đặt vấn đề nghiên cứu câu bị động tiếng Anh và câu bị động tiếng Việt trong cả trạng thái động lẫn trạng thái tĩnh, tức xem xét câu bị động tiếng Anh và câu bị động tiếng Việt tồn tại trên văn bản với tư cách là một sản phẩm mang cơ chế tuyến tính đã có sẵn, và xem xét câu ở trạng thái động, tức câu trong văn bản với tư cách là sản phẩm của quá trình chuyển tiếp sự kiện – tình thái trong tư duy sang sự kiện – tình thái trong lời. Rõ ràng, trạng thái tĩnh và động của hiện tượng ngôn ngữ thuộc nhiều cấp độ khác nhau, tùy thuộc vào loại đơn vị ngôn ngữ nào được xét đến. Theo Ngữ pháp truyền thống, câu được hiểu như đơn vị ngữ pháp lớn nhất (là đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp học). Bên cạnh đó, câu còn được hiểu là đơn vị được làm thành từ một mệnh đề (mà mệnh đề lại là thuật ngữ của logic và đơn vị nhỏ nhất có thể dùng để giao tiếp là câu), vì thế có thể hiểu câu là mệnh đề theo cách nhìn của ngôn ngữ học.
Cho thấy định nghĩa câu là mệnh đề được thể hiện bằng ngôn ngữ của tác giả E. Sapir (1949) [107] là hoàn toàn có thể chấp nhận được. Về việc định nghĩa câu, cho đến nay có khá nhiều điểm khác nhau. Theo sự thống kê của các chuyên gia ngôn ngữ học thì có hơn 300 định nghĩa khác nhau về câu.
Có thể qui về những hướng quan sát sau đây: 12 (i) Dựa vào hoạt động giao tiếp, theo định nghĩa của tác giả A. Meillet, tác giả Trương Văn Chình (1963) cho rằng: “Câu là tổ hợp tiếng dùng để diễn tả một sự tình hay nhiều sự tình có quan hệ với nhau, tổ hợp ấy tự nó tương đối đầy đủ ý nghĩa, và không phụ thuộc về ngữ pháp vào một tổ hợp nào khác.476] (ii) Dựa vào hành động phát ngôn, tác giả E. Sapir (1949) [107] đã có ý kiến câu là một hành động ngôn ngữ diễn đạt một hành động của tư duy. Việc phân loại câu theo cấu trúc nghĩa, cấu trúc Đề – Thuyết dựa trên định hướng triển khai của tư duy.
Tư duy chọn cái gì làm xuất phát điểm, đó là phần Đề, còn tư duy triển khai cái gì thì đó là phần Thuyết. Tác giả Cao Xuân Hạo và các học trò của tác giả cũng đã theo hướng phân tích ngữ nghĩa này. (iii) Theo quan điểm của Ngữ pháp truyền thống, các nhà Ngôn ngữ học dựa vào các tiêu chí sau đây: - Về tiêu chí hình thức, hai tác giả N. Thompson (1976) cho rằng: Ở trong tiếng Việt, các câu được tách ra khỏi nhau bởi những ngữ điệu kết thúc.
Một đoạn có một hay nhiều nhóm nghĩa, kết thúc bằng một ngữ điệu kết thúc hay đứng sau một sự im lặng hay tiếp một đoạn khác cũng như vậy là một câu. Sự độc lập của những yếu tố như vậy là một câu. Sự đối lập của những yếu tố như vậy được phù hiệu hóa trong chữ viết bởi cách dùng một chữ hoa ở đầu câu và một dấu kết thúc (dấu chấm, dấu hỏi, dấu chấm than ở cuối câu).85] Nhìn chung định nghĩa này chỉ đơn thuần dựa trên tiêu chí hình thức mà bỏ qua tiêu chí ý nghĩa cũng như cấu tạo của câu. - Về tiêu chí ý nghĩa, các tác giả Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Phan Thiều, Lê Cận, Hoàng Văn Thung, Hồ Lê, Hồng Dân, … đại diện cho khuynh hướng xem hình thức - ngữ nghĩa là cơ sở cho việc tạo câu vì thế dựa vào định nghĩa của tác giả V.Vinogradov, tác giả Nguyễn Kim Thản (1997c) cho rằng: “Câu không phải là những đơn vị sẵn có của ngôn ngữ, nó là những tổ hợp được 13 thành lập khi con người vận dụng ngôn ngữ để tư duy, giao tiếp hay truyền đạt tư tưởng, tình cảm, thái độ.
Sự vận dụng ngôn ngữ như thế chính là lời nói.501-506] và tác giả đã đưa ra ba đặc điểm để đề cập đến việc cấu tạo câu là: Tính hoàn chỉnh không tách rời hoàn cảnh ngôn ngữ; Tính không tách rời qui tắc ngữ pháp của một ngôn ngữ; Câu phải có ngữ điệu kết thúc. - Về tiêu chí cấu tạo, theo tác giả Diệp Quang Ban (2000a): “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ. Theo Ủy Ban Khoa Học Việt Nam (1983) cũng cho rằng: “Câu là đơn vị dùng từ hay đúng hơn dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình tư duy, thông báo; Nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp và có tính chất độc lập.
Nhìn chung các tác giả trên đều quan tâm đến ba tiêu chí: Tiêu chí hình thức; Tiêu chí ý nghĩa; Tiêu chí cấu tạo nhưng chưa đề cập đến mối quan hệ với người sử dụng, vì vậy trong quá trình nghiên cứu về câu trong tiếng Việt và tiếng Anh, chúng tôi nhận thấy câu là đơn vị dùng từ hay ngữ đặt ra trong quá trình tư duy và luôn gắn với một ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái độ, truyền đạt tư tưởng, tình cảm của người nói. Câu có cấu tạo ngữ pháp đôc lập và có ngữ điệu kết thúc. Từ góc nhìn ba bình diện: bình diện kết học; bình diện nghĩa học; bình diện dụng học, chúng ta nhận thấy: - Trên bình diện kết học, câu là một đơn vị cấu trúc (một tổ chức hình thức) độc lập bao gồm các yếu tố là các ngữ đoạn và mối quan hệ giữa các yếu tố qui định chức năng cho từng yếu tố. - Trên bình diện nghĩa học, tổ chức hình thái của câu biểu đạt một nhận định của tư duy, tức là biểu đạt một mệnh đề - một tư tưởng tương đối trọn vẹn về mặt ý nghĩa nên có chức năng thông báo.
- Trên bình diện dụng học, câu được hình thành thông qua người nói, tức thông qua sự nhận thức của chủ thể nói năng đối với hiện thực. Nhờ vậy, ngoài việc biểu 14 hiện ý nghĩa khách quan của thực tại, câu còn biểu hiện ý nghĩa sắc thái mang tính chủ quan của người nói trong việc nhận thức, đánh giá thực tại và trong cách thức phát ngôn thông báo nhằm mục đích giao tiếp nhất định. Như vậy, câu là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, là sản phẩm được tạo ra để phục vụ mục đích giao tiếp và là một trong những đơn vị không có sẵn (so sánh với âm vị, âm tiết, hình vị, từ, ngữ cố định, thành ngữ là những đơn vị có sẵn, ngữ tự do). Câu do các đơn vị có sẵn kết hợp theo các qui tắc ngữ pháp tạo thành.
Câu có cấu tạo ngữ pháp nhất định và là một chỉnh thể ngữ pháp độc lập với ngữ điệu thể hiện riêng. Ngữ điệu kết thúc khi phát ngôn câu là dấu hiệu kết thúc câu. Câu chứa đựng một nội dung thông báo như: Phản ánh hiện thực hoặc truyền đạt những thái độ, tình cảm, ý định, … của người nói đối với giao tiếp, đồng thời thể hiện thái độ chủ quan của người nói đối với hiện thực, với đối tượng giao tiếp. Đó là tính tình thái của câu, là dấu hiệu quan trọng để nhận diện câu.
Chức năng thông báo là chức năng của câu và các đơn vị trên câu. Nói cách khác, những đơn vị và các kết cấu ngữ pháp nào không có chức năng thông báo thì chưa phải là câu. Câu có thể được xem xét theo hai mặt: Một mặt câu do các đơn vị và các kết cấu ngữ pháp tạo thành, thuộc hệ thống kết cấu của ngôn ngữ. Mặt khác câu thực hiện chức năng giao tiếp của ngôn ngữ, là sản phẩm của hoạt động giao tiếp thuộc lời nói.
Căn cứ vào hai mặt trên, câu được phân loại ra theo hai hướng: Hướng cấu tạo ngữ pháp, tức là các kiểu kết cấu, tạo thành câu trong hệ thống ngôn ngữ và hướng mục đích pháp ngôn, tức là các kiểu câu thực hiện các chức năng giao tiếp nhất định. Việc phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp Việc phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp có lẽ là một trong những vấn đề gây nhiều tranh luận trong nhiều thập niên qua. Như chúng ta đã biết, để phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp, các công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt và các tài liệu khác thường dựa vào các tiêu chí sau: 1. Tiêu chí hình thức a.
Dựa vào cụm Chủ – Vị 15 Lien quan đến câu bị động tiếng Anh và câu bị động trong tiếng Việt, Ngữ pháp học truyền thống cho rằng cụm Chủ – Vị là cơ sở để xây dựng mệnh đề và dựa vào số lượng mệnh đề trong câu để phân loại câu, trong đó vị ngữ là thành phần không thể thiếu được. Tác giả Hoàng Tuệ (1992) cho rằng câu tiếng Việt có kết cấu nền tảng là cụm Chủ – Vị. Câu chỉ có một mệnh đề là câu đơn, câu có từ hai mệnh đề trở lên là câu ghép. Nhưng với những câu có mô hình cấu tạo như nhau hay những câu không phải là mệnh đề như: “Cháy!”; “Mùa thu năm 1946”; … thì không thể xếp vào loại câu đơn hay câu ghép được mà tác giả gọi là “câu đơn bổ cú” [65, tr.
Cũng dựa vào số lượng cụm Chủ – Vị làm nòng cốt, mà mỗi phần Chu, phần Vị của nó đảm nhiệm vai trò là thành phần chính trong câu, cụm Chủ – Vị nào chỉ đóng vai trò của một thành phần trong câu đều không phải là cụm Chủ – Vị trong câu để phân loại câu. Câu có một cụm Chủ – Vị làm nòng cốt thì đó là câu đơn, câu có từ hai cụm Chủ – Vị trở lên làm nòng cốt thì đó là câu phức hay câu ghép. Các tác giả Hoàng Tuệ, Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, … tuy không tuyên bố là dựa vào số lượng của cụm Chủ – Vị làm nòng cốt trong câu để phân loại câu nhưng trên thực tế thì có dựa vào hướng phân loại này. Dù vậy, quan điểm của các tác giả này vẫn có điểm không thống nhất.
Các tác giả Hoàng Tuệ, Lê Cận, Cù Đình Tú (1992) [66] chú ý đến câu phức hợp mà giữa các mệnh đề có những quan hệ nhất định về ý nghĩa (điều kiện, giả thiết, …) và những đặc trưng nhất định về hình thức (ngắt đoạn, có tín hiệu, …).