Chương 1: SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC ĐỘI CÔNG TÁC CẤP XÃ Ở HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1961-1975) 1. Tình hình huyện Núi Thành sau Hiệp định Giơnevơ 1. Âm mưu, thủ đoạn của địch và phong trào đấu tranh của nhân dân Theo Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết ngày 21 tháng 7 năm 1954, nước ta tạm thời chia cắt làm hai miền Nam – Bắc, việc thống nhất đất nước sẽ được tiến hành sau 2 năm thông qua tổng tuyển cử tự do. Song, với âm mưu chia cắt lâu dài đất nước, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự, dùng miền Nam làm bàn đạp tấn công miền Bắc, từ nửa cuối năm 1954, Mỹ gạt Pháp, phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng chế độ Sài Gòn, tập trung lực lượng tiêu diệt phong trào cách mạng của nhân dân ta.
Ngày 29 tháng 8 năm 1954, các đơn vị bảo an và binh lính Pháp đổ bộ vào An Hòa (xã Tam Hải). Theo chân là hàng trăm cảnh sát, mật vụ, phòng nhì, tâm lý chiến, thông tin chiêu hồi, quan chức và nhân viên hành chính từ vùng tạm chiếm đến để thành lập chính quyền. Đến giữa tháng 9 năm 1954, địch thiết lập xong bộ máy chính quyền và hội đồng cố vấn quận Tam Kỳ, do Phan Thiệp làm quận trưởng. Đồng thời, lập bốn khu hành chính: khu Nam gồm các xã Tam Anh, Tam Hiệp, Tam Hải, Tam Nghĩa, trụ sở đóng tại chợ Cây Trâm, xã Tam Anh, do Trần Đình Nhi làm khu trưởng; hai xã Tam Xuân và Tam Tiến thuộc khu Trung; xã Tam Sơn thuộc khu Tây; mỗi khu do một phái viên của quận xuống phụ trách [32, tr.
Sau khi ổn định bộ máy chính quyền cấp quận, địch xúc tiến hỗ trợ cho tay sai lập bộ máy tề xã gọi là Hội đồng hương chính, có chức danh chủ tịch và các ủy viên. Dưới xã là các thôn (ấp), đứng đầu là thôn trưởng, thôn phó. "Cuộc đấu tranh chống thành lập chính quyền địch ở cơ sở gắn với cuộc đấu tranh chống khủng bố, đòi dân chủ, đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ diễn ra giằng co quyết liệt, gây cho địch nhiều khó khăn trở ngại" [32, tr. Sau một thời gian chuẩn bị, tháng 02 năm 1955, địch mở chiến dịch "tố cộng" Phan Châu Trinh.
Tháng 7 năm 1955, địch mở tiếp chiến dịch Trịnh Minh Thế. Cuối năm 1955, địch bắt đầu thực hiện chiến dịch Thanh minh "tố cộng". Ở cấp xã, sau khi lập chính quyền xã, địch tổ chức "chống Cộng triệt để", cấp tập đưa lực lượng "công dân vụ" về tận thôn, xóm, đẩy mạnh đánh phá phong trào cách mạng. Lúc này, trên địa bàn huyện, các tên gian ác ngóc đầu dậy làm tay sai đắc lực cho địch.
Quốc dân đảng lồng người vào bộ máy địch các cấp, tiến hành đàn áp khủng bố có tính chất phục thù giai cấp quyết liệt với khẩu hiệu "diệt cán trừ cộng", "dĩ dân diệt cán" [47, tr. Để tiến hành điều tra các gia 9 đình đảng viên, cán bộ và nhân dân trong vùng, địch phân quần chúng nhân dân thành 3 loại: Loại A là những người trong gia đình có người đi tập kết, thoát ly. Loại B là những người bán hợp pháp, có quan hệ với loại A. Loại C là những người còn lại.
Cuộc đấu tranh chống "tố cộng" diễn ra với nhiều nội dung phong phú, hình thức đa dạng, ngay ở mỗi gia đình, thôn xã. Sau khi phân hóa lực lượng kháng chiến cũ, địch tổ chức thực hiện chống Cộng triệt để. Vợ bộ đội, đảng viên, cán bộ tập kết, thoát ly nằm vùng phải làm giấy ly khai chồng, bắt cha mẹ phải từ bỏ con. Đa số các mẹ, các chị bị bắt làm giấy đều phản đối chủ trương này của địch, kiên quyết không chịu làm giấy ly khai.
Địch tiến hành mở các chiến dịch hù dọa, thúc ép cán bộ, đảng viên ra "đầu hàng", "xuất thú" để hưởng chính sách khoan hồng. Một số đồng chí phải chuyển sang tỉnh khác, hoặc vào núi sống bất hợp pháp. Một số khác tìm đường vào Quảng Ngãi, Quy Nhơn xin đi tập kết ra Bắc. Trước sự khủng bố dã man của địch, một số đảng viên dao động mất niềm tin, nằm im thủ phận, hoặc hướng theo Phật giáo, một số ít đảng viên lộ liễu xuất thú, đầu hàng.
Để hợp thức hóa việc phế truất Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống, địch bày ra trò hề "trưng cầu dân ý". Ngày 23 tháng 10 năm 1955, địch phát loa kêu gọi mọi người đi bỏ phiếu, thậm chí đến từng nhà thúc giục, ai chống lại thì bị bắt về đồn. Mặc dù, trước đó, địch bắt nhân dân đọc thuộc lòng câu "ông xanh bỏ giỏ, ông đỏ bỏ thùng" (nghĩa là phiếu của Bảo Đại màu xanh thì bỏ giỏ, còn phiếu màu đỏ của Diệm thì bỏ thùng) nhưng phần đông thực hiện "ông xanh bỏ giỏ, ông đỏ bỏ túi quần" [47, tr. 114], có người giả vờ không biết bỏ cả hai lá phiếu vào thùng, có người còn dám bỏ cả truyền đơn vào thùng phiếu.
Sau cuộc "trưng cầu dân ý", địch đưa ra Dụ số 2 (đạo luật về ruộng đất), "cải cách điền địa" để tước đoạt quyền sở hữu ruộng đất, khôi phục lại quyền chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, phong kiến, làm chỗ dựa ở nông thôn. Dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy và các đồng chí đảng viên trung kiên, nhân dân ta đấu tranh chống đòi chia lại công điền, phản đối tay sai của chúng lấy ruộng công điền bán đấu giá bỏ vào ngân sách xã, các tá điền thì phản đối địa chủ lấy lại ruộng đất họ đã lĩnh canh, giữ nguyên ruộng đất được cấp trong kháng chiến và đòi chia tô theo mức "địa chủ 3, tá điền 7" có lợi cho nông dân. Trước khi tiến hành đợt 2 của chiến dịch "tố cộng", địch tiến hành sắp xếp lại chính quyền cơ sở, phân chia lại địa giới hành chính cấp xã. Tên xã được thay đổi, từ chữ "Tam" đứng trước sang chữ "Kỳ"4.
Chức danh đứng đầu chính quyền cấp xã chuyển từ Chủ tịch Hội đồng hương chính do dân cử sang xã trưởng do cấp trên bổ nhiệm. Trên địa bàn, địch thành lập thêm trung tâm cải huấn tại đình Cây Trâm (xã Kỳ 4 Xã Tam Nghĩa đổi thành xã Kỳ Liên, tương tự: Tam Hiệp - Kỳ Khương; Tam Quang, Tam Hải - Kỳ Hà; Tam Mỹ - Kỳ Sanh; Tam Anh - Kỳ Chánh; Tam Thạnh - Kỳ Thạnh; Tam Xuân - Kỳ Bích, Kỳ Hưng; Tam Tiến - Kỳ Trung; Tam Sơn - Kỳ Yên… 10 Chánh, nay là xã Tam Anh Nam). Địch tiếp tục xây dựng hệ thống nhà tù, trại "tố cộng" từ tỉnh, quận đến các xã, đi đôi với việc tăng cường mở các chiến dịch "tố cộng" truy nã, bắt bớ, khủng bố nhân dân. Sau khi tiến hành "phát xít hóa" bộ máy chính quyền, ngày 04 tháng 3 năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức tổng tuyển cử riêng lẻ, bầu Quốc hội lập hiến, thành lập ở miền Nam chính thể Việt Nam Cộng hòa [32, tr.
Như vậy, địch trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơnevơ, quay lưng lại với nguyện vọng hòa bình thống nhất của dân tộc Việt Nam. Từng gia đình ở huyện Tam Kỳ bị buộc phải viết khẩu hiệu trước nhà "Gia đình tôi không chứa chấp cộng sản" hoặc "Gia đình tôi quyết tâm tố cộng" [32, tr. Địch đưa bọn "công dân vụ" xuống thực hiện 3 cùng với dân (cùng ăn, cùng ở, cùng làm) để lôi kéo, theo dõi nắm tình hình. Ai có hiện tượng nghi ngờ sẽ bị cảnh sát, mật vụ đến bắt ngay.
Đồng thời, địch còn tiến hành bắt thanh niên đi quân dịch, làm lính bảo an, dân vệ. Ở mỗi xã có 1 trung đội dân vệ có nhiệm vụ canh gác cơ quan xã và cùng lực lượng bảo an, tổng đoàn, cảnh sát… thường xuyên đi rình phục ban đêm, tìm bắt cán bộ cách mạng. Thâm độc hơn, địch thực hiện khuyến khích nhân viên chính quyền và binh lính địch dụ dỗ mua chuộc, ve vãn, tán tỉnh vợ con cán bộ, bộ đội đi tập kết hòng moi móc tin tức, ly gián cách mạng. Bước sang năm 1957, Đảng Cần lao nhân vị do anh em Diệm - Nhu lập ra phát triển đến chính quyền cấp xã, thôn.
Để làm vỏ bọc, địch lập ra tổ chức "Thanh niên cộng hòa", "Phụ nữ liên đới", "Phong trào cách mạng quốc gia", thiết lập một hệ thống chính trị hoàn chỉnh từ trung ương đến cơ sở để kìm kẹp, khủng bố, đàn áp phong trào đấu tranh, thực hiện chế độ độc tài gia đình trị. Địch tiến hành thanh lọc nhân dân bằng hình thức cho vẽ các vòng tròn trên phên trước nhà: vòng màu đỏ là gia đình có người tập kết, thoát ly; vòng màu vàng là gia đình có người tham gia kháng chiến; vòng màu xanh là gia đình "thuần túy quốc gia". Qua phân loại, địch lập tờ khai gia đình, thanh lọc, phân chia quần chúng. Những người trong diện đảng viên cũ, gia đình có chồng con đi tập kết, những người bị tình nghi hoạt động cách mạng ở địa phương bị bắt tập trung đến học lớp "huấn chính", "tố cộng" với thời gian 3 tháng.
Ngoài ra, công dân vụ còn xuống từng ấp, bắt dân tập trung hằng đêm để học "tố cộng". Ai tố giác được cộng sản thì cho miễn học, còn tất cả phải học trong thời gian 1 tháng. Cứ sau vài đêm học tập, địch bắt mọi người phải viết thư bỏ vào thùng, gây nên cảnh trần phiền và nghi kỵ trong nhân dân. Sau đợt học tập "tố cộng", địch quản thúc gắt gao, không cho rời khỏi địa phương và phải trình diện hằng tuần, vào các "ngày lễ" phải hàng ngũ chỉnh tề tập trung tại các địa điểm tiếp tục nghe "huấn chỉnh", có khi bắt dân ngủ tập trung để tiện quản lý.
Mặt khác, địch còn cài "cộng tác viên" theo dõi, kiểm tra việc đi lại, giao tiếp của từng người và từng gia đình. 11 Ngày 23 tháng 3 năm 1959, Diệm tuyên bố đặt miền Nam trong tình trạng chiến tranh. Tháng 5 năm 1959, Mỹ - Diệm ban hành Luật 10/59, thành lập các tòa án quân sự đặc biệt xét xử các đảng viên cộng sản, những người từng tham gia kháng chiến, yêu nước, tiến bộ [47, tr. Địch lê máy chém đi khắp nơi, xử tử hình tất cả những ai dám chống đối chế độ.
Đi đôi với Luật 10/59, Mỹ-Diệm còn mở những đợt hành quân càn quét liên miên vào vùng nông thôn, chà đi xát lại nhiều lần nhằm tiêu diệt tận gốc lực lượng cách mạng.