạo một gánh nặng quá lớn cho các gia đình này.
Các nhân tố ảnh hƣởng đến quyết định học phí là chi phí đào tạo trung bình một sinh viên, thu nhập hộ gia đình bình quân hằng năm, loại đại học, ví trí địa l và vị thế của trƣờng đại học, chi tiêu ngân sách Nhà nƣớc, thu nhập kỳ vọng của sinh viên. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009-2014 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2009) đã đánh giá cơ chế tài chính giáo dục c n nhiều bất hợp l , chƣa g p phần cho giáo dục và đào tạo tự phát tri n nhanh với chất lƣợng ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu phát tri n của đất nƣớc. Theo Quyết định số 70 1998 QĐ-TTg, mức học phí của các trƣờng đại học từ 50-180.000 VNĐ tháng sinh viên; mức học phí thấp, không thay đổi từ 1998 đến 2009, trong khi đã điều ch nh lƣơng 4 lần nên tỷ trọng chi tiền lƣơng cho giáo viên tăng lên tƣơng ứng, các cơ sở giáo dục thiếu kinh phí cho các hoạt động giảng dạy học tập và quản l nhà trƣờng. Do mức học phí thấp, không ít cơ sở giáo dục đã đặt ra các khoản thu ngoài quy định.
Nhiều trƣờng đại học cũng tự quy định thêm các khoản thu khác ngoài học phí đ bù đ p chi phí đào tạo, hiện tƣợng lạm thu và cơ chế s dụng không minh bạch đã gây nên bức xúc trong dƣ luận. Yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng 6 (kh a X) về hoàn thiện th chế kinh tế thị trƣờng: học phí thực hiện theo nguyên t c chia sẻ chi phí gi a nhà trƣờng và ngƣời học, học phí phải đảm bảo bù đ p các khoản chi phí tiền lƣơng, từng bƣớc đảm bảo chi thƣờng xuyên tối thi u các nh m ngành đào tạo, mức học phí và các chi phí cần thiết khác cho việc học tập không đƣợc vƣợt quá 6% thu nhập bình quân của hộ gia đình. Đối với chƣơng trình chất lƣợng cao, phần chi phí tăng thêm ngoài phần chi của Nhà nƣớc đ c chất lƣợng cao hơn s do ngƣời học chi trả. Các cơ sở giáo dục ngoài công lập đƣợc quyền chủ động xây dựng mức học phí, đồng thời phải công khai về chi phí, nguồn lực (cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản l ) và chất lƣợng giáo dục đ cho ngƣời học và gia đình, các cơ quan và xã hội tham gia giám sát, đánh giá.
Nguyên t c chia sẻ học phí gi a nhà trƣờng và ngƣời học: ở các trƣờng công lập Nhà nƣớc đảm bảo duy trì cấp phát một tỷ lệ chi thƣờng xuyên cho các trƣờng và chi phí đầu tƣ bổ sung định 10 kỳ theo khả năng cân đối ngân sách. Phần c n lại của chi tiêu thƣờng xuyên do ngƣời học chi trả. Học phí tiến dần đến chi phí thƣờng xuyên tối thi u, phần c n lại do ngân sách cấp phát với tỷ lệ ngày một giảm. Mức học phí đào tạo tăng hàng năm nhằm đảm bảo chi trả lƣơng tăng lên theo kế hoạch của Chính phủ đ tiền lƣơng thực sự là một phần thu nhập đủ điều kiện sống chủ yếu của công chức và viên chức trong cơ sở công lập; tăng cƣờng từng bƣớc cơ sở vật chất giáo dục đ từng bƣớc nâng cao chất lƣợng đào tạo, không tạo ra sự tăng đột ngột, mức độ lớn của học phí gây kh khăn cho ngƣời học.
Một hình thức tính học phí hiện nay là học phí đào tạo theo tín ch : đối với cơ sở giáo dục đào tạo theo chƣơng trình tín ch (theo Quyết định số 43 2007 QĐ-BGDĐT ngày 15 8 2007 của Bộ giáo dục và đào tạo), mức học phí tín ch đƣợc xác định theo căn cứ tổng số học phí của toàn kh a học theo nh m ngành đào tạo. Vấn đề chính sách học phí vẫn c n khá mới mẻ ở Việt Nam bi u hiện thông qua số công trình nghiên cứu về vấn đề này c n rất hạn. Một số nghiên cứu về học phí học đại học công lập tại Việt Nam mới ch xoay quanh các nội dung đánh giá mức học phí c n chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu, mức học phí c n quá thấp. Theo Phạm Vũ Th ng và cộng sự (2012), Mức độ huy động nguồn lực từ học phí cho giáo dục đại học theo các ngành học đƣợc th hiện trong bảng sau: 11 Bảng 1.