Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu và khai thác văn hóa Then của người Tày tại huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh phục vụ hoạt động du lịch" được tác giả Bùi Thị Ngọc Anh thực hiện năm 2018 tại Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, chuyên ngành Việt Nam học (Văn hóa du lịch), dưới sự hướng dẫn của ThS. Vũ Thị Thanh Hương.
Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 thành phần tộc người cùng chung sống, sở hữu phức thể văn hóa gồm ba yếu tố: văn hóa núi, văn hóa đồng bằng và văn hóa biển. Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập văn hóa ngày càng sâu rộng, các giá trị văn hóa truyền thống của các tộc người thiểu số đang đứng trước nguy cơ biến đổi và mai một. Đồng thời, xu hướng du lịch tìm hiểu văn hóa bản địa, trải nghiệm đời sống của các cộng đồng dân tộc thiểu số tại vùng sâu, vùng xa ngày càng thu hút sự quan tâm của du khách trong và ngoài nước.
Tại tỉnh Quảng Ninh, theo số liệu của Tổng cục Thống kê (tính đến ngày 01/04/2009), toàn tỉnh có 34 dân tộc cùng sinh sống, trong đó người Tày là tộc người có số dân đông thứ ba. Riêng tại huyện miền núi biên giới Bình Liêu, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 93% dân số (người Tày chiếm đa số với 50,3% theo thống kê 2009, hoặc 58,4% theo số liệu điều tra năm 1999). Mặc dù địa phương sở hữu tài nguyên thiên nhiên đa dạng cùng kho tàng văn hóa phi vật thể đặc sắc, tiêu biểu là nghi lễ và nghệ thuật Then, song tiềm năng du lịch nơi đây chưa được khai thác tương xứng. Khách du lịch đến Quảng Ninh chủ yếu tập trung tại các trung tâm đô thị lớn và khu vui chơi giải trí ven biển, lượng khách tiếp cận các huyện vùng cao còn rất khiêm tốn. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu văn hóa Then của người Tày tại huyện Bình Liêu nhằm đề xuất giải pháp bảo tồn di sản gắn với phát triển sinh kế du lịch bền vững cho cộng đồng địa phương.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Văn bản xác định rõ các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:
- Giới thiệu chi tiết, có hệ thống về văn hóa Then của người Tày và đánh giá tiềm năng khai thác loại hình này phục vụ hoạt động du lịch.
- Đưa ra các phương án phục hồi, bảo tồn văn hóa truyền thống của người Tày tại huyện Bình Liêu.
- Đề xuất kiến nghị với chính quyền các cấp, ngành du lịch, ngành văn hóa và các cơ quan liên quan trong việc phối hợp chỉ đạo, quản lý nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố văn hóa truyền thống của người Tày tại huyện Bình Liêu, trọng tâm là di sản văn hóa Then trong mối liên hệ với hoạt động khai thác du lịch địa phương.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung vào các giá trị di sản văn hóa phi vật thể (nghi lễ tín ngưỡng, diễn xướng, âm nhạc, lời ca Then).
- Về không gian: Địa bàn huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.
- Về thời gian: Khóa luận được hoàn thành vào tháng 08 năm 2018, kế thừa các tài liệu, số liệu lịch sử và thống kê dân số từ năm 1905, 1932, 1949, 1989, 1999 đến giai đoạn 2009–2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Khóa luận xây dựng hệ thống khái niệm nền tảng từ góc độ Dân tộc học và Văn hóa học:
- Khái niệm Tộc người (Ethnic): Phân tích nguồn gốc thuật ngữ Ethnography (bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ gồm Ethnos - tộc người và Graphy - mô tả). Tộc người được xác định là một tập đoàn xã hội hình thành qua quá trình tự nhiên - lịch sử, phân biệt qua ba đặc trưng cơ bản: ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa và ý thức tự giác tộc người.
- Khái niệm Văn hóa tộc người: Là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng sáng tạo, tích lũy qua thực tiễn tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội. Khóa luận tiếp cận phân loại cấu trúc văn hóa tộc người theo trường phái dân tộc học Liên Xô thập niên 1970 (gồm: văn hóa sản xuất, văn hóa bảo đảm đời sống, văn hóa chuẩn mực xã hội, văn hóa nhận thức xã hội) và quan niệm phân chia của UNESCO năm 1988 (văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể).
- Khái niệm Văn hóa Then: Phân tích ngữ nghĩa từ "Then" trong tiếng Tày xuất phát từ "Thiên" (nghĩa là Trời). Then là hình thái tín ngưỡng cúng vía, cầu an của cộng đồng Tày, Nùng, Thái; phản ánh thế giới quan về cõi thần linh (Bụt, Giàng, Trời) thông qua vai trò trung gian kết nối của ông Then, bà Then bằng âm nhạc đàn Tính, chùm xóc nhạc và làn điệu diễn xướng dân gian. Khóa luận cũng viện dẫn sự kiện đầu năm 2017 khi Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đại diện Chính phủ ký hồ sơ "Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam" đệ trình UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
- Khung phân vùng văn hóa: Tác giả hệ thống hóa các vùng văn hóa tại Việt Nam (Tây Bắc, Việt Bắc và Đông Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Trường Sơn - Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long) và phân loại theo địa vực cư trú nhằm định vị sắc thái văn hóa tộc người Tày tại vùng Đông Bắc.
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và xử lý thông tin thư mục:
- Phương pháp thu thập tài liệu: Tác giả tiến hành thu thập thông tin thứ cấp xuyên suốt từ giáo trình Dân tộc học, giáo trình Du lịch, các văn bản dự án, báo cáo tổng kết của cơ quan quản lý văn hóa địa phương và tài liệu lưu trữ chuyên ngành.
- Phương pháp phân loại, thống kê và so sánh: Phân nhóm các nguồn tư liệu theo từng chủ đề; đối chiếu, so sánh các làn điệu và nghi lễ Then giữa các địa phương (Bình Liêu, Hà Giang, Lào Cai, Lạng Sơn) nhằm làm nổi bật nét đặc thù của Then người Tày Bình Liêu.
- Phương pháp tổng hợp và xử lý dữ liệu Internet: Khai thác các bài báo, nguồn tin số hóa liên quan đến thực tiễn sinh hoạt văn hóa dân gian và hiện trạng du lịch địa phương để cập nhật vào nội dung đề tài.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI TÀY TẠI HUYỆN BÌNH LIÊU TỈNH QUẢNG NINH
Chương I tập trung làm rõ bức tranh tổng thể về cơ sở lý luận, các sắc thái văn hóa Then tại một số vùng miền, cùng điều kiện tự nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội và văn hóa vật thể của huyện Bình Liêu.
1. Sự đa dạng của văn hóa Then tại các địa phương
Tác giả dẫn chứng thực tế diễn xướng Then tại các tỉnh miền núi phía Bắc để đối sánh:
- Tại Hà Giang: Người Tày có trên 130.000 người (chiếm 23,1% dân số tỉnh). Điển hình là nghi lễ lẩu Then bjoóc mạ (hoa bjoóc mạ - hoa bờm ngựa nở vào mùa xuân) tại xã Phương Độ, thành phố Hà Giang. Nghi lễ do một thầy Then cả cùng 5 thầy phụ và các nàng Hương phụ việc thực hiện trong 2 ngày 1 đêm, trải qua nhiều cung chặng (cung trình tổ Then, tổ tiên; thổ công; ve sầu; cửa trời; ngọc hoàng...). Từ năm 2016, nghi lễ này được chính quyền xã trình diễn tại các phiên chợ để quảng bá văn hóa và thu hút du khách.
- Tại Lào Cai: Then gắn bó với đời sống người Tày ở Văn Bàn, Bảo Yên, Bảo Thắng, Sa Pa. Nghi thức cấp sắc cao nhất gọi là lễ Pang Luông. Các nghệ nhân như Hoàng Thị Cứ, Ma Thanh Sợi đã sưu tầm hàng trăm làn điệu Then cổ và hiện đại. Then tại đây còn được thanh niên nam nữ sử dụng trong hát giao duyên đối đáp với cấu tứ mạch lạc, giàu hình ảnh ví von.
- Tại Lạng Sơn: Khảo cứu Then của tộc người Nùng. Nghệ nhân Hoàng Văn Páo khẳng định diễn xướng Then bắt buộc phải có cây đàn Tính và cây quạt. Bên cạnh tính chất tâm linh trừ tà, chữa bệnh, từ năm 1956 Then đã phát triển mạnh thành loại hình văn nghệ quần chúng trong cộng đồng.
2. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội huyện Bình Liêu
Khóa luận hệ thống hóa nguồn tài nguyên và cấu trúc địa lý - hành chính của địa phương:
- Địa hình và khí hậu: Tổng diện tích tự nhiên là 471,38 km². Địa hình đồi núi trùng điệp, có các đỉnh núi cao như ngọn Cao Xiêm (1.330 m) và Cao Ba Lanh (1.050 m). Khí hậu phân hóa 4 mùa rõ rệt, chịu ảnh hưởng của tính chất lục địa; mùa đông lạnh kéo dài, nhiệt độ có lúc xuống 4°C, thường có sương muối; nhiệt độ trung bình từ 17–22°C; lượng mưa trung bình hàng năm trên 2.400 mm (năm cao nhất đạt trên 3.000 mm, thấp nhất trên 1.000 mm), số ngày mưa trung bình là 165 ngày/năm.
- Tài nguyên nước và sinh thái: Sông Tiên Yên bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Bình Liêu với lưu lượng trung bình 21,3 m³/s (khoảng 609 triệu m³/năm), địa hình lòng suối dốc tạo nên các cảnh quan thác Khe Vằn, thác Khe Tiền. Hệ thực vật rừng phong phú với trên 1.020 loài thuộc 6 ngành và 171 họ (ngành Mộc Lan chiếm 915 loài, Dương Xỉ 58 loài, Thông 11 loài). Động vật có hơn 120 loài (gồm 11 loài lưỡng cư, 5 loài bò sát, 67 loài chim, 34 loài thú).
- Tài nguyên khoáng sản: Quặng vàng tại Bản Ngày (xã Vô Ngại); chì, kẽm ở Ngàn Phe (xã Đồng Tâm); quặng bô-xít tại Vô Ngại; trường quặng nguyên liệu chịu lửa Alumin với trữ lượng ước tính 35 triệu tấn.
| Tiêu chí | Số liệu thực tế tại văn bản |
|---|---|
| Tổng diện tích tự nhiên | 471,38 km² |
| Dân số và mật độ (1999) | 25.626 người; mật độ 55 người/km² (đồng bào thiểu số chiếm 96%) |
| Cơ cấu tộc người chính (1999) | Người Tày: 58,4%; Người Dao: 25,6%; Người Sán Chay: 15,4% |
| Số lượng người Tày năm 1989 | 10.758 người (chiếm 46% tổng số người Tày toàn tỉnh Quảng Ninh: 23.130 người) |
| Cơ cấu đất đai | Đất lâm nghiệp chiếm 70%; đất nông nghiệp chiếm 15,6% (hơn 7.000 ha) |
| Xuất nhập khẩu qua cửa khẩu Hoành Mô (2009) | Tổng kim ngạch 18 triệu USD (trong đó xuất khẩu đạt 7 triệu USD) |
| Hộ kinh doanh thương mại | 420 hộ (tăng 148 hộ so với năm 2002) |
| Hệ thống đơn vị hành chính | Gồm 8 đơn vị: thị trấn Bình Liêu và 7 xã (Đồng Văn, Hoành Mô, Đồng Tâm, Lục Hồn, Tình Húc, Vô Ngại, Húc Động) |
- Lịch sử hình thành tộc người Tày tại địa phương: Dẫn theo nghiên cứu của Thiếu tá Reversery (in trên tạp chí Revue Indochinoise, 1905), người Tày ở khu vực gồm hai nhóm di cư: nhóm Phén (tự nhận đến từ huyện Phòng Thành, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) và nhóm Thổ (hay Thổ Nhằn, đến từ Khâm Châu, Quảng Đông). Theo cuốn "Tiểu dẫn về tỉnh Hải Ninh (1932)", Bình Liêu có 5.700 người thì nhóm Thổ chiếm 3/4. Cuốn "Lược chí địa lý khu tự trị vùng Hải Ninh" của Voong A Sáng (1949) cũng ghi nhận người Thổ từ Quảng Tây sang tụ cư ven các chân núi Tiên Yên, Ba Chẽ, Đình Lập.
- Đời sống sản xuất và văn hóa vật thể: Canh tác nông - lâm nghiệp chiếm vai trò chủ đạo với chu kỳ mùa vụ 12 tháng (từ ăn Tết, cày bừa gieo mạ vụ xuân đến thu hoạch lúa, làm lễ cơm mới và sửa chữa nhà cửa vào tháng 9-10). Sản phẩm đặc sản tiêu biểu là miến dong (trồng từ tháng 3 đến tháng 11), hồi, quế, thông Mã Vĩ (chiếm 57% diện tích rừng trồng hàng năm) và keo (chiếm 30%). Về nhà ở, người Tày Bình Liêu định cư thành các bản từ 20 đến 100 nóc nhà, phổ biến ba loại hình kiến trúc: nhà sàn (kết cấu 4 đến 7 hàng cột, 2 hoặc 4 mái lợp ngói âm dương, tranh hoặc lá), nhà đất và nhà phòng thủ tại khu vực giáp biên.
CHƯƠNG II: VĂN HÓA THEN CỦA NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN BÌNH LIÊU TỈNH QUẢNG NINH
Chương này đi sâu vào nội dung tín ngưỡng, cấu trúc diễn xướng và vị trí của Then trong đời sống tâm linh tộc người Tày tại địa phương:
- Thế giới quan và quan niệm tâm linh: Người Tày Bình Liêu không theo một tôn giáo chính thống mà duy trì tín ngưỡng dân gian thờ cúng tổ tiên, thần thánh và ma quỷ (gọi chung là Phi, gồm Phi lành phù hộ điều tốt đẹp và Phi dữ gây tai họa). Lời cúng khấn của thầy Then được gọi là "đường then".
- Hệ thống các nghi lễ Then: Các nghi lễ được thực hiện theo nhu cầu tâm linh của gia chủ, bao gồm:
- Then cầu an giải hạn: Diễn ra vào dịp đầu năm để tiêu trừ xui rủi, cầu may mắn, bình yên.
- Then Nàng Hai (Nàng Hang): Tổ chức vào dịp Tết Trung thu.
- Then cúng mụ: Tổ chức vào dịp đầy tháng cho trẻ nhỏ nhằm cầu mong sức khỏe, hay ăn chóng lớn.
- Lẩu Then (Lễ cấp sắc): Nghi lễ lớn nhất của nhà Then, gồm nhiều cấp độ như lẩu Then khai quang, tăng sắc, khao quân, cáo lão. Nghi lễ phải trải qua nhiều cung cửa tâm linh từ nhà gia chủ dâng trình lên Ngọc Hoàng, Thổ Công, Thành Hoàng, Táo Quân, Tổ Tiên, Pháp Sư và Cửa Tướng.
- Quá trình chuyển hóa từ tín ngưỡng sang văn hóa dân gian: Then không chỉ tồn tại bó hẹp trong phạm vi nghi lễ cúng tế gia đình mà từng bước thẩm thấu vào sinh hoạt tập thể, biến đổi thành hình thức diễn xướng nghệ thuật dân gian tổng hợp bao gồm thơ ca, âm nhạc, múa dân gian kết hợp đàn Tính và chùm xóc nhạc.
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHAI THÁC VĂN HÓA THEN PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI ĐỊA PHƯƠNG
Chương III phân tích các điều kiện thực tế trong việc đưa di sản Then vào chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch tại Bình Liêu:
- Thực trạng khai thác: Hoạt động biểu diễn Then phục vụ khách du lịch tại địa phương vẫn mang tính tự phát, phân tán; hạ tầng cơ sở và dịch vụ du lịch kết nối chưa đồng bộ; lượng du khách tiếp cận với các giá trị văn hóa Then còn hạn chế, chưa hình thành sản phẩm du lịch đặc thù có sức cạnh tranh cao.
- Hệ thống đề xuất và giải pháp:
- Quy hoạch và tổ chức các không gian diễn xướng Then gắn với các tuyến điểm du lịch sinh thái nổi bật trên địa bàn (như cụm cảnh quan thác Khe Vằn, thác Khe Tiền, các bản làng người Tày truyền thống).
- Phối hợp liên ngành giữa chính quyền địa phương, ngành văn hóa và ngành du lịch trong công tác bảo tồn nguyên bản các bài Then cổ, hỗ trợ nghệ nhân truyền dạy đàn Tính và hát Then cho thế hệ trẻ.
- Đưa diễn xướng Then vào các lễ hội định kỳ, chợ phiên hoặc mô hình du lịch cộng đồng (homestay) nhằm tạo thêm nguồn thu nhập ổn định cho cư dân bản địa, lấy du lịch để nuôi dưỡng và bảo tồn di sản.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các tư liệu lịch sử, nhân học và dân tộc học về nguồn gốc di cư, tên gọi tộc người Tày (nhóm Phén và nhóm Thổ) tại huyện Bình Liêu dựa trên các tài liệu lưu trữ từ thời kỳ Pháp thuộc đến nay.
- Thống kê, phản ánh chi tiết các dữ liệu thực địa về điều kiện tự nhiên, cơ cấu diện tích đất đai (hơn 7.000 ha đất nông nghiệp, 70% đất lâm nghiệp), các chỉ số khí hậu, tài nguyên khoáng sản (bô-xít, mỏ sét chịu lửa Alumin 35 triệu tấn), cũng như hiện trạng phát triển kinh tế thương mại biên mậu qua cửa khẩu Hoành Mô.
- Làm rõ cấu trúc các nghi lễ Then (cầu an giải hạn, cúng mụ, Nàng Hai, Lẩu Then cấp sắc) và cơ chế chuyển hóa của Then từ một nghi thức tín ngưỡng tôn giáo dân gian sang loại hình nghệ thuật diễn xướng cộng đồng.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Đề xuất chính quyền huyện Bình Liêu và tỉnh Quảng Ninh ban hành chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể Then Tày gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
- Định hướng xây dựng mô hình sản phẩm du lịch văn hóa tộc người bền vững, kết hợp giữa thưởng thức nghệ thuật hát Then, đàn Tính với trải nghiệm đời sống canh tác nông nghiệp (miến dong, cây hồi, quế) và tham quan danh lam thắng cảnh tự nhiên.
Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn
So với các đề tài nghiên cứu trước đây vốn chỉ tập trung khảo sát bức tranh kinh tế - xã hội chung hoặc văn hóa tổng hợp của các dân tộc thiểu số tại Bình Liêu, khóa luận này là công trình chuyên biệt đi sâu vào giá trị di sản văn hóa Then dưới góc độ ứng dụng vào hoạt động phát triển du lịch, tạo cơ sở thực tiễn cho công tác quản lý văn hóa cấp cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Các số liệu thống kê dân số và cơ cấu tộc người trong văn bản được trích xuất từ các đợt tổng điều tra cũ (năm 1999 và 2009); một số dữ liệu về giá trị sản xuất lâm nghiệp và kim ngạch thương mại chưa được cập nhật liên tục sát với thời điểm bảo vệ khóa luận (năm 2018). Ngoài ra, các phân tích về chuỗi giá trị sản phẩm du lịch Then mới dừng ở mức định tính, chưa có các số liệu khảo sát định lượng về mức độ chi tiêu hoặc phản hồi thực tế của khách du lịch.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiến hành điều tra xã hội học định lượng về nhu cầu của du khách đối với loại hình du lịch di sản Then; đánh giá tác động của hoạt động thương mại hóa du lịch đối với tính nguyên gốc của các nghi lễ Then cổ truyền; xây dựng mô hình liên kết doanh nghiệp lữ hành với các câu lạc bộ nghệ nhân Then tại Bình Liêu.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên: Các chuyên ngành Việt Nam học, Văn hóa du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Dân tộc học có thể tham khảo phương pháp tiếp cận văn hóa tộc người và cấu trúc xây dựng đề tài khai thác di sản phục vụ du lịch.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa địa phương: Sử dụng các tư liệu lịch sử trích dẫn quý giá về nguồn gốc người Tày vùng biên giới Hải Ninh cũ (tài liệu của Reversery năm 1905, Voong A Sáng năm 1949).
- Cán bộ quản lý văn hóa - du lịch: Tham khảo dữ liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên danh thắng và phong tục tập quán bản địa để phục vụ công tác quy hoạch điểm đến, xây dựng sản phẩm du lịch cộng đồng tại huyện Bình Liêu.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo tư liệu lịch sử trong khóa luận, người Tày ở Bình Liêu có nguồn gốc hình thành như thế nào?
Theo ghi nhận của Thiếu tá Reversery (1905), người Tày tại đây gồm hai nhóm chính: nhóm Phén (đến từ huyện Phòng Thành, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) và nhóm Thổ/Thổ Nhằn (đến từ Khâm Châu, Quảng Đông). Theo tác phẩm của Voong A Sáng (1949), người Thổ từ Quảng Tây phiêu bạt sang và tụ cư lâu đời tại các chân núi ven sông Tiên Yên, Ba Chẽ, Đình Lập.
2. Cơ cấu dân số người Tày tại huyện Bