Luận Văn: Đội Công Tác Cấp Xã ở Núi Thành, Quảng Nam (1961-1975)

Đội công tác cấp xã ở huyện Núi Thành, Quảng Nam trong kháng chiến chống Mỹ (1961-1975). Tìm hiểu vai trò, hoạt động của lực lượng này trong giai đoạn lịch sử.

Chuyên ngành

Lịch sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

110
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

4.2. Phạm vi nghiên cứu

5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp nghiên cứu

6. Đóng góp của luận văn

7. Cấu trúc của luận văn

1. Chương 1: SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC ĐỘI CÔNG TÁC CẤP XÃ Ở HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1961-1975)

1.1. Tình hình huyện Núi Thành sau Hiệp định Giơnevơ

1.2. Âm mưu, thủ đoạn của địch và phong trào đấu tranh của nhân dân

1.3. Lực lượng cách mạng các xã ở huyện Núi Thành trước khi các đội công tác xã ra đời

1.4. Sự ra đời của các đội công tác xã ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

1.4.1. Cơ sở của việc thành lập các đội công tác cấp xã ở huyện Núi Thành

1.4.2. Số lượng, cơ cấu tổ chức, địa bàn hoạt động và chức năng, nhiệm vụ của đội công tác cấp xã

2. Chương 2: QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI CÔNG TÁC CẤP XÃ Ở HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM (1961-1975)

2.1. Hoạt động của các đội công tác cấp xã ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 1961-1968

2.1.1. Âm mưu, thủ đoạn của địch và những yêu cầu đặt ra đối với các đội công tác cấp xã huyện Núi Thành (1961-1968)

2.1.2. Xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng, tổ chức diệt ác, phá kìm, tiến lên làm chủ địa bàn (1961-1965)

2.1.3. Đẩy mạnh thế trận chiến tranh nhân dân, trực tiếp chiến đấu với quân Mỹ, đẩy mạnh chiến tranh du kích, thực hiện Tết Mậu Thân (1965-1968)

2.2. Hoạt động của các đội công tác cấp xã ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 1969-1975

2.2.1. Những thay đổi trong cục diện chiến tranh và nhiệm vụ đặt ra với các đội công tác cấp xã huyện Núi Thành (1969-1975)

2.2.2. Kiên cường trụ bám, chống địch gom dân, giữ thế chiến trường, khôi phục thế và lực cách mạng (1969-1972)

2.2.3. Giữ đất giành dân, tạo thế và lực mới, tiến lên giải phóng hoàn toàn quê hương (1973-1975)

3. Chương 3: MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ ĐỘI CÔNG TÁC CẤP XÃ Ở HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1961-1975)

3.1. Bài học kinh nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Hé Lộ Vai Trò Đội Công Tác Xã Núi Thành Chống Mỹ Giai Đoạn 1961 1975 Định Hình Lịch Sử

Giai đoạn 1961-1975, trong lòng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước khốc liệt, Đội Công Tác Xã Núi Thành Chống Mỹ (1961-1975) đã ra đời và trở thành một hiện tượng lịch sử đặc biệt, mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Từ một lực lượng nhỏ bé, đội đã phát triển thành hạt nhân quan trọng, dẫn dắt phong trào cách mạng địa phương vượt qua muôn vàn khó khăn, góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Sự xuất hiện của đội công tác cấp xã tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đánh dấu một bước ngoặt về chất, thể hiện sự chuyển hướng đấu tranh theo tinh thần Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II). Đây không chỉ là một lực lượng vũ trang tại chỗ, thực hiện tác chiến trực tiếp, mà còn đóng vai trò của một tổ chức đảng, một cấp chính quyền cơ sở, lãnh đạo toàn diện các mặt quân sự, chính trị, binh địch vận, sản xuất và văn hóa – xã hội.

Trước khi đội công tác cấp xã ra đời, phong trào cách mạng tại Núi Thành (khi đó thuộc huyện Tam Kỳ) đối mặt với sự đàn áp tàn bạo của địch. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã triển khai chiến dịch "tố cộng", "thanh minh" ráo riết, sử dụng Luật 10/59 miền Nam để khủng bố, bắt bớ cán bộ và nhân dân. Hậu quả là, đến đầu năm 1959, toàn huyện chỉ còn rất ít cán bộ và đảng viên hoạt động bí mật, cơ sở cách mạng bị tổn thất nặng nề. Tình hình này đặt ra yêu cầu bức thiết về việc khôi phục và phát triển thực lực cách mạng, chuyển từ đấu tranh chính trị đơn thuần sang kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Đội vũ trang tuyên truyền huyện Tam Kỳ được thành lập vào tháng 11 năm 1959 với vỏn vẹn 8 chiến sĩ, đã nổ những tiếng súng đầu tiên, mở đường cho sự ra đời của các đội công tác cấp xã sau này. Điều này chứng tỏ sự nhạy bén, sáng tạo của Đảng bộ địa phương trong việc vận dụng chủ trương của Trung ương vào thực tiễn cam go, tạo ra một hình thái chiến tranh nhân dân độc đáo và hiệu quả. Luận văn khẳng định "đội công tác cấp xã ra đời trên địa bàn huyện Núi Thành là một bước ngoặt đánh dấu sự chuyển hướng đấu tranh theo tinh thần Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) trong phong trào cách mạng ở địa phương" (trích tóm tắt luận văn).

1.1. Bối cảnh lịch sử và sự ra đời cấp thiết của đội công tác cấp xã

Sau Hiệp định Giơnevơ 1954, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm âm mưu chia cắt lâu dài đất nước, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Tại Núi Thành, thuộc huyện Tam Kỳ lúc bấy giờ, địch nhanh chóng thiết lập bộ máy chính quyền, tung lực lượng cảnh sát, mật vụ để đàn áp phong trào cách mạng. Các chiến dịch "tố cộng" như Phan Châu Trinh, Trịnh Minh Thế và Thanh Minh "tố cộng" đã gây tổn thất nặng nề cho Đảng bộ và nhân dân. Tình trạng "phát xít hóa" bộ máy chính quyền cùng với Luật 10/59 miền Nam đã đẩy phong trào cách mạng vào giai đoạn hết sức khó khăn. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo kiên cường của Đảng, nhân dân vẫn giữ vững ý chí đấu tranh. Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng (tháng 1/1959) đã "cởi trói" và thúc đẩy cách mạng miền Nam chuyển hướng sang kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Từ đó, yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng một lực lượng vũ trang tại chỗ, am hiểu địa bàn, có khả năng lãnh đạo quần chúng và trực tiếp đối phó với địch đã dẫn đến sự ra đời của đội công tác cấp xã.

1.2. Cơ cấu tổ chức và chức năng chủ yếu của đội công tác xã Núi Thành

Theo chủ trương của Tỉnh ủy Quảng Nam và Huyện ủy Tam Kỳ, từ đầu năm 1961, các đội công tác cấp xã lần lượt được thành lập. Mỗi đội thường gồm 3-5 đồng chí, chủ yếu là thanh niên địa phương, được huấn luyện chính trị và quân sự bài bản. Đội trưởng đội công tác cấp xã thường kiêm Bí thư chi bộ xã, thể hiện vai trò lãnh đạo toàn diện. Về cơ cấu, đội có đội trưởng, đội phó và các đội viên, thường kiêm các chức vụ xã đội như xã đội trưởng, chính trị viên xã đội. Chức năng của đội công tác cấp xã vô cùng đa dạng: làm nòng cốt xây dựng cơ sở chính trị, phát động quần chúng, động viên thanh niên tham gia cách mạng, trực tiếp "diệt ác, phá kìm", hỗ trợ nhân dân giành quyền làm chủ, tận dụng vũ khí thô sơ để chiến đấu, lãnh đạo công tác đấu tranh chính trịbinh địch vận. Họ còn thực hiện sản xuất, giữ vững hành lang chiến lược và "cửa khẩu" nối liền với miền núi Khu 5. "Chi bộ đội công tác xã thực hiện công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng, phát triển toàn diện các mặt quân sự, chính trị, binh địch vận, sản xuất, thu mua, văn hóa, giáo dục, y tế" (trích tóm tắt luận văn). Điều này cho thấy đội công tác cấp xã Núi Thành không chỉ là lực lượng quân sự mà còn là một tổ chức đảng và chính quyền cơ sở hoạt động sâu rộng.

II. Thách Thức Gian Nan Đội Công Tác Xã Núi Thành Đối Mặt Âm Mưu Mỹ Ngụy 1961 1968

Trong giai đoạn đầu của kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt từ 1961 đến 1968, Đội Công Tác Xã Núi Thành Chống Mỹ (1961-1975) đã phải đối mặt với vô vàn thách thức đến từ các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Sau khi phong trào Đồng Khởi phát triển mạnh mẽ, phá vỡ giai đoạn "tạm thời ổn định" của chính quyền Diệm, Mỹ buộc phải chuyển sang thực hiện Chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" (1961-1965). Mục tiêu chính của chiến lược này là bình định miền Nam, tách dân khỏi cách mạng thông qua việc thiết lập ấp chiến lược – coi đây là xương sống của mọi nỗ lực chống cộng. Tại Núi Thành, địch khẩn trương lập các ấp chiến lược, quy khu, đồng thời tăng cường lực lượng bảo an, biệt kích, thám báo và xây dựng hệ thống đồn bốt dày đặc nhằm kiểm soát chặt chẽ địa bàn và cô lập lực lượng cách mạng. Đến giữa năm 1963, lực lượng địch trên địa bàn huyện (lúc này đã đổi tên thành Nam Tam Kỳ) đã lên đến 6 đại đội bảo an, 4 trung đội biệt kích, cùng một giang đoàn hải thuyền và hàng chục trung đội dân vệ. Bộ máy chính quyền cơ sở cũng được củng cố, mở rộng Đảng Cần lao nhân vị xuống tận xã, thôn, gây ra sự kìm kẹp ngột ngạt đối với nhân dân.

Thách thức càng lớn hơn khi vào ngày 7 tháng 5 năm 1965, đế quốc Mỹ đổ bộ 6.400 lính thủy đánh bộ Mỹ cùng các phương tiện quân sự hiện đại xuống các xã Kỳ Liên, Kỳ Hà để xây dựng Căn cứ Chu Lai, mở màn cho Chiến lược "Chiến tranh cục bộ". Sự xuất hiện của quân viễn chinh Mỹ đã thay đổi tương quan lực lượng một cách đáng kể, đưa Núi Thành trở thành "Vành đai diệt Mỹ Chu Lai" – một trong những chiến trường ác liệt nhất. Địch liên tục càn quét, dùng bom pháo, chất độc hóa học đánh phá dữ dội, nhằm tạo "vành đai trắng" bảo vệ căn cứ, dồn dân vào khu dồn, ấp chiến lược. Điều này khiến cho đội công tác cấp xã phải hoạt động trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt, thiếu thốn lương thực, thuốc men, đường dây liên lạc thường xuyên bị cắt đứt. Nhiều cán bộ, đội viên đã hy sinh trong chiến đấu, như trường hợp các đội trưởng đội công tác Kỳ Khương và Kỳ Chánh (Trang 23). Tuy nhiên, chính trong những khó khăn tột cùng đó, Đội Công Tác Xã Núi Thành Chống Mỹ (1961-1975) đã thể hiện tinh thần kiên cường, sáng tạo, không ngừng tìm tòi phương thức đấu tranh hiệu quả, đặt nền móng vững chắc cho phong trào chiến tranh nhân dân Núi Thành.

2.1. Âm mưu tố cộng ấp chiến lược và sự kìm kẹp quyết liệt của địch

Sau 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm, dưới sự hậu thuẫn của Mỹ, đã phát động các chiến dịch "tố cộng" rộng khắp, nhằm tiêu diệt phong trào cách mạng và kiểm soát chặt chẽ nhân dân. Tại Núi Thành, các khu dồn, quy khu như Xưởng Dầu, Trảng Tôn (xã Kỳ Khương) được lập ra để tập trung quản lý các gia đình có liên quan đến cách mạng. Từ 1961, với Chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", Mỹ-Diệm coi việc lập ấp chiến lược là biện pháp chủ yếu để "tách dân khỏi cộng sản". Nhiều ấp chiến lược mọc lên ở các xã trọng điểm như Kỳ Sanh, Kỳ Bích, Kỳ Khương, Kỳ Xuân, Kỳ Chánh. Địch tăng cường quân số, xây dựng đồn bốt, tổ chức càn quét liên tục, gây ra sự kìm kẹp ngột ngạt. Giang đoàn hải thuyền cũng được triển khai để kiểm soát các tuyến sông biển. Cuộc chiến khốc liệt này đã gây ra vô vàn khó khăn cho việc xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng của Đội công tác cấp xã.

