CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TIỀN ĐỀ THỰC TIỄN CỦA DOANH NHÂN VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 1. Doanh nhân và khái niệm doanh nhân trong phạm vi luận văn Doanh nhân là một thuật ngữ dù xuất hiện rất lâu nhưng tới Đại hội X (2006), Đảng Cộng sản Việt Nam mới sử dụng một cách chính thức. Một thời gian dài duy trì nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa đã khiến các thành phần kinh tế phi tập thể, phi nhà nước không được khuyến khích, nhìn nhận trong đời sống chính trị - kinh tế ở Việt Nam. Đi kèm với hiện tượng này là việc dùng các thuật ngữ khác nhau trong quá trình nhận diện và nghiên cứu về thành phần kinh tế tư nhân trong quá trình lịch sử.
Từ sau Đại hội VI đến Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam, lực lượng này được gọi bằng các tên gọi khác nhau như kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (Đại hội VI); tiểu chủ, nhà kinh doanh (Đại hội VII); nhà doanh nghiệp tư nhân, nhà quản trị sản xuất doanh nghiệp (Đại hội VIII); nhà doanh nghiệp, nhà kinh doanh (Đại hội IX),… (xem thêm ĐCS, 2013). Đại hội VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam được xem là kỳ đại hội đánh dấu quá trình đổi mới về tư duy và quản lý kinh tế, chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường. Bên cạnh kinh tế nhà nước và tập thể, các thành phần kinh tế khác gồm có kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa (thợ thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước (ĐCS, 2013, tr. Từ quan điểm mở đường này, đến năm 1990, Luật Doanh nghiệp tư nhân được ra đời đánh dấu quá trình pháp lý hóa việc thừa nhận và quản lý doanh nghiệp tư nhân.
Văn bản này đã định nghĩa đối tượng được điều chỉnh bởi Luật như sau: “Doanh nghiệp tư nhân là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định, do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. “Kinh doanh" nói trong Luật này là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” (Quốc hội, 1990, tr. Nội hàm “kinh doanh” của Luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990 đã được Luật Doanh nghiệp các năm 2005, 2014 kế thừa. Khái niệm kinh doanh của các văn bản luật này đã tương ứng với các khâu của quy trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa: đầu tư, sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm nhằm mục đích sinh lợi.
Vì thế, các đối tượng 21 thuộc nội hàm doanh nhân của các văn bản luật này là những cá nhân hoặc tổ chức kinh tế ngoài nhà nước hoạt động trong các lĩnh vực tài chính, dịch vụ, thương mại, sản xuất và phân phối hàng hóa. Khái niệm này đã có sự kế thừa các quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin về giai cấp tư sản nhưng có sự điều chỉnh cho phù hợp trong thời kì quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam những năm đầu sau Đổi mới. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848) bản tiếng Anh in năm 1888, Engles đã định nghĩa giai cấp tư sản như sau: “giai cấp tư sản được định nghĩa ở đây là những người tư sản hiện đại, họ sở hữu tư liệu sản xuất chính của xã hội và những người lao động làm thuê. Theo chủ nghĩa Marx, tài sản và của cải của giai cấp tư sản có được là từ bóc lột đối với lao động làm thuê.
Marx và Engles đã đánh giá bản chất của sự bóc lột này là “đem sự bóc lột công nhiên, vô sỉ, trực tiếp, tàn nhẫn thay cho sự bóc lột được che đậy bằng những ảo tưởng tôn giáo và chính trị” (Mác – Ăngghen, 1995, tr. Mục tiêu của giai cấp này là không ngừng tìm kiếm lợi nhuận. Trong một tác phẩm nghiên cứu nổi tiếng về chủ nghĩa tư bản, Max Weber (2008) đã bàn về “tính sinh lợi” của giai cấp này như sau: “Chủ nghĩa tư bản đồng nghĩa với việc đi tìm lợi nhuận [gewinn] trong những doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa liên tục và thuần lý: đi tìm một lợi nhuận luôn luôn tái sinh, đi tìm “tính sinh lợi” [rentabilität]. Vì nó buộc phải như thế.
