Chương 1: Tổng quan Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và bố cục của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày cơ sở lý luận, các lý thuyết nền tảng, lược khảo tài liệu trong và ngoài nước và đề xuất mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu, nghiên cứu sơ bộ, nghiên cứu chính thức, thang đo và phương pháp phân tích dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả nghiên cứu đo lường hiệu quả của việc truyền thông qua mạng xã hội trong học tập của sinh viên trường Đại học An Giang.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày kết luận và các kiến nghị để giúp giảng viên và sinh viên nâng cao hiệu quả truyền thông qua mạng xã hội. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm về hiệu quả Theo Wikipedia “hiệu quả” là khả năng tạo ra kết quả mong muốn hoặc khả năng sản xuất ra sản lượng mong muốn. Khi cái gì đó được coi là có hiệu quả, nó có nghĩa là nó có một kết quả mong muốn hoặc mong đợi, hoặc tạo ra một ấn tượng sâu sắc, sinh động. Theo Đinh Thùy Dung (2022) thì hiệu quả là khả năng tạo ra một kết quả mong muốn hoặc khả năng tạo ra sản lượng mong muốn.
Khi điều gì đó được coi là hiệu quả, điều đó có nghĩa là nó có một kết quả dự kiến hoặc mong đợi, hoặc tạo ra một ấn tượng sâu sắc và sống động.2 Khái niệm về truyền thông Theo Trần Hữu Quang (2009) thì truyền thông là quá trình truyền đạt thông tin. Truyền thông là một dạng hoạt động căn bản của bất cứ một tổ chức nào mang tính chất xã hội. Theo Phan Hương (2021) thì truyền thông là quá trình trao đổi và tương tác các thông tin giữa hai hoặc nhiều người với nhau để tăng sự hiểu biết. Hoặc có thể hiểu là những sản phẩm do chính con người tạo ra và chính là động lực cho sự phát triển của xã hội.3 Khái niệm về mạng xã hội Không có một định nghĩa chung chính thức cho mạng xã hội khi có rất nhiều định nghĩa được đưa ra bởi nhiều nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực với đa góc nhìn và cách diễn đạt khác nhau (Nguyễn Thị Bắc, 2018).
Theo định nghĩa của Fitcher (1957) mạng lưới xã hội (social network) bao gồm nhiều mối quan hệ đôi. Mỗi người trong mạng lưới có liên hệ với ít nhất hai người khác nhưng không ai có liên hệ với tất cả các thành viên khác. Dựa trên định nghĩa đó, Barry Wellman đã định nghĩa: “Khi mạng máy tính kết nối con người, nó là một mạng xã hội” (dẫn theo Nguyễn Thị Bắc, 2018). Ilaria Liccardi và các cộng sự năm 2007 đưa ra một cách hiểu mạng xã hội là cấu trúc của các điểm đại diện cho các cá nhân (hoặc tổ chức) và mối quan hệ giữa họ trong miền nhất định.
Vì vậy, mạng xã hội thường được xây dựng dựa trên độ mạnh của các mối quan hệ và sự tin tưởng giữa các cá nhân. Và mạng xã hội với các ứng dụng kết nối trên máy tính được phát triển với các mục đích là tạo và duy trì mạng lưới xã hội bạn bè online hoặc thực tế đến tái hợp các bạn về trong quá khứ. Boyd và Nicole B. Ellison (2007) thì các trang mạng xã hội là những dịch vụ cho phép các cá nhân xây dựng hồ sơ công khai hoặc bán công khai trong một hệ thống giới hạn, nêu rõ danh 6 sách những người dùng khác mà họ chia sẻ kết nối, xem và duyệt qua danh sách các mối quan hệ của họ và của những người khác, kết nối với nhau, tìm kiếm và chia sẻ thông tin trong hệ thống.
Trần Hữu Luyến và Đặng Hoàng Ngân (2014) đưa ra khái niệm về mạng xã hội là tập hợp các cá nhân với các mối quan hệ một hay nhiều mặt được gắn kết với nhau. Với hướng tiếp cận xã hội, nhấn mạnh yếu tố con người, mạng xã hội được nghiên cứu trên quan hệ cá nhân – Cộng đồng để tạo thành mạng lưới xã hội, mạng lưới xã hội được hiểu là một tập hợp các mối quan hệ giữa các thực thể xã hội gọi là actor… Khi mạng lưới xã hội này được thiết lập và phát triển thông qua phương tiện truyền thông internet, nó được hiểu là mạng xã hội ảo. Như vậy có thể hiểu mạng xã hội là một dịch vụ kết nối các thành viên cùng sở thích trên internet lại với nhau, với nhiều mục đích khác nhau. Khi các cá nhân tham gia vào xã hội ảo thì khoảng cách về không gian địa lý, giới tính, độ tuổi, thời gian trở nên vô nghĩa.
Theo Phạm Kim Oanh (2021) mạng xã hội là một nền tảng trực tuyến, là nơi mà mọi người có thể xây dựng các mối quan hệ ảo với những người có chung tính cách, sở thích, nghề nghiệp… hoặc với cả những người có mối quan hệ ngoài đời thực. Mạng xã hội hiện nay có nhiều dạng thức và tính năng khác nhau, và có thể truy cập dễ dàng từ nhiều phương tiện, thiết bị như máy tính bảng, laptop, điện thoại di động,… Theo Ngọc Thùy (2021) mạng xã hội là một trang web hay nền tảng trực tuyến với nhiều hình thức, tính năng, giúp mọi người dễ dàng kết nối với nhau ở bất cứ nơi nào. Thông qua các quan điểm và định nghĩa về mạng xã hội mà các tác giả nêu ra có thể hiểu mạng xã hội là một mạng lưới liên kết các cá nhân lại với nhau thông qua internet, ở đây người dùng có thể tự xây dựng nội dung nhằm kết nối và tương tác với mọi người thông qua các tính năng mà mạng xã hội cung cấp. Mạng xã hội phát triển mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu của con người khi cung cấp đa dạng các tính năng như nhắn tin, nghe, gọi trực tiếp, gọi qua video, email, phim ảnh, video, chia sẻ blog và khảo sát ý kiến, thảo luận và lập nhóm trao đổi.
Mạng xã hội ra đời là bước ngoặt lớn giúp liên kết mọi người với nhau thuận tiện hơn, trở thành một phần không thể thiếu trong hoạt động sống hằng ngày của mỗi người. Mạng xã hội hỗ trợ trong việc tìm kiếm bạn bè, đối tác dựa theo group như tên trường hoặc tên thành phố hoặc dựa trên thông tin cá nhân hoặc nickname để tìm kiếm bạn bè.4 Khái niệm về truyền thông qua mạng xã hội Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về truyền thông qua mạng xã hội. Theo Kaplan và Haenlein (2009), truyền thông xã hội là “những ứng dụng 7 Internet xây dựng trên nền tảng công nghệ và ý tưởng của Web 2.0, tạo điều kiện cho việc tạo lập và trao đổi thông tin của người dùng”.0 là một thuật ngữ xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2004 để minh họa cách thức mới mà các nhà phát triển phần mềm và người dùng cuối bắt đầu vận hành với World Wide Web. Đó là một nền tảng có nội dung được sửa đổi không phải bởi một cá nhân mà bởi tất cả người dùng theo cách hợp tác.
Ví dụ về các ứng dụng thuộc nhóm Web 2.0 là tất cả các blog, wiki và các dự án cộng tác và Web 2.0 được coi là nền tảng cho sự phát triển của truyền thông xã hội. Truyền thông xã hội là một nhóm các ứng dụng dựa trên nền tảng Web và di động, cho phép người dùng tạo ra, chia sẻ nội dung trong tương tác xã hội trong thời gian thực. Theo Tường Vy (2021) truyền thông mạng xã hội được thiết kế dựa trên nền tảng internet và cung cấp dịch vụ giao tiếp điện tử cho người dùng. Nội dung bao gồm thông tin cá nhân, tài liệu, video và hình ảnh.
Người dùng tham gia truyền thông mạng xã hội thông qua máy tính, máy tính bảng hoặc điện thoại thông minh thông qua phần mềm trên web hoặc ứng dụng web. Theo Đinh Thùy Dung (2022) thuật ngữ truyền thông mạng xã hội đề cập đến một công nghệ dựa trên máy tính tạo điều kiện cho việc chia sẻ ý tưởng, suy nghĩ và thông tin thông qua các mạng và cộng đồng ảo. Thông qua các định nghĩa nêu trên truyền thông mạng xã hội được hiểu là việc sử dụng các phương tiện truyền thông mạng xã hội. Thông qua các chia sẻ dưới dạng bài viết, hình ảnh, âm thanh, video nhằm tạo ra sự kết nối và tương tác và lan tỏa trong cộng đồng người dùng mạng xã hội.
Người dùng có thể tham gia truyền thông qua mạng xã hội thông qua nhiều loại thiết bị khác nhau như máy tính, điện thoại, máy tính bảng và được tương tác trực tiếp với nội dung thông điệp được đăng tải.5 Phương tiện truyền thông mạng xã hội Theo Wikipedia, “Phương tiện truyền thông mạng xã hội” là các ứng dụng hoặc chương trình được xây dựng dựa trên nền tảng Internet, nhằm tạo điều kiện cho việc tạo mới hoặc chia sẻ thông tin, ý tưởng, lợi ích nghề nghiệp và các nội dung khác thông qua các thiết bị công nghệ và mạng máy tính. Một định nghĩa không chính thức cho phương tiện truyền thông xã hội như sau: "Các ứng dụng dựa trên Internet mạng nội dung do người tiêu dùng tạo ra bao gồm các ấn tượng trên phương tiện truyền thông do người tiêu dùng tạo ra, thường được thông báo bằng kinh nghiệm có liên quan và được lưu trữ hoặc chia sẻ trực tuyến để những người tiêu dùng dễ gây ấn tượng khác truy cập" (Blackshaw, 2006). Theo Joseph Thorley (2008), phương tiện truyền thông xã hội là “các phương tiện truyền thông trực tuyến trong đó có sự di chuyển linh hoạt giữa vai trò tác giả và khán giả của các cá nhân tham gia. Để làm điều 8 này, các phương tiện truyền thông xã hội sử dụng các phần mềm mang tính xã hội cho phép cả những người không chuyên có thể đăng tải, bình luận, chia sẻ hay thay đổi nội dung, từ đó hình thành nên những cộng đồng chung sở thích”.
Theo Rdouan Faizi và cộng sự (2013) phương tiện truyền thông xã hội bao gồm một loạt các công cụ tích hợp công nghệ, tương tác xã hội và sáng tạo nội dung. Trong công việc hiện tại, phân tích sẽ được giới hạn trong các loại phương tiện truyền thông xã hội phổ biến nhất. Chúng bao gồm mạng xã hội, Blog, Blog nhỏ, Wiki, đánh dấu trang, chia sẻ phương tiện.