2.2. Khó khăn nội tại và yêu cầu chuyển mình của phong trào cách mạng địa phương

Trước năm 1961, phong trào cách mạng tại Núi Thành chịu tổn thất nặng nề từ các đợt "tố cộng" của địch. Số lượng đảng viên và cán bộ hoạt động bí mật còn rất ít, nhiều chi bộ xã mất liên lạc hoặc tự tan rã. Việc đi lại của cán bộ gặp nhiều khó khăn, phương thức hoạt động còn lúng túng. Đến đầu năm 1959, toàn huyện chỉ còn 15 cán bộ thoát ly và 21 đảng viên hoạt động đơn tuyến (trang 13). Tình hình này đặt ra yêu cầu cấp bách cho việc chuyển hướng đấu tranh. Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra đời đã mở ra một con đường mới: kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Điều này đòi hỏi Đội công tác cấp xã phải nhanh chóng khôi phục cơ sở, phát triển lực lượng vũ trang tại chỗ, và tìm ra phương thức tác chiến phù hợp với địa hình đồng bằng, giáp ranh, nơi địch kiểm soát chặt chẽ. "Yêu cầu này vượt quá khả năng hoạt động của Đội vũ trang tuyên truyền huyện vừa mới thành lập, chỉ có 8 chiến sĩ, vũ khí rất hạn chế..." (trang 18), làm nổi bật sự cần thiết của lực lượng cơ sở như đội công tác cấp xã.

III. Bí Quyết Khôi Phục Đội Công Tác Xã Núi Thành Vững Bước Diệt Ác Giải Phóng Nông Thôn 1961 1965

Giai đoạn 1961-1965 chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ của phong trào cách mạng tại Núi Thành, với vai trò hạt nhân của Đội Công Tác Xã Núi Thành Chống Mỹ (1961-1975) trong việc khôi phục thực lực và tiến lên giải phóng nông thôn. Sau khi Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) được triển khai, Liên khu ủy 5 đã nhấn mạnh việc đẩy mạnh đấu tranh vũ trang ở miền núi và kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang ở đồng bằng. Tại Núi Thành, đội công tác cấp xã đã tiên phong trong việc nắm bắt tinh thần này, nhanh chóng bắt liên lạc với các đảng viên, cơ sở cách mạng còn lại, vận động quần chúng tham gia kháng chiến. Từ sự lãnh đạo sáng suốt của Huyện ủy Tam Kỳ, đội công tác cấp xã đã tận dụng mọi mối quan hệ, tìm mọi cách thức tiếp cận, tuyên truyền vận động nhân dân hiểu rõ đường lối cách mạng. Kết quả là, chỉ trong thời gian ngắn, phong trào cách mạng phục hồi nhanh chóng, nhiều thanh niên "nhảy núi" tham gia quân giải phóng.

Một trong những thành công nổi bật của đội công tác cấp xã là việc tổ chức thành công cuộc nổi dậy giải phóng thôn Tứ Mỹ (xã Kỳ Sanh) vào ngày 31 tháng 8 năm 1961, mở đầu cho việc giải phóng nông thôn đồng bằng ở Quảng Nam và cả Khu 5. Đội công tác xã cùng lực lượng bộ đội địa phương đã phối hợp tấn công địch, hỗ trợ nhân dân đứng lên giành quyền làm chủ. Sau đó, hàng loạt thôn, xã khác như Kỳ Thạnh, Kỳ Yên cũng được giải phóng, tạo thành vùng giải phóng liên hoàn, vững chắc. Để phá thế kìm kẹp của địch, đội công tác cấp xã Núi Thành đã tích cực tổ chức các hoạt động "diệt ác, phá kìm" hiệu quả. Các tên cảnh sát mật, ấp trưởng, tay sai khét tiếng như Phan Trân, Đặng Tấn Hiến, Nguyễn Khuê, Đinh Công Giáo, Lương Núp đã bị trừng trị, làm rúng động hàng ngũ địch và củng cố niềm tin cho nhân dân. "Đội công tác xã là lực lượng làm nòng cốt và chỗ dựa cho toàn dân đánh giặc, tận dụng triệt để các loại vũ khí thô sơ, tự tạo để nâng cao hiệu quả chiến đấu" (trích tóm tắt luận văn). Các hoạt động này đã chứng minh vai trò quan trọng của đội công tác cấp xã trong việc gầy dựng và phát triển phong trào chiến tranh nhân dân Núi Thành, chuẩn bị cho những cuộc đối đầu lớn hơn với đế quốc Mỹ.

3.1. Phục hồi cơ sở phát động quần chúng theo tinh thần Nghị quyết 15

Sau khi Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng được phổ biến, Đội công tác cấp xã Núi Thành đã nhanh chóng triển khai nhiệm vụ phục hồi và phát triển cơ sở cách mạng trong nhân dân. Các cán bộ, đảng viên linh hoạt tiếp xúc, tuyên truyền vận động quần chúng, giúp họ nắm rõ đường lối đấu tranh kết hợp đấu tranh chính trịđấu tranh vũ trang. Nhờ đó, chỉ trong thời gian ngắn, nhiều cơ sở bị đứt liên lạc đã được chắp nối, hàng trăm thanh niên đã "nhảy núi" tham gia kháng chiến, bổ sung cho các đơn vị vũ trang. Đặc biệt, tại các xã như Kỳ Chánh, Kỳ Khương, Kỳ Xuân, Kỳ Sanh, đội công tác cấp xã đã xây dựng được các chi bộ hợp pháp, chi đoàn thanh niên, hội phụ nữ, tạo nền tảng vững chắc cho phong trào. "Đến tháng 8 năm 1955, Đảng bộ có 12 chi bộ với trên 400 đảng viên và hơn 600 đảng viên đơn tuyến" (trang 13), cho thấy sự phục hồi nhanh chóng của lực lượng cách mạng.

3.2. Tiêu diệt ác ôn phá vỡ ấp chiến lược làm chủ địa bàn

Với phương châm "bám sát dân, bám sát địch", Đội công tác cấp xã Núi Thành đã chủ động tổ chức nhiều hoạt động "diệt ác, phá kìm" nhằm trấn áp tay sai địch, làm suy yếu bộ máy chính quyền cơ sở của chúng. Việc tiêu diệt các tên ác ôn, mật vụ như Phan Trân, Đặng Tấn Hiến, Đinh Công Giáo đã tạo ra tiếng vang lớn, gây hoang mang trong hàng ngũ địch và cổ vũ tinh thần đấu tranh của nhân dân. Song song đó, đội công tác cấp xã còn lãnh đạo quần chúng nổi dậy phá vỡ các ấp chiến lược – "nhà tù trá hình" của Mỹ-Diệm. Điển hình là việc giải phóng thôn Tứ Mỹ (Kỳ Sanh), phá quy khu Xưởng Dầu, Trảng Tôn (Kỳ Khương). Những thắng lợi này đã giúp đội công tác cấp xã giành quyền làm chủ nhiều thôn, xã, mở rộng vùng giải phóng liên hoàn, tạo thế đứng chân vững chắc cho cách mạng tại Núi Thành.

IV. Chiến Công Vang Dội Đội Công Tác Xã Núi Thành Quyết Đấu Với Quân Mỹ Xâm Lược 1965 1968

Giai đoạn 1965-1968 đánh dấu một bước ngoặt quyết định của kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tại Núi Thành, khi Đội Công Tác Xã Núi Thành Chống Mỹ (1961-1975) trực tiếp đối đầu với quân viễn chinh Mỹ trong khuôn khổ Chiến lược "Chiến tranh cục bộ". Ngày 7 tháng 5 năm 1965, sự kiện lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ xuống Căn cứ Chu Lai đã đẩy Núi Thành vào một thử thách cam go chưa từng có. Tuy nhiên, sự kiện này cũng thúc đẩy tinh thần "tìm Mỹ mà đánh, gặp Mỹ là diệt" trong quân và dân. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam và Ban Chỉ huy Tỉnh đội đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho huyện Nam Tam Kỳ xây dựng "Vành đai diệt Mỹ Chu Lai", một hình thức tổ chức tác chiến hoàn toàn mới mẻ, dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân.

Trong bối cảnh ác liệt đó, đội công tác cấp xã Núi Thành đã thể hiện vai trò nòng cốt. Họ cùng nhân dân trụ bám ruộng vườn, làng xã, đấu tranh chống âm mưu cướp đất, giành dân của địch. Các hoạt động xây dựng làng xã chiến đấu được đẩy mạnh, đào giao thông hào, hầm chông, bãi mìn, hầm bí mật liên hoàn để chống càn quét và phục vụ chiến đấu. Các cán bộ, đội viên đội công tác cấp xãdu kích xã được tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, kiên quyết khắc phục tư tưởng sợ Mỹ. Nhiều sáng kiến cải tiến vũ khí, lò rèn sản xuất công cụ chiến đấu được triển khai. Trận Núi Thành ngày 26 tháng 5 năm 1965, tuy quy mô nhỏ, nhưng đã khẳng định khả năng đánh thắng quân viễn chinh Mỹ của ta. Đặc biệt, chiến thắng của Đội công tác, du kích xã Kỳ Sanh trong trận đánh Mỹ đầu tiên ngày 24 tháng 6 năm 1965 với lối đánh "quần lộn", "bám sát địch", đã tiêu diệt 17 tên Mỹ, thu vũ khí, trở thành điển hình cho phong trào chiến tranh du kích Núi Thành trong toàn tỉnh. Đồng chí Lê Văn Tâm, người chỉ huy trận đánh, đã đúc kết kinh nghiệm bằng câu nói nổi tiếng: "Cứ tưởng đánh Mỹ khó, nhưng thực ra không khó! Bởi Mỹ to con lớn xác nên dễ bắn trúng" (trang 37).

Những trận đánh kiên cường của đội công tác cấp xã đã làm tăng niềm tin của nhân dân vào thắng lợi của cách mạng. Dù bom pháo địch đánh phá suốt ngày đêm, nhân dân vẫn kiên cường bám trụ, bất hợp tác với địch. Các cuộc đấu tranh chính trịbinh địch vận Núi Thành cũng phát triển mạnh mẽ. Hàng nghìn người dân các xã Kỳ Khương, Kỳ Xuân, Kỳ Sanh đã biểu tình tại quận Lý Tín, tố cáo tội ác của quân Mỹ. Phong trào binh địch vận với việc rải truyền đơn, gửi thư tay cho lính Mỹ, vận động người nhà lính ngụy đã thu được nhiều kết quả tích cực. Thành công của Đội Công Tác Xã Núi Thành Chống Mỹ (1961-1975) đã góp phần làm thất bại Chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, đồng thời là cơ sở quan trọng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

4.1. Xây dựng Vành đai diệt Mỹ Chu Lai và nghệ thuật chiến tranh du kích

Sau khi quân Mỹ đổ bộ và xây dựng Sân bay Chu Lai, Núi Thành trở thành "Vành đai diệt Mỹ Chu Lai" – một chiến trường trọng điểm. Đội công tác cấp xã Núi Thành đã tích cực tham gia xây dựng vành đai này, dựa vào thế trận chiến tranh nhân dânchiến tranh du kích Núi Thành. Các xã như Kỳ Xuân, Kỳ Khương, Kỳ Sanh là tuyến trong, có nhiệm vụ trụ bám tác chiến, hỗ trợ nhân dân đấu tranh chính trị, xây dựng cơ sở cách mạng, chuẩn bị địa bàn giấu quân, vũ khí. Các xã còn lại thực hiện nhiệm vụ quần lộn tiêu hao sinh lực địch, "diệt ác, phá kìm", xây dựng làng xã chiến đấu với hệ thống hào giao thông, hầm chông, bãi mìn liên hoàn. Nghệ thuật "bám địch mà đánh, Mỹ đến là nổ súng, Mỹ đến là tiêu diệt" được phát huy triệt để. "Trận diệt Mỹ của du kích Kỳ Sanh đã chứng minh vai trò to lớn của cấp ủy chi bộ đội công tác trong công tác lãnh đạo chiến đấu, chuẩn bị chiến trường và xây dựng kế hoạch tác chiến" (trang 37).

4.2. Đẩy mạnh đấu tranh hai chân ba mũi giáp công và ý nghĩa Mậu Thân

Trong giai đoạn đối đầu trực tiếp với quân Mỹ, Đội công tác cấp xã Núi Thành đã đẩy mạnh phương châm đấu tranh "hai chân, ba mũi giáp công" (quân sự, chính trị, binh địch vận). Về quân sự, du kích xã liên tục tấn công địch bằng mìn, bắn tỉa, phục kích, tiêu hao sinh lực Mỹ và tay sai. "Du kích Kỳ Yên đánh mìn, bắn tỉa diệt 9 tên biệt kích, bắn rơi 1 máy bay HU1A" (trang 40). Về đấu tranh chính trị, đội công tác cấp xã vận động nhân dân trực diện với địch, đòi quyền lợi, chống cướp đất, gom dân. "Khi quân Mỹ càn quét lên thôn 8, đồng chí Trần Thị Một, cán bộ phụ nữ xã trực tiếp gặp thông dịch viên, yêu cầu can thiệp, không để Mỹ đốt nhà, bắn giết trâu bò..." (trang 38). Công tác binh địch vận Núi Thành cũng được chú trọng, vận động lính ngụy đào ngũ, kêu gọi gia đình lôi kéo con em trở về. Những hoạt động này đã góp phần làm thất bại Chiến lược "Chiến tranh cục bộ" và chuẩn bị tốt cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, dù đối mặt với nhiều hy sinh.

V. Kiên Cường Vượt Bão Đội Công Tác Xã Núi Thành Giữ Vững Thế Trận Trong Việt Nam Hóa Chiến Tranh 1969 1975

Giai đoạn 1969-1975, khi đế quốc Mỹ chuyển sang Chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", tình hình chiến trường Núi Thành càng trở nên khốc liệt. Đối mặt với âm mưu "quét và giữ", "bình định cấp tốc" của địch, Đội Công Tác Xã Núi Thành Chống Mỹ (1961-1975) đã kiên cường trụ bám, giữ vững thế trận và từng bước khôi phục thực lực cách mạng. Sau Tết Mậu Thân 1968, lực lượng cách mạng đối mặt với nhiều khó khăn, tổn thất. Địch tăng cường gom dân, lập khu dồn, đẩy mạnh càn quét, bình định nông thôn, nhằm tách đội công tác cấp xã khỏi quần chúng. Tuy nhiên, với tinh thần "một tấc không đi, một ly không rời", cán bộ, đội viên đội công tác cấp xã Núi Thành cùng nhân dân vẫn kiên cường bám trụ, tổ chức "đấu tranh chính trịđấu tranh vũ trang" chống địch gom dân, giữ đất, giữ làng.

Các đội công tác cấp xã tập trung vào việc khôi phục và củng cố cơ sở cách mạng, tái lập các chi bộ đảng, đoàn thể bị phá vỡ. "Chi bộ đội công tác xã thực hiện công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng, phát triển toàn diện các mặt quân sự, chính trị, binh địch vận, sản xuất, thu mua, văn hóa, giáo dục, y tế" (trích tóm tắt luận văn). Đội ngũ cán bộ, đảng viên được giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự thường xuyên, vận dụng nhuần nhuyễn nghệ thuật chiến tranh nhân dânchiến tranh du kích Núi Thành. Các hoạt động "diệt ác, phá kìm" vẫn được duy trì, tiêu diệt những tên ác ôn, tề điệp ngoan cố, gây dựng lại niềm tin cho nhân dân. Đến năm 1972, lực lượng cách mạng tại Núi Thành đã được khôi phục đáng kể, với 10 đội công tác cấp xã và 69 đồng chí (trang 21). Việc bổ sung hơn 100 cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc về năm 1973 (trang 23) đã tiếp thêm sức mạnh cho các đội.

Trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến, Đội Công Tác Xã Núi Thành Chống Mỹ (1961-1975) cùng các lực lượng vũ trang nhân dân Núi Thành đã chủ động tấn công địch, giành dân, tạo thế và lực mới, góp phần vào những thắng lợi chiến lược của cách mạng miền Nam. Các hoạt động phá đồn bốt, đánh giao thông, và bao vây quân địch liên tục diễn ra. Khi Hiệp định Paris được ký kết (1973), đội công tác xã tập trung củng cố vùng giải phóng, xây dựng chính quyền cách mạng, đẩy mạnh sản xuất, và chuẩn bị cho thời kỳ tổng tiến công. "Giữ đất giành dân, tạo thế và lực mới, tiến lên giải phóng hoàn toàn quê hương (1973-1975)" (trích Mục lục luận văn) là nhiệm vụ trọng tâm. Với sự phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, đội công tác cấp xã đã góp phần quan trọng vào việc giải phóng hoàn toàn quê hương Núi Thành vào mùa Xuân năm 1975.

5.1. Chống địch gom dân bảo vệ thế và lực cách mạng

Trong Chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", địch tập trung gom dân, lập khu dồn, nhằm cắt đứt mối liên hệ giữa đội công tác cấp xã Núi Thành và quần chúng. Tuy nhiên, đội công tác cấp xã đã kiên cường bám trụ, vận động và cùng nhân dân đấu tranh chống lại âm mưu này. Các cán bộ, đội viên "thường xuyên được giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự, vận dụng nhuần nhuyễn nghệ thuật chiến tranh nhân dân, quần lộn chiến đấu tiêu hao, tiêu diệt địch, thực hiện hiệu quả chiến tranh du kích" (trích tóm tắt luận văn). Họ đã tổ chức nhân dân trở về làng cũ sản xuất, xây dựng lại làng xã chiến đấu, giữ vững các "cửa khẩu" và hành lang chiến lược. "Kiên cường trụ bám, chống địch gom dân, giữ thế chiến trường, khôi phục thế và lực cách mạng (1969-1972)" (trích Mục lục luận văn) là minh chứng cho quyết tâm của đội công tác và nhân dân trong việc bảo vệ thành quả cách mạng và củng cố thực lực.

5.2. Chuẩn bị tổng tiến công giải phóng hoàn toàn quê hương

Sau Hiệp định Paris (1973), nhiệm vụ của Đội công tác cấp xã Núi Thành chuyển sang củng cố vùng giải phóng, xây dựng chính quyền cách mạng vững mạnh, đẩy mạnh sản xuất để phục vụ chiến trường. Đồng thời, các đội tăng cường nắm tình hình địch, chuẩn bị địa bàn, mục tiêu cho các đợt tấn công lớn. "Giữ đất giành dân, tạo thế và lực mới, tiến lên giải phóng hoàn toàn quê hương (1973-1975)" (trích Mục lục luận văn) là kim chỉ nam cho hoạt động của họ. Việc "bổ sung lực lượng cho Đội công tác xã Kỳ Vinh và thành lập Đội công tác liên xã Kỳ Vinh - Kỳ Trung" (trang 21) cũng cho thấy sự chuẩn bị toàn diện. Với sự chỉ đạo thống nhất và sự phối hợp chặt chẽ của các lực lượng vũ trang nhân dân Núi Thành, đội công tác cấp xã đã góp phần tạo nên những thắng lợi liên tiếp, đặc biệt là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đưa Núi Thành hoàn toàn giải phóng.

VI. Bài Học Lịch Sử Vô Giá Đội Công Tác Xã Núi Thành Chống Mỹ Di Sản Và Tầm Nhìn

Tổng kết lại, Đội Công Tác Xã Núi Thành Chống Mỹ (1961-1975) đã để lại một di sản lịch sử vô cùng quý giá, cung cấp nhiều bài học kinh nghiệm sâu sắc cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo và thực hành chiến tranh nhân dân ở cơ sở. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của đội công tác cấp xã trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một nét sáng tạo đặc biệt của Đảng bộ địa phương. Từ những ngày đầu đối mặt với sự đàn áp tàn bạo của địch sau Hiệp định Giơnevơ, cho đến khi đối đầu trực diện với quân viễn chinh Mỹ và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" đầy gian nan, đội công tác cấp xã Núi Thành luôn kiên cường bám trụ, linh hoạt vận dụng đường lối của Đảng vào thực tiễn địa phương. Họ không chỉ là lực lượng vũ trang trực tiếp chiến đấu mà còn là cầu nối giữa Đảng và nhân dân, là hạt nhân của chính quyền cách mạng cơ sở. "Trong xuyên suốt tiến trình lịch sử, đội công tác cấp xã trên địa bàn không chỉ là lực lượng vũ trang tại chỗ thực hiện tác chiến trực tiếp, xây dựng phong trào đấu tranh "hai chân, ba mũi giáp công" mà còn thực hiện chức năng của một tổ chức đảng, một cấp chính quyền ở cơ sở trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước" (trích tóm tắt luận văn).

Thành công của đội công tác cấp xã nằm ở khả năng xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân. Họ đã biết cách khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh của quần chúng, biến mỗi thôn xóm thành một pháo đài làng xã chiến đấu. Việc vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng, kết hợp nhuần nhuyễn đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trangbinh địch vận Núi Thành đã giúp đội đạt được nhiều thắng lợi vang dội. Từ những trận "diệt ác, phá kìm" đầu tiên, phá vỡ ấp chiến lược, đến việc trực tiếp đối đầu với quân Mỹ trên "Vành đai diệt Mỹ Chu Lai" và giữ vững thế trận trong những năm "Việt Nam hóa chiến tranh Núi Thành", đội công tác cấp xã luôn là ngọn cờ đầu. Những bài học về sự chủ động, sáng tạo, bám sát thực tiễn, và phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân của đội công tác cấp xã Núi Thành vẫn còn nguyên giá trị, là kim chỉ nam cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Tiếp tục nghiên cứu sâu rộng hơn về mô hình này trên toàn tỉnh Quảng Nam hoặc cả Khu 5 sẽ mở ra những hiểu biết mới về lịch sử cách mạng Việt Nam.

6.1. Vai trò và đóng góp không thể phủ nhận của đội công tác cấp xã

Đội công tác cấp xã Núi Thành đã đóng vai trò then chốt trong mọi mặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Họ là những người trực tiếp phổ biến đường lối của Đảng, khôi phục và phát triển cơ sở cách mạng sau những tổn thất nặng nề. Về quân sự, đội đã lãnh đạo chiến tranh du kích Núi Thành, tổ chức các trận "diệt ác, phá kìm" hiệu quả, phá vỡ ấp chiến lược, và trực tiếp chiến đấu với quân Mỹ trên "Vành đai diệt Mỹ Chu Lai". Về chính trị, họ phát động và lãnh đạo nhân dân đấu tranh chính trị, chống lại âm mưu gom dân, cướp đất của địch, đồng thời thực hiện công tác binh địch vận Núi Thành hiệu quả. "Đội công tác cấp xã của huyện vừa thực hiện chức năng của một tổ chức đảng, vừa có chức năng chính quyền cấp cơ sở" (trang 2). Những đóng góp này đã giúp duy trì và phát triển phong trào cách mạng, tạo tiền đề cho những thắng lợi lớn hơn của toàn dân tộc.

6.2. Giá trị bền vững và hướng nghiên cứu mở rộng

Các bài học từ hoạt động của Đội Công Tác Xã Núi Thành Chống Mỹ (1961-1975) có giá trị bền vững, đặc biệt là trong việc xây dựng "thế trận lòng dân" và vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn địa phương. Sự kiên cường, dũng cảm, tinh thần hy sinh của cán bộ, đội viên đội công tác cấp xã là tấm gương sáng cho các thế hệ sau. "Luận văn cũng rút ra rút những bài học kinh nghiệm, ý nghĩa lịch sử về xây dựng thế trận lòng dân, về nghệ thuật chiến tranh nhân dân, về vận dụng sáng tạo chủ trương, đương lối của Đảng vào thực tiễn cách mạng ở địa phương..." (trích tóm tắt luận văn). Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi về đội công tác cấp xã trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên toàn tỉnh Quảng Nam hoặc cả Khu 5, nhằm làm rõ hơn vai trò và đặc điểm của mô hình độc đáo này, góp phần bổ sung vào kho tàng lịch sử cách mạng Việt Nam.

27/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC ĐỘI CÔNG TÁC CẤP XÃ Ở HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1961-1975) 1. Tình hình huyện Núi Thành sau Hiệp định Giơnevơ 1. Âm mưu, thủ đoạn của địch và phong trào đấu tranh của nhân dân Theo Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết ngày 21 tháng 7 năm 1954, nước ta tạm thời chia cắt làm hai miền Nam – Bắc, việc thống nhất đất nước sẽ được tiến hành sau 2 năm thông qua tổng tuyển cử tự do. Song, với âm mưu chia cắt lâu dài đất nước, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, dùng miền Nam làm bàn đạp tấn công miền Bắc, từ nửa cuối năm 1954, Mỹ gạt Pháp, phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng chế độ Sài Gòn, tập trung lực lượng tiêu diệt phong trào cách mạng của nhân dân ta.

Ngày 29 tháng 8 năm 1954, các đơn vị bảo an và binh lính Pháp đổ bộ vào An Hòa (xã Tam Hải). Theo chân là hàng trăm cảnh sát, mật vụ, phòng nhì, tâm lý chiến, thông tin chiêu hồi, quan chức và nhân viên hành chính từ vùng tạm chiếm đến để thành lập chính quyền. Đến giữa tháng 9 năm 1954, địch thiết lập xong bộ máy chính quyền và hội đồng cố vấn quận Tam Kỳ, do Phan Thiệp làm quận trưởng. Đồng thời, lập bốn khu hành chính: khu Nam gồm các xã Tam Anh, Tam Hiệp, Tam Hải, Tam Nghĩa, trụ sở đóng tại chợ Cây Trâm, xã Tam Anh, do Trần Đình Nhi làm khu trưởng; hai xã Tam Xuân và Tam Tiến thuộc khu Trung; xã Tam Sơn thuộc khu Tây; mỗi khu do một phái viên của quận xuống phụ trách [32, tr.

Sau khi ổn định bộ máy chính quyền cấp quận, địch xúc tiến hỗ trợ cho tay sai lập bộ máy tề xã gọi là Hội đồng hương chính, có chức danh chủ tịch và các ủy viên. Dưới xã là các thôn (ấp), đứng đầu là thôn trưởng, thôn phó. "Cuộc đấu tranh chống thành lập chính quyền địch ở cơ sở gắn với cuộc đấu tranh chống khủng bố, đòi dân chủ, đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ diễn ra giằng co quyết liệt, gây cho địch nhiều khó khăn trở ngại" [32, tr. Sau một thời gian chuẩn bị, tháng 02 năm 1955, địch mở chiến dịch "tố cộng" Phan Châu Trinh.

Tháng 7 năm 1955, địch mở tiếp chiến dịch Trịnh Minh Thế. Cuối năm 1955, địch bắt đầu thực hiện chiến dịch Thanh minh "tố cộng". Ở cấp xã, sau khi lập chính quyền xã, địch tổ chức "chống Cộng triệt để", cấp tập đưa lực lượng "công dân vụ" về tận thôn, xóm, đẩy mạnh đánh phá phong trào cách mạng. Lúc này, trên địa bàn huyện, các tên gian ác ngóc đầu dậy làm tay sai đắc lực cho địch.

Quốc dân đảng lồng người vào bộ máy địch các cấp, tiến hành đàn áp khủng bố có tính chất phục thù giai cấp quyết liệt với khẩu hiệu "diệt cán trừ cộng", "dĩ dân diệt cán" [47, tr. Để tiến hành điều tra các gia 9 đình đảng viên, cán bộ và nhân dân trong vùng, địch phân quần chúng nhân dân thành 3 loại: Loại A là những người trong gia đình có người đi tập kết, thoát ly. Loại B là những người bán hợp pháp, có quan hệ với loại A. Loại C là những người còn lại.

Cuộc đấu tranh chống "tố cộng" diễn ra với nhiều nội dung phong phú, hình thức đa dạng, ngay ở mỗi gia đình, thôn xã. Sau khi phân hóa lực lượng kháng chiến cũ, địch tổ chức thực hiện chống Cộng triệt để. Vợ bộ đội, đảng viên, cán bộ tập kết, thoát ly nằm vùng phải làm giấy ly khai chồng, bắt cha mẹ phải từ bỏ con. Đa số các mẹ, các chị bị bắt làm giấy đều phản đối chủ trương này của địch, kiên quyết không chịu làm giấy ly khai.

Địch tiến hành mở các chiến dịch hù dọa, thúc ép cán bộ, đảng viên ra "đầu hàng", "xuất thú" để hưởng chính sách khoan hồng. Một số đồng chí phải chuyển sang tỉnh khác, hoặc vào núi sống bất hợp pháp. Một số khác tìm đường vào Quảng Ngãi, Quy Nhơn xin đi tập kết ra Bắc. Trước sự khủng bố dã man của địch, một số đảng viên dao động mất niềm tin, nằm im thủ phận, hoặc hướng theo Phật giáo, một số ít đảng viên lộ liễu xuất thú, đầu hàng.

Để hợp thức hóa việc phế truất Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống, địch bày ra trò hề "trưng cầu dân ý". Ngày 23 tháng 10 năm 1955, địch phát loa kêu gọi mọi người đi bỏ phiếu, thậm chí đến từng nhà thúc giục, ai chống lại thì bị bắt về đồn. Mặc dù, trước đó, địch bắt nhân dân đọc thuộc lòng câu "ông xanh bỏ giỏ, ông đỏ bỏ thùng" (nghĩa là phiếu của Bảo Đại màu xanh thì bỏ giỏ, còn phiếu màu đỏ của Diệm thì bỏ thùng) nhưng phần đông thực hiện "ông xanh bỏ giỏ, ông đỏ bỏ túi quần" [47, tr. 114], có người giả vờ không biết bỏ cả hai lá phiếu vào thùng, có người còn dám bỏ cả truyền đơn vào thùng phiếu.

Sau cuộc "trưng cầu dân ý", địch đưa ra Dụ số 2 (đạo luật về ruộng đất), "cải cách điền địa" để tước đoạt quyền sở hữu ruộng đất, khôi phục lại quyền chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, phong kiến, làm chỗ dựa ở nông thôn. Dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy và các đồng chí đảng viên trung kiên, nhân dân ta đấu tranh chống đòi chia lại công điền, phản đối tay sai của chúng lấy ruộng công điền bán đấu giá bỏ vào ngân sách xã, các tá điền thì phản đối địa chủ lấy lại ruộng đất họ đã lĩnh canh, giữ nguyên ruộng đất được cấp trong kháng chiến và đòi chia tô theo mức "địa chủ 3, tá điền 7" có lợi cho nông dân. Trước khi tiến hành đợt 2 của chiến dịch "tố cộng", địch tiến hành sắp xếp lại chính quyền cơ sở, phân chia lại địa giới hành chính cấp xã. Tên xã được thay đổi, từ chữ "Tam" đứng trước sang chữ "Kỳ"4.

Chức danh đứng đầu chính quyền cấp xã chuyển từ Chủ tịch Hội đồng hương chính do dân cử sang xã trưởng do cấp trên bổ nhiệm. Trên địa bàn, địch thành lập thêm trung tâm cải huấn tại đình Cây Trâm (xã Kỳ 4 Xã Tam Nghĩa đổi thành xã Kỳ Liên, tương tự: Tam Hiệp - Kỳ Khương; Tam Quang, Tam Hải - Kỳ Hà; Tam Mỹ - Kỳ Sanh; Tam Anh - Kỳ Chánh; Tam Thạnh - Kỳ Thạnh; Tam Xuân - Kỳ Bích, Kỳ Hưng; Tam Tiến - Kỳ Trung; Tam Sơn - Kỳ Yên… 10 Chánh, nay là xã Tam Anh Nam). Địch tiếp tục xây dựng hệ thống nhà tù, trại "tố cộng" từ tỉnh, quận đến các xã, đi đôi với việc tăng cường mở các chiến dịch "tố cộng" truy nã, bắt bớ, khủng bố nhân dân. Sau khi tiến hành "phát xít hóa" bộ máy chính quyền, ngày 04 tháng 3 năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức tổng tuyển cử riêng lẻ, bầu Quốc hội lập hiến, thành lập ở miền Nam chính thể Việt Nam Cộng hòa [32, tr.

Như vậy, địch trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơnevơ, quay lưng lại với nguyện vọng hòa bình thống nhất của dân tộc Việt Nam. Từng gia đình ở huyện Tam Kỳ bị buộc phải viết khẩu hiệu trước nhà "Gia đình tôi không chứa chấp cộng sản" hoặc "Gia đình tôi quyết tâm tố cộng" [32, tr. Địch đưa bọn "công dân vụ" xuống thực hiện 3 cùng với dân (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) để lôi kéo, theo dõi nắm tình hình. Ai có hiện tượng nghi ngờ sẽ bị cảnh sát, mật vụ đến bắt ngay.

Đồng thời, địch còn tiến hành bắt thanh niên đi quân dịch, làm lính bảo an, dân vệ. Ở mỗi xã có 1 trung đội dân vệ có nhiệm vụ canh gác cơ quan xã và cùng lực lượng bảo an, tổng đoàn, cảnh sát… thường xuyên đi rình phục ban đêm, tìm bắt cán bộ cách mạng. Thâm độc hơn, địch thực hiện khuyến khích nhân viên chính quyền và binh lính địch dụ dỗ mua chuộc, ve vãn, tán tỉnh vợ con cán bộ, bộ đội đi tập kết hòng moi móc tin tức, ly gián cách mạng. Bước sang năm 1957, Đảng Cần lao nhân vị do anh em Diệm - Nhu lập ra phát triển đến chính quyền cấp xã, thôn.

Để làm vỏ bọc, địch lập ra tổ chức "Thanh niên cộng hòa", "Phụ nữ liên đới", "Phong trào cách mạng quốc gia", thiết lập một hệ thống chính trị hoàn chỉnh từ trung ương đến cơ sở để kìm kẹp, khủng bố, đàn áp phong trào đấu tranh, thực hiện chế độ độc tài gia đình trị. Địch tiến hành thanh lọc nhân dân bằng hình thức cho vẽ các vòng tròn trên phên trước nhà: vòng màu đỏ là gia đình có người tập kết, thoát ly; vòng màu vàng là gia đình có người tham gia kháng chiến; vòng màu xanh là gia đình "thuần túy quốc gia". Qua phân loại, địch lập tờ khai gia đình, thanh lọc, phân chia quần chúng. Những người trong diện đảng viên cũ, gia đình có chồng con đi tập kết, những người bị tình nghi hoạt động cách mạng ở địa phương bị bắt tập trung đến học lớp "huấn chính", "tố cộng" với thời gian 3 tháng.

Ngoài ra, công dân vụ còn xuống từng ấp, bắt dân tập trung hằng đêm để học "tố cộng". Ai tố giác được cộng sản thì cho miễn học, còn tất cả phải học trong thời gian 1 tháng. Cứ sau vài đêm học tập, địch bắt mọi người phải viết thư bỏ vào thùng, gây nên cảnh trần phiền và nghi kỵ trong nhân dân. Sau đợt học tập "tố cộng", địch quản thúc gắt gao, không cho rời khỏi địa phương và phải trình diện hằng tuần, vào các "ngày lễ" phải hàng ngũ chỉnh tề tập trung tại các địa điểm tiếp tục nghe "huấn chỉnh", có khi bắt dân ngủ tập trung để tiện quản lý.

Mặt khác, địch còn cài "cộng tác viên" theo dõi, kiểm tra việc đi lại, giao tiếp của từng người và từng gia đình. 11 Ngày 23 tháng 3 năm 1959, Diệm tuyên bố đặt miền Nam trong tình trạng chiến tranh. Tháng 5 năm 1959, Mỹ - Diệm ban hành Luật 10/59, thành lập các tòa án quân sự đặc biệt xét xử các đảng viên cộng sản, những người từng tham gia kháng chiến, yêu nước, tiến bộ [47, tr. Địch lê máy chém đi khắp nơi, xử tử hình tất cả những ai dám chống đối chế độ.

Đi đôi với Luật 10/59, Mỹ-Diệm còn mở những đợt hành quân càn quét liên miên vào vùng nông thôn, chà đi xát lại nhiều lần nhằm tiêu diệt tận gốc lực lượng cách mạng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