Khi mà toàn bộ nền kinh tế nằm trong trật tự tư bản chủ nghĩa, thì bất cứ một doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa riêng lẻ nào không tự định hướng mình theo mục tiêu đạt được tính sinh lợi thì chỉ có nước tiêu vong.51) Một thời gian dài, thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại được soi chiếu dưới lăng kính “đấu tranh giai cấp” và phục vụ cho công cuộc xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa theo mô hình Soviet của Liên Xô đã khiến cho những nhìn nhận, đánh giá về thành phần kinh tế tư nhân (tư sản) trở nên thiên lệch, không thỏa đáng, nhất là trong điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam chưa trải qua quá trình công nghiệp hóa hiện đại như Tây Âu. Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê (2003) chủ biên đã định nghĩa về tư sản là những “người thuộc giai cấp chiếm hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu và làm giàu bằng bóc lột lao động làm thuê” (tr. Giai cấp tư bản và chủ nghĩa tư bản thoát thai từ những tiền đề đã được tích lũy qua hàng trăm năm dưới thời phong kiến của châu Âu. Có thể thấy, dù nền kinh tế hàng hóa đã xuất hiện từ lâu đời và có những nền kinh tế có tính thương mại hóa cao độ như La Mã, Trung Hoa trong thời kì giao thương phát triển qua những con đường tơ lụa hoặc 22 hương liệu giữa phương Đông và phương Tây nhưng các nền kinh tế này đã không thể phát triển lên phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Lợi nhuận từ thương mại và nông nghiệp khiến cho các quốc gia cổ đại không nghĩ đến việc đầu tư cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động để đem đến lợi nhuận (Ulrike Herrmann, 2014, tr. Chỉ đến thế kỷ thứ XVI-XVII ở châu Âu, khi công trường thủ công dần phát triển và chuyển đổi thành các đại công trường thủ công hiện đại với sự phân công lao động dựa trên chuyên môn hóa công cụ thay thế cho hình thức phân công lao động dựa vào kinh nghiệm (Mác – Ăngghen, 2002, tr. Mô hình công trường thủ công hiện đại dẫn đến sự ra đời của các công xưởng. Nhưng rồi chính mô hình này cũng nhanh chóng bị đào thải khi không thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường ngày càng mở rộng trong thời kì bành trướng của chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới.
Một hình thức khác ra đời, nền sản xuất công nghiệp với sự phát triển của máy móc thay thế cho sức lao động của con người vào cuối thế kỷ XVIII với cuộc Cách mạng công nghiệp lần I ở Anh. Và tư sản công nghiệp ra đời: “Đại công nghiệp hiện đại thay thế cho công trường thủ công; tầng lớp kinh doanh công nghiệp trung đẳng nhường chỗ cho các nhà công nghiệp triệu phú, cho những kẻ cầm đầu cả hàng loạt đạo quân công nghiệp, những tên tư sản hiện đại” (Mác – Ăngghen, 1995, tr. Bên cạnh tư sản công nghiệp, Marx đã chỉ ra các hình thức tư bản đã xuất hiện và tồn tại từ thời kì trung cổ cho đến ngày nay là tư bản cho vay nặng lãi và tư bản thương nhân (Mác – Ăngghen, 2002, tr. Nhưng vì sao các tư bản này không thể phát triển thành tư bản công nghiệp như thế kỷ XVIII? Marx cho rằng chế độ phường hội ở thành thị và phong kiến ở nông thôn phương Tây đã cản trở việc tư bản tiền tệ chuyển hóa thành tư bản công nghiệp.
Khi những sự cản trở về thể chế chính trị bị phá bỏ thì dẫn đến sự ra đời của tư bản công nghiệp. Sự phát triển và hình thành chủ nghĩa tư bản này ở châu Âu được vận động từ dưới đi lên, từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng mà Marx gọi đó “sản phảm của một quá trình phát triển lâu dài” (Mác - Ăngghen, 1995, tr. Lên án gay gắt sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản đối với giai cấp vô sản cũng như lối làm ăn chạy theo lợi nhuận một cách lạnh lùng và “tiền trao cháo múc” (“cash payment”) của chủ nghĩa tư bản nhưng Marx và Engles cũng đã phải thừa nhận những đóng góp nhất định của phương thức này đối với sự phát triển của nhân loại: “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại. Sự chinh phục những lực lượng thiên nhiên, sự sản xuất bằng máy móc, việc áp dụng hóa học vào công nghiệp và nông nghiệp, việc 23 dùng tầu chạy bằng hơi nước, đường sắt, máy điện báo, việc khai phá từng lục địa nguyên vẹn, việc khai thông các dòng sông cho tầu bè đi lại được, hàng khối dân cư tựa hồ như từ dưới đất trời lên, có thế kỷ nào trước đây lại ngờ được rằng có những lực lượng sản xuất như thế vẫn nằm tiềm tàng trong lòng xã hội!” (Mác – Ăngghen, 1995, tr.603) Đó là những kết quả nghiên cứu, đúc kết của Marx và Engles về quá trình hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản dựa trên sự vận động chủ yếu của lịch sử châu Âu.
Trong khi đó ở châu Á, do những tính chất đặc thù, đặc biệt là sự tồn tại dai dẳng của các công xã nông thôn và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất đã không dẫn dến sự hình thành của chủ nghĩa tư bản theo con đường từ dưới lên như xã hội phương Tây. Dù các xã hội phương Đông cổ đại có nền thương nghiệp phát triển rất sớm và mạnh cũng như là nơi ra đời các phát minh quan trọng của thế giới cổ trung đại như la bàn, thuốc súng, kỹ thuật in, giấy, số 0… nhưng đến thời kì cận đại, các nước phương Đông đã trở nên tụt hậu hơn so với các nước phương Tây đang bước vào thời kì sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới gọi hiện tượng này là Nhánh rẽ lớn (The great divergence) (Ulrike Herrmann, 2014, tr.