CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1. ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm lợi nhuận Mục tiêu truyền thống và quan trọng của một chủ Công ty theo lý thuyết là đạt tối đa hóa lợi nhuận và giả thuyết này rất bền vững. Nó vẫn tạo nên cơ sở của rất nhiều lý thuyết của kinh tế vi mô.
Về lịch sử mà nói những nhà kinh tế trong các phân tích của học về Công ty đều lấy lợi nhuận làm mục đích cuối cùng.Tuy nhiên có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học trước Marx “cái phần trội nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận”. Karl Marx cho rằng “giá trị thặng dư hay phần trội lên trong toàn bộ giá trị của hàng hóa trong đó lao động thặng dư chính là lao động không được trả công của công nhân đã được vật hóa thì tôi gọi là lợi nhuận”. Nhà kinh tế học hiện đại P.Nordhaus thì định nghĩa rằng: “Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số đã chi ra” hoặc cụ thể hơn là “Lợi nhuận được định nghĩa như là một khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập của một Công ty và tổng chi phí” (Kinh tế học, tập 1 – P.Samuelson) Vậy, lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp.
Từ góc độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp Luan van 9 có thể thấy rằng: lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại. Theo chuẩn mực kế toán VAS01 – Chuẩn mực chung, lợi nhuận kế toán là: thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí. Như vậy, đo lường lợi nhuận kế toán thực chất là đo lường doanh thu, chi phí kế toán.
Các nguyên tắc kế toán liên quan đến việc xác định lợi nhuận Theo tài liệu “Lợi nhuận và chính sách kế toán của doanh nghiệp” của Nguyễn Công Phương (2011) thì có ba nguyên tắc liên quan đến việc đo lường lợi nhuận. Cụ thể - Nguyên tắc ghi nhận doanh thu: “Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy. Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán của kỳ đó. Kết quả của doanh thu bán hàng được xác định khi thỏa mãn tất cả năm điều kiện sau: + Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua; + Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; + Doanh thu đã được xác định tương đối chắc chắn; + Doanh nghiệp đã thu hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch Luan van 10 bán hàng; + Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
Trường hợp giao dịch về bán hàng thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của dịch vụ trong từng kỳ thường được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành. Theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phần công việc đã hoàn thành. Doanh thu bán hàng chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch. Khi không thể thu hồi được khoản doanh thu đã ghi nhận thì phải hạch toán vào chi phí mà không được ghi giảm doanh thu.
Khi không chắc chắn thu hồi được một khoản mà trước đó đã ghi vào doanh thu (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu. Khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi” (Theo chuẩn mực kế toán VAS14 - Doanh thu và thu nhập khác) - Nguyên tắc phù hợp: “Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó” (Theo chuẩn mực kế toán VAS01- Chuẩn mực chung).
- Nguyên tắc thận trọng: “Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, có những phán đoán cần thiết để lập các ước tính trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng yêu cầu việc ghi tăng vốn chủ hữu chỉ được thực hiện khi có bằng chứng chắc chắn, còn việc ghi giảm giá vốn Luan van 11 chủ sở hữu được ghi nhận từ khi có chứng cứ về khả năng có thể xảy ra. Vận dụng nguyên tắc thận trọng để đo lường lợi nhuận thể hiện: + Ghi nhận ngay chi phí phát sinh trong kỳ khi chi phí này không mang lại lợi ích (không làm giảm vốn chủ sở hữu), ví dụ như: lập dự phòng, tiền phạt,… + Ghi nhận ngay chi phí phát sinh trong kỳ khi chi phí này mang lại lợi ích trong tương lai, nhưng không thể đo lường lợi ích đáng tin cậy, ví dụ như: chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi vay (không được vốn hóa),… Tuân thủ nguyên tắc thận trọng sẽ giúp cho doanh nghiệp bảo toàn nguồn vốn, hạn chế rủi ro và khả năng hoạt động liên tục.” (Theo chuẩn mực kế toán VAS 01 – Chuẩn mực chung) Lợi nhuận được xác định trên phải tuân thủ nguyên tắc ghi nhận doanh thu, nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc thận trọng. Trình tự các bước để xác định lợi nhuận là: i) Xác định doanh thu tuân theo nguyên tắc ghi nhận doanh thu; ii) Xác định chi phí tuân theo nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc thận trọng.
ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1. Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng a. Đặc điểm về sản xuất kinh doanh trong xây dựng Theo Thúy Phượng (2006) về “Đặc điểm sản xuất xây lắp có ảnh hưởng đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp”, xây dựng là một ngành sản xuất có tính chất công nghiệp giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và cũng là ngành sản xuất công Luan van 12 nghiệp đặc biệt, chính đặc điểm khác biệt này đã tác động lớn đến công tác kế toán trong doanh nghiệp nói chung và công tác đo lường lợi nhuận nói riêng. Điều này được thể hiện: - Sản phẩm xây dựng là sản phẩm mang tính đơn chiếc, riêng lẻ.
Mỗi sản phẩm xây dựng là một công trình hoặc hạng mục công trình riêng biệt, có yêu cầu riêng về mặt thiết kế, mỹ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng khác nhau, không sản phẩm nào giống sản phẩm nào. Chính vì vậy, mỗi sản phẩm xây dựng đều có yêu cầu về tổ chức thi công và biện pháp thi công phù hợp với đặc điểm của từng công trình cụ thể, do đó yêu cầu quản lý và hạch toán doanh thu và chi phí cũng được tính cho từng sản phẩm xây dựng riêng biệt. Điều này đòi hỏi công tác tập hợp chi phí sản xuất thực tế phải bám sát chi phí sản xuất dự toán cho từng công trình, hạng mục công trình. - Sản phẩm xây dựng thường có giá trị lớn và thời gian thi công công trình tương đối dài.
Các công trình xây dựng thường có thời gian thi công rất dài, thường là trên một năm, thậm chí có những công trình kéo dài hàng chục năm. Điều này tác động rất nhiều đến việc xác định chi phí, doanh thu của HĐXD. Để có thể đảm bảo tính trung thực của thông tin kế toán, đòi hỏi bộ phận kế toán trong doanh nghiệp xây dựng phải có phương pháp tập hợp chi phí, xác định doanh thu phù hợp và thống nhất theo quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành để đảm bảo tính đúng đắn và kịp thời của số liệu kế toán và nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí. - Sản phẩm xây dựng có thời gian sử dụng tương đối dài.
Các công trình xây dựng có thời gian sử dụng tương đối dài nên mọi Luan van 13 sai lầm trong khi thi công đều khó sửa chữa, phải phá đi làm lại. Mặt khác, giá trị công trình lại lớn vì vậy sai lầm trong xây dựng vừa gây lãng phí, vừa để lại hậu quả nghiêm trọng lâu dài và khó khắc phục. Chính vì vậy trong quá trình thi công bên cạnh việc quản lý trên phương diện hạch toán cần tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng công trình. - Sản phẩm xây dựng được sử dụng tại chỗ gắn liền với địa điểm xây dựng, nơi sản xuất chính là nơi tiêu thụ sản phẩm.
Do địa điểm xây dựng luôn thay đổi theo địa bàn thi công nên sẽ có rất nhiều khoản chi phí phát sinh kèm theo như: chi phí điều động nhân công, điều động máy móc thi công, chi phí xây dựng các công trình tạm thời (lán trại, nhà tạm…), chuẩn bị mặt bằng, san dọn mặt bằng sau khi thi công…nên nếu không có biện pháp tổ chức quản lý, thi công tốt sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. - Sản phẩm xây dựng được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư từ trước (giá dự thầu). Giá dự toán (trong chỉ định thầu) hoặc giá dự thầu (trong đấu thầu) là giá bán hay còn gọi là doanh thu của sản phẩm xây dựng. Sự khác biệt lớn nhất giữa các doanh nghiệp xây dựng và các doanh nghiệp khác trong việc xác định giá bán chính là giá dự thầu do các doanh nghiệp xây dựng tham gia đấu thầu tự lập dựa trên hồ sơ thiết kế và các yêu cầu của bên mời thầu, các quy định chung về định mức, đơn giá của Nhà nước, các kinh nghiệm thực tế và ý đồ chiến lược tranh thầu.