Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu, mã số 9222024) của nghiên cứu sinh Nguyễn Đức Đạo, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Khang tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2018), mang tên: "Đối chiếu thuật ngữ báo chí Anh - Việt và chuyển dịch thuật ngữ báo chí tiếng Anh sang tiếng Việt".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Báo chí và truyền thông đóng vai trò thiết yếu trong đời sống xã hội và quá trình hội nhập quốc tế. Cùng với sự phát triển của công nghệ và hoạt động truyền thông, thuật ngữ báo chí (TNBC) trở thành một bộ phận nòng cốt cấu thành ngành khoa học báo chí, đóng vai trò công cụ tư duy, tiếp nhận và phổ biến tri thức chuyên ngành.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu chuyên sâu về thuật ngữ trên bình diện lý luận và ứng dụng xuất hiện ngày càng nhiều nhưng đối với TNBC, các công trình chủ yếu dừng lại ở việc biên soạn từ điển tra cứu chuyên ngành (giải thích hoặc đối chiếu Anh - Nga - Việt). Các công trình nghiên cứu TNBC trên bình diện lý luận ngôn ngữ học còn rất hạn chế, đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu đối chiếu có hệ thống giữa hệ thuật ngữ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt, cũng như khảo sát cách thức chuyển dịch thuật ngữ báo chí từ tiếng Anh sang tiếng Việt trên cơ sở đối chiếu ngôn ngữ học. Đây là khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là thông qua việc khảo sát hệ thống TNBC tiếng Anh và tiếng Việt theo hướng đối chiếu Anh - Việt nhằm làm sáng tỏ các đặc điểm về mặt cấu tạo và định danh của hệ thống TNBC trong hai ngôn ngữ, cùng phương thức chuyển dịch TNBC tiếng Anh sang tiếng Việt. Từ đó, luận án đề xuất một số định hướng cụ thể để xây dựng, chuẩn hóa TNBC tiếng Việt, phục vụ hoạt động báo chí và công tác đào tạo chuyên ngành báo chí - truyền thông.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về thuật ngữ và TNBC trên thế giới và ở Việt Nam, xác lập cơ sở lí luận cho việc nghiên cứu luận án.
- Phân tích, đối chiếu đặc điểm cấu tạo TNBC trong tiếng Anh và tiếng Việt; xác định loại hình kết hợp thành tố để tạo thành TNBC phổ biến nhất ở từng ngôn ngữ, chỉ ra sự giống nhau và khác nhau về mô hình cấu tạo TNBC trong hai ngôn ngữ.
- Đối chiếu đặc điểm định danh theo các phương diện: kiểu ngữ nghĩa và cách thức biểu thị của TNBC tiếng Anh với tiếng Việt để chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ.
- Khảo sát cách chuyển dịch TNBC tiếng Anh sang tiếng Việt và đề xuất cách chuyển dịch phù hợp TNBC tiếng Anh sang tiếng Việt theo hướng chuẩn hóa tiếng Việt.
Đối tượng, phạm vi và nguồn tư liệu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống thuật ngữ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt (các thuật ngữ biểu đạt khái niệm, sự vật, hoạt động trong lĩnh vực báo chí).
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án khảo sát các TNBC tiếng Anh và tiếng Việt thuộc 5 phạm trù ngữ nghĩa tiêu biểu của ngành báo chí:
- Chủ thể trực tiếp hoạt động báo chí và công chúng báo chí;
- Sản phẩm báo chí;
- Nguyên liệu chi tiết cấu thành sản phẩm báo chí;
- Phương tiện - kỹ thuật trong hoạt động báo chí;
- Hoạt động báo chí.
- Quy mô và nguồn ngữ liệu: Tổng dung lượng ngữ liệu khảo sát thực nghiệm gồm 1.868 thuật ngữ báo chí tiếng Anh và 1.868 thuật ngữ báo chí tiếng Việt tương ứng. Nguồn trích xuất ngữ liệu chính gồm:
- Cuốn từ điển: Từ điển thuật ngữ báo chí - xuất bản Anh - Nga - Việt (Quang Đạm, Nguyễn Khắc Văn, Lê Thanh Hương, Nguyễn Trí Dũng biên soạn, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2010);
- Các giáo trình, sách chuyên khảo dùng cho sinh viên chuyên ngành báo chí tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội), Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình I (như Cơ sở lí luận báo chí truyền thông - 2004, Cơ sở lí luận báo chí - 2012, Ngôn ngữ báo chí - 2010, Báo phát thanh - 2002, Giáo trình báo chí truyền hình - 2011, Tác phẩm báo chí - 2006, Các thể loại báo chí truyền thông - 2016);
- Các bài viết chuyên môn trên Tạp chí Người làm báo thuộc Hội Nhà báo Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được tác giả điểm luận
1. Nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới
Tác giả điểm lại lịch sử thuật ngữ học từ thế kỷ XVIII với các công trình của Lavoisier và Berthollet (Hóa học), Linnaeus (Sinh vật học, Thực vật học), qua các hội nghị danh mục quốc tế thế kỷ XIX (Hội nghị thực vật học 1867, danh pháp hóa học 1892). Bước sang thế kỷ XX, các công trình của E. Wüster (thập niên 1930) đặt nền tảng cho trường phái Áo; D.S. Lotte đại diện cho trường phái Xô-viết; cùng trường phái Czech. M.T. Cabré (1999) phân chia lịch sử thuật ngữ học hiện đại thành 4 giai đoạn: hình thành (1930–1960), xác lập lĩnh vực (1960–1975), bùng nổ (1975–1985), mở rộng (1985 đến nay).
2. Nghiên cứu thuật ngữ tại Việt Nam
- Giai đoạn khởi đầu: Hoàng Xuân Hãn với công trình Danh từ khoa học (1942) thu thập gần 6.000 danh từ khoa học, đưa ra 8 yêu cầu khi đặt danh từ khoa học mới bằng tiếng Việt.
- Nghiên cứu lý thuyết chung: Đỗ Hữu Châu (1962), Nguyễn Văn Tu (1968), Lưu Vân Lăng (1979), Lê Khả Kế (1979), Hoàng Văn Hành (1983), Đái Xuân Ninh (1986), Lê Quang Thiêm (1989, 2000, 2015), Nguyễn Thiện Giáp (2003, 2010), Nguyễn Như Ý (1992), Nguyễn Văn Khang (2000), Nguyễn Đức Tồn (2010, 2013), Hà Quang Năng (2010, 2012, 2013).
- Các nghiên cứu chuyên ngành và đối chiếu: Luận án tổng thuật nhiều công trình theo từng chuyên ngành như Luật sở hữu trí tuệ (Mai Thị Lựu, 2012), Du lịch (Lê Thanh Hà, 2014), Tin học - viễn thông (Nguyễn Thị Kim Thanh, 2005), Xây dựng (Vũ Thị Thu Huyền, 2013), Khoa học tự nhiên (Ngô Phi Hùng, 2014), Kỹ thuật điện (Dương Thị Thùy Mai, 2018), Thương mại Nhật - Việt (Nguyễn Thị Bích Hà, 2000), Tài chính (Đỗ Thị Thu Nga, 2018), Quân sự (Vũ Quang Hào, 1991), Cảnh sát (Nguyễn Thị Bích Hường, 2014), Khoa học hình sự (Nguyễn Quang Hùng, 2016; Khổng Minh Hưng Việt, 2017), Y học và Phụ sản (Vương Thị Thu Minh, 2005; Phí Thị Việt Hà, 2017; Nguyễn Thị Hải, 2018), Âm nhạc (Nguyễn Thanh Dung, 2017).
3. Nghiên cứu thuật ngữ báo chí
- Trên thế giới: Tại Liên Xô (cũ) và Nga, các công trình của E.P. Prokhorov (1980) tại Đại học Tổng hợp Lomonosov Moscow; tại Anh và Mỹ có cuốn Reuters Handbook for Journalists (1992), bộ sách Journalist của Đại học Oxford, Dictionary of Journalism của Tony Harcup (2014), Dictionary of Media and Communications của Marcel Danesi (2009).
- Tại Việt Nam:
- Bài viết Con đường phát triển của thuật ngữ báo chí Việt Nam của Quang Đạm (1977);
- Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Hồng Điệp (1995), Thuật ngữ báo chí Việt Nam - hiện trạng và giải pháp;
- Giáo trình Ngôn ngữ báo chí của Vũ Quang Hào (2010), phân tích thực trạng thiếu đồng bộ, thiếu hệ thống của TNBC tiếng Việt;
- Luận án tiến sĩ của Quàng Thị Gấm (2015), Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tiếng Việt, tập trung miêu tả đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa nội bộ tiếng Việt và đề xuất 10 phạm trù thuật ngữ báo chí;
- Các cuốn từ điển chuyên ngành: Từ điển thuật ngữ xuất bản - báo chí Nga - Anh - Việt (Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Thành Châu, Quang Đạm, 1982); Từ điển thuật ngữ báo chí - truyền thông (Phạm Thành Hưng, 2007); Từ điển thuật ngữ báo chí - xuất bản Anh - Nga - Việt (Quang Đạm, Nguyễn Khắc Văn, Lê Thanh Hương, Nguyễn Trí Dũng, 2010); Từ điển báo chí Anh - Việt (Nguyễn Minh Tiến, 2002).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Phần lớn các nghiên cứu trước đây về TNBC tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc miêu tả nội bộ tiếng Việt (như công trình của Quàng Thị Gấm) hoặc biên soạn từ điển tra cứu thuật ngữ đối chiếu đơn thuần, mang tính giải thích mà chưa được nghiên cứu trên bình diện lý luận ngôn ngữ học đối chiếu. Luận án này giải quyết khoảng trống về việc xác lập hệ thống đặc trưng cấu tạo, mô hình định danh đối chiếu giữa tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời xây dựng cơ sở lý luận và khảo cứu thực trạng chuyển dịch TNBC tiếng Anh sang tiếng Việt nhằm phục vụ chuẩn hóa thuật ngữ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
- Khái niệm thuật ngữ: Luận án tiếp thu định nghĩa của GS. Nguyễn Thiện Giáp (1985): "Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ. Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người".
- Phân biệt thuật ngữ với các khái niệm liên quan:
- Thuật ngữ và danh pháp khoa học: Dẫn quan điểm của A.A. Reformatski (1961), A.V. Superanskaja (1976) và Nguyễn Thiện Giáp (2010), luận án khẳng định hệ thuật ngữ gắn với hệ thống khái niệm logic của khoa học, trong khi danh pháp chỉ "dán nhãn" gọi tên các đối tượng/sự vật cụ thể mà không biểu thị trực tiếp hệ khái niệm logic.
- Thuật ngữ và từ thông thường: Thuật ngữ có ngoại diên hẹp hơn nhưng nội hàm sâu hơn từ thông thường (Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, 1990); thuật ngữ mang tính trung hòa sắc thái biểu cảm và có tính định nghĩa khái niệm.
- Thuật ngữ và từ nghề nghiệp: Từ nghề nghiệp (theo Lưu Vân Lăng, Nguyễn Như Ý, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Khang, L.A. Kapanadze) mang tính địa phương, phạm vi hẹp, không tạo thành hệ thống khép kín và có sự giao thoa, chuyển hóa hai chiều với thuật ngữ.
- Tiêu chuẩn thuật ngữ: Luận án xác lập 3 tiêu chuẩn cơ bản gồm:
- Tính khoa học (bắt buộc: gồm tính chính xác, tính hệ thống, tính ngắn gọn);
- Tính quốc tế (bắt buộc: thể hiện tri thức khoa học chung);
- Tính dân tộc (không tuyệt đối bắt buộc, thể hiện qua ngữ âm, chữ viết, ngữ pháp tiếng Việt).
- Lý thuyết định danh: Dựa trên lý thuyết của V.G. Gak và Hà Quang Năng (2013), hành vi định danh gồm 2 bước: quy loại khái niệm và chọn đặc trưng khu biệt. Phân loại định danh gồm:
- Xét theo kiểu ngữ nghĩa: tên gọi trực tiếp và tên gọi gián tiếp (ẩn dụ, hoán dụ);
- Xét theo cách thức biểu thị: hình thái bên trong, tính có lý do, tính kết khối hoặc tách biệt.
- Khái niệm "thành tố": Luận án sử dụng khái niệm "thành tố" (dựa trên quan điểm phân tích từ và đoản ngữ của Nguyễn Tài Cẩn) làm đơn vị cơ sở để miêu tả, phân tích và so sánh cấu tạo thuật ngữ của cả hai ngôn ngữ biến hình (tiếng Anh) và đơn lập (tiếng Việt).
- Tiêu chí xác định thuật ngữ báo chí trong luận án: Luận án xác định 3 tiêu chí:
- Tiêu chí phạm vi sử dụng: xuất hiện trong từ điển chuyên ngành báo chí 2010 và các giáo trình đào tạo báo chí chuẩn mực;
- Tiêu chí hình thức: là từ hoặc cụm từ cố định có cấu tạo dưới 5 thành tố (loại bỏ các cụm từ giải thích dài dòng từ 5 thành tố trở lên);
- Tiêu chí nội dung: biểu thị khái niệm, đối tượng thuộc 5 phạm trù của ngành báo chí.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học định tính và thủ pháp thống kê định lượng:
- Phương pháp miêu tả: Sử dụng để miêu tả các đặc điểm cấu tạo, phương thức định danh và các dạng chuyển dịch thuật ngữ.
- Phân tích thành tố định danh trực tiếp: Tách và nhận diện các yếu tố cấu thành thuật ngữ thành các thành tố mang nghĩa để xác định mô hình cấu trúc.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ cơ sở và tiếng Việt làm ngôn ngữ đối chiếu nhằm chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt về cấu tạo và định danh.
- Thủ pháp thống kê định lượng: Xác định số lượng, tần số xuất hiện và tỷ lệ phần trăm của các mô hình cấu tạo, kiểu định danh và phương thức dịch trên tổng số 1.868 cặp thuật ngữ.
- Thủ pháp đối chiếu chuyển dịch thuật ngữ: So sánh thuật ngữ tiếng Anh gốc với các biến thể chuyển dịch trong tiếng Việt để đánh giá mức độ tương đương và tính chuẩn xác.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu thuật ngữ học và TNBC trên thế giới cũng như tại Việt Nam, đồng thời xây dựng bộ khung lý thuyết phục vụ việc đối chiếu và khảo sát dịch thuật.
Nội dung trọng tâm của chương gồm:
- Phân tích sự hình thành và phát triển của ngành thuật ngữ học quốc tế qua 3 trường phái lớn (Áo, Xô-viết, Czech) và 4 giai đoạn lịch sử theo M.T. Cabré.
- Điểm luận các nghiên cứu thuật ngữ tại Việt Nam từ tác phẩm mở đầu của Hoàng Xuân Hãn (1942) đến các công trình hiện đại về chuẩn hóa và đối chiếu thuật ngữ chuyên ngành.
- Khảo sát thực trạng nghiên cứu TNBC: Tại các nước nói tiếng Anh (Anh, Mỹ), TNBC chủ yếu được chuẩn hóa thông qua các cuốn sổ tay nghiệp vụ của các hãng thông tấn (như Reuters), sách tra cứu của các đại học (như Oxford) và các bộ từ điển đơn ngữ/song ngữ. Tại Việt Nam, TNBC đã phát triển qua các giai đoạn gắn liền với lịch sử báo chí cách mạng từ năm 1865, 1925, 1945, 1975 đến nay; tuy nhiên các nghiên cứu lý luận còn mỏng và hệ thuật ngữ bộc lộ nhiều bất cập như thiếu thống nhất, nhiều thuật ngữ đồng nghĩa, dịch giải thích dài dòng.
- Xác lập khung lý thuyết về định danh ngôn ngữ, thành tố cấu tạo thuật ngữ, chức năng và hệ thống 5 phạm trù của ngành báo chí làm tiền đề cho Chương 2 và Chương 3.
Chương 2: Đối chiếu thuật ngữ báo chí Anh - Việt
Chương 2 tiến hành khảo sát thực nghiệm 1.868 cặp TNBC Anh - Việt trên hai bình diện: cấu tạo và định danh.
Danh mục các bảng biểu thống kê trong Chương 2:
- Bảng 2.1: Thống kê thuật ngữ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt có cấu tạo thành tố đơn
- Bảng 2.2: Bảng tổng hợp phái sinh thuật ngữ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt có cấu tạo thành tố phức
- Bảng 2.3: Thống kê thành tố cấu tạo thuật ngữ báo chí trong tiếng Anh và tiếng Việt
- Bảng 2.4: Thống kê mô hình cấu tạo thuật ngữ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt
- Bảng 2.5: Thuật ngữ báo chí Anh - Việt khảo sát thuộc 05 phạm trù tiêu biểu ngành báo chí
- Bảng 2.6: Thuật ngữ báo chí Anh - Việt thuộc đơn vị định danh phái sinh
- Bảng 2.7: Mô hình định danh thuật ngữ báo chí Anh - Việt chỉ chủ thể hoạt động báo chí và công chúng báo chí
- Bảng 2.8: Mô hình định danh thuật ngữ báo chí Anh - Việt chỉ nguyên liệu chi tiết cấu thành sản phẩm báo chí
- Bảng 2.9: Mô hình định danh thuật ngữ báo chí Anh - Việt chỉ sản phẩm báo chí
- Bảng 2.10: Mô hình định danh thuật ngữ báo chí Anh - Việt chỉ hoạt động báo chí
- Bảng 2.11: Mô hình định danh thuật ngữ báo chí Anh - Việt chỉ phương tiện - kỹ thuật trong hoạt động báo chí
- Bảng 2.12: Bảng tổng hợp đặc trưng chọn để định danh 5 phạm trù thuật ngữ báo chí
1. Đối chiếu về mặt cấu tạo
- Số lượng và đặc điểm thành tố: Luận án phân loại cấu tạo thành thuật ngữ có cấu tạo thành tố đơn (từ đơn) và thuật ngữ có cấu tạo thành tố phức (từ ghép, phái sinh, đoản ngữ). Cấu tạo thuật ngữ trong cả hai ngôn ngữ dao động từ 1 đến 4 thành tố, trong đó mô hình cấu tạo gồm 2 và 3 thành tố chiếm tỷ lệ áp đảo.
- Mô hình kết hợp:
- Trong tiếng Anh: Sử dụng linh hoạt các phương thức cấu tạo từ bằng phụ tố phái sinh (prefixes, suffixes), ghép từ (Noun + Noun, Adjective + Noun), rút gọn/viết tắt (acronyms, initialisms) và cụm từ.
- Trong tiếng Việt: Phương thức cấu tạo chủ yếu là ghép chính phụ và tạo ngữ/đoản ngữ danh từ. Trật tự thành tố giữa hai ngôn ngữ có sự đối lập rõ rệt: tiếng Anh tuân thủ trật tự "thành tố phụ đứng trước + thành tố chính đứng sau" (Modifier + Head), trong khi tiếng Việt tuân thủ trật tự "thành tố chính đứng trước + thành tố phụ đứng sau" (Head + Modifier).
2. Đối chiếu về mặt định danh
Luận án khảo sát đối chiếu đặc điểm định danh của 1.868 thuật ngữ qua 5 phạm trù báo chí học cốt lõi:
| STT | Phạm trù thuật ngữ báo chí | Đặc trưng định danh tiêu biểu | Ví dụ đối chiếu (Anh - Việt) |
|---|---|---|---|
| 1 | Chủ thể hoạt động báo chí và công chúng | Định danh theo chức năng, nghề nghiệp, vai trò tiếp nhận | reporter (phóng viên), editor-in-chief (tổng biên tập), audience (khán thính giả) |
| 2 | Nguyên liệu - chi tiết cấu thành sản phẩm | Định danh theo tính chất nội dung, hình thức văn bản | headline (tiêu đề/tít), lead (đoạn mở đầu/đoạn sa-pô), byline (dòng ghi tên tác giả) |
| 3 | Sản phẩm báo chí | Định danh theo định kỳ phát hành, thể loại, phương tiện | daily newspaper (nhật báo), editorial (bài xã luận), talk show (chương trình tọa đàm) |
| 4 | Hoạt động báo chí | Định danh theo quy trình nghiệp vụ, hành động tác nghiệp | broadcasting (phát sóng), layout (dàn trang), interviewing (phỏng vấn) |
| 5 | Phương tiện - kỹ thuật báo chí | Định danh theo thiết bị kỹ thuật, công nghệ truyền dẫn | teleprompter (máy nhắc chữ), transmitter (máy phát sóng), camera (máy quay/máy ảnh) |
- Về kiểu ngữ nghĩa: Phần lớn TNBC trong cả hai ngôn ngữ là tên gọi trực tiếp của khái niệm; một bộ phận sử dụng phương thức chuyển nghĩa gián tiếp (ẩn dụ hóa, hoán dụ hóa dựa trên không gian, bộ phận cơ thể hoặc thuộc tính vật lý).
- Về cách thức biểu thị: Sự lựa chọn đặc trưng định danh phản ánh sự tương đồng về tư duy logic chuyên ngành nhưng có sự khác biệt về phương tiện biểu đạt hình thái do loại hình ngôn ngữ chi phối.
Chương 3: Chuyển dịch thuật ngữ báo chí tiếng Anh sang tiếng Việt
Chương 3 tập trung khảo cứu thực trạng dịch thuật ngữ báo chí và đề xuất hệ thống giải pháp chuyển dịch trên cơ sở ngữ liệu đối chiếu.
1. Khảo sát thực trạng chuyển dịch TNBC
- Tác giả khảo sát cách chuyển dịch trong Từ điển thuật ngữ báo chí - xuất bản Anh - Nga - Việt (2010), các giáo trình và bài báo nghiệp vụ.
- Kết quả khảo sát cho thấy những bất cập còn tồn tại:
- Tồn tại quá nhiều biến thể dịch tương đương cho cùng một thuật ngữ tiếng Anh gốc, gây lúng túng cho người sử dụng;
- Lạm dụng hình thức dịch giải thích dài dòng (vượt quá 4-5 từ), làm mất tính cô đọng, ngắn gọn và phá vỡ cấu trúc hoàn chỉnh của thuật ngữ khoa học;
- Chưa phân định rõ ranh giới giữa thuật ngữ chuyên ngành với danh pháp và từ ngữ thông thường.
2. Các phương thức chuyển dịch TNBC tiếng Anh sang tiếng Việt (Bảng 3.1)
Luận án phân tích và hệ thống hóa các phương thức chuyển dịch chính:
- Phương thức dịch nghĩa / sao phỏng (Calque / Literal translation): Dịch tương đương từng thành tố theo trật tự ngữ pháp tiếng Việt. Đây là phương thức chiếm tỷ lệ cao nhất và được ưu tiên sử dụng nhằm bảo đảm tính dân tộc và tính chuẩn xác của tiếng Việt (ví dụ: investigative journalism $\rightarrow$ báo chí điều tra).
- Phương thức mượn nguyên dạng (Transference / Borrowing): Giữ nguyên hình thức chữ viết gốc tiếng Anh, áp dụng cho các thuật ngữ quốc tế hóa cao hoặc thuật ngữ công nghệ mới chưa có từ tiếng Việt tương đương ngắn gọn (ví dụ: internet, website, MC, format, talk show).
- Phương thức phiên âm / Việt hóa: Chuyển đổi ngữ âm và chữ viết sang tiếng Việt (thường áp dụng cho các thuật ngữ đã mượn từ lâu qua tiếng Pháp/Anh như: tít, măng-sét, ma-két, ca-mê-ra).
- Phương thức dịch giải nghĩa kết hợp định danh mới: Rút gọn nội hàm khái niệm thành cụm từ định danh cô đọng bằng tiếng Việt thay vì diễn giải câu dài.
3. Yêu cầu và nguyên tắc tương đương dịch thuật
Tác giả đề xuất các yêu cầu bắt buộc khi chuyển dịch TNBC tiếng Anh sang tiếng Việt:
- Đảm bảo tính chính xác tuyệt đối về mặt khái niệm chuyên môn khoa học báo chí;
- Đảm bảo tính ngắn gọn, cô đọng về mặt hình thức;
- Đảm bảo tính hệ thống và khả năng phái sinh của thuật ngữ trong tiếng Việt;
- Tuân thủ chuẩn mực ngữ pháp, quy tắc kết hợp từ của tiếng Việt và tôn trọng thói quen sử dụng của giới làm báo chuyên nghiệp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu đầu tiên ở Việt Nam về đối chiếu thuật ngữ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt trên cả hai phương diện: đặc điểm cấu tạo ngữ pháp và cơ chế định danh ngữ nghĩa.
- Góp phần bổ sung và hoàn thiện khung lý thuyết về thuật ngữ học chuyên ngành tại Việt Nam, đặc biệt là việc ứng dụng lý thuyết thành tố và mô hình định danh vào phân tích đối chiếu ngôn ngữ biến hình (tiếng Anh) với ngôn ngữ đơn lập (tiếng Việt).
- Xác lập hệ thống 5 phạm trù ngữ nghĩa tiêu biểu của thuật ngữ báo chí, cung cấp tiêu chí phân loại khoa học cho việc nghiên cứu liên ngành giữa Ngôn ngữ học và Báo chí học.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Xử lý, thống kê và cung cấp một tập ngữ liệu thực chứng có giá trị gồm 1.868 cặp thuật ngữ báo chí đối chiếu Anh - Việt.
- Đánh giá khách quan thực trạng dịch thuật ngữ báo chí hiện nay, chỉ ra những hạn chế cố hữu về tính thiếu thống nhất và diễn giải dài dòng trong các từ điển đối chiếu.
- Đề xuất hệ thống các phương thức chuyển dịch khoa học, hợp lý, có tính ứng dụng trực tiếp vào công tác biên soạn từ điển chuyên ngành báo chí Anh - Việt và Nga - Anh - Việt.
- Cung cấp tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành báo chí - truyền thông tại các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Cần có sự phối hợp liên ngành giữa các nhà ngôn ngữ học và các chuyên gia báo chí để rà soát, chỉnh lý và chuẩn hóa hệ thống TNBC tiếng Việt hiện nay theo các tiêu chuẩn khoa học, quốc tế và dân tộc.
- Các cơ quan thông tấn, báo chí và nhà xuất bản cần thống nhất quy chuẩn dịch thuật đối với các thuật ngữ mới phát sinh từ môi trường truyền thông số và internet, tránh tình trạng dịch tùy tiện hoặc phiên âm thiếu nhất quán.
- Cần biên soạn một bộ từ điển thuật ngữ báo chí Anh - Việt hoàn chỉnh, chuẩn mực, có định nghĩa khái niệm rõ ràng để dùng chung cho giới báo chí và các trường đào tạo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Về phạm vi ngữ liệu: Luận án chủ yếu khảo sát ngữ liệu từ cuốn từ điển xuất bản năm 2010 và một số giáo trình, bài báo chuyên ngành tuyển chọn; dung lượng thuật ngữ mới thuộc lĩnh vực báo chí kỹ thuật số, đa phương tiện và mạng xã hội mới xuất hiện trong những năm gần đây chưa được cập nhật toàn diện.
- Về giới hạn cấu tạo: Luận án chỉ tập trung khảo sát các thuật ngữ có cấu tạo từ 1 đến 4 thành tố, loại bỏ các kết cấu phức hợp từ 5 thành tố trở lên (do coi đó là các cụm từ giải thích), vì vậy chưa bao quát hết một số cách định danh dạng cụm kết cấu dài trong thực tế.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi đối chiếu sang hệ thống thuật ngữ báo chí đa phương tiện, báo chí dữ liệu và truyền thông xã hội hiện đại.
- Nghiên cứu sâu hơn về bình diện ngữ dụng học và tần suất hoạt động thực tế của các thuật ngữ báo chí được chuyển dịch trong các văn bản báo chí tiếng Việt hiện đại.
- Ứng dụng kết quả đối chiếu để xây dựng cơ sở dữ liệu thuật ngữ báo chí điện tử phục vụ dịch tự động và tra cứu trực tuyến.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu ngôn ngữ học: Tham khảo khung lý thuyết đối chiếu thuật ngữ Anh - Việt, phương pháp phân tích thành tố cấu tạo và phương thức định danh chuyên ngành.
- Giảng viên và sinh viên ngành Báo chí - Truyền thông: Sử dụng làm tài liệu học tập, giảng dạy môn Tiếng Anh chuyên ngành báo chí và môn Ngôn ngữ báo chí tại các cơ sở như Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Trường ĐHKHXH&NV, Trường Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình...
- Biên tập viên, phóng viên, dịch giả tin tức quốc tế tại các cơ quan báo chí, thông tấn: Tra cứu và lựa chọn các phương án chuyển dịch thuật ngữ báo chí tiếng Anh sang tiếng Việt chuẩn xác, ngắn gọn, phù hợp với nghiệp vụ làm báo hiện đại.
- Các nhà biên soạn từ điển: Tham khảo cấu trúc đối chiếu và các đề xuất chuẩn hóa thuật ngữ phục vụ việc biên soạn các cuốn từ điển thuật ngữ báo chí - truyền thông song ngữ hoặc đa ngữ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân loại hệ thống thuật ngữ báo chí thành những phạm trù ngữ nghĩa nào?
Luận án tổng hợp và xác định 5 phạm trù ngữ nghĩa tiêu biểu của ngành báo chí để khảo sát gồm:
- Chủ thể trực tiếp hoạt động báo chí và công chúng báo chí;
- Sản phẩm báo chí;
- Nguyên liệu chi tiết cấu thành sản phẩm báo chí;
- Phương tiện - kỹ thuật trong hoạt động báo chí;
- Hoạt động báo chí.
2. Quy mô ngữ liệu thực nghiệm của luận án là bao nhiêu và được lấy từ nguồn nào?
Ngữ liệu khảo sát của luận án gồm 1.868 thuật ngữ báo chí tiếng Anh và 1.868 thuật ngữ báo chí tiếng Việt tương ứng. Nguồn ngữ liệu chính được trích xuất từ cuốn Từ điển thuật ngữ báo chí - xuất bản Anh - Nga - Việt (Quang Đạm, Nguyễn Khắc Văn, Lê Thanh Hương, Nguyễn Trí Dũng, Nxb Thông tin và Truyền thông, 2010), kết hợp với các giáo trình chuyên ngành báo chí của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Trường ĐHKHXH&NV (ĐHQG Hà Nội), Trường CĐ Phát thanh - Truyền hình I và Tạp chí Người làm báo.
3. Đơn vị cơ sở nào được tác giả lựa chọn để phân tích và đối chiếu cấu tạo thuật ngữ giữa hai ngôn ngữ?
Tác giả sử dụng khái niệm "thành tố" (dựa trên quan điểm phân tích từ và đoản ngữ của nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tài Cẩn) làm đơn vị cơ sở chung. Thành tố là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa tham gia cấu tạo nên thuật ngữ, giúp giải quyết sự khác biệt về loại hình giữa ngôn ngữ biến hình (tiếng Anh) và ngôn ngữ đơn lập không biến hình (tiếng Việt).
4. Tác giả xác lập những tiêu chuẩn bắt buộc nào đối với một thuật ngữ khoa học?
Luận án xác lập 3 tiêu chuẩn:
- Tính khoa học (tiêu chuẩn bắt buộc cao nhất, gồm: tính chính xác, tính hệ thống và tính ngắn gọn);
- Tính quốc tế (tiêu chuẩn bắt buộc, bảo đảm sự tương đồng về khái niệm khoa học chung của nhân loại);
- Tính dân tộc (tiêu chuẩn không tuyệt đối bắt buộc cho mọi lĩnh vực, thể hiện qua việc tuân thủ các quy tắc ngữ âm, chữ viết và ngữ pháp của tiếng Việt).
5. Thực trạng chuyển dịch thuật ngữ báo chí tiếng Anh sang tiếng Việt bộc lộ những bất cập chính nào?
Thực trạng khảo sát cho thấy 3 bất cập lớn: (1) một thuật ngữ tiếng Anh có quá nhiều biến thể dịch tiếng Việt không thống nhất; (2) nhiều thuật ngữ bị dịch theo lối giải thích khái niệm dài dòng làm mất tính ngắn gọn và phá vỡ cấu trúc hình thức của thuật ngữ; (3) có sự nhầm lẫn giữa thuật ngữ khoa học với danh pháp chuyên ngành và từ ngữ giao tiếp thông thường.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Đức Đạo là một công trình nghiên cứu ngôn ngữ học đối chiếu có hệ thống về thuật ngữ báo chí tiếng Anh và tiếng Việt dựa trên 1.868 cặp thuật ngữ thực nghiệm. Công trình đã làm sáng tỏ các mô hình cấu tạo hình thức, cơ chế định danh ngữ nghĩa qua 5 phạm trù báo chí học, đồng thời chỉ ra những đặc trưng tương đồng và khác biệt do loại hình ngôn ngữ chi phối. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học xác đáng cho việc chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ báo chí tiếng Việt, đề xuất các phương thức chuyển dịch thuật ngữ chuẩn xác và có giá trị ứng dụng thiết thực trong hoạt động nghiệp vụ báo chí cũng như đào tạo chuyên ngành truyền thông tại Việt Nam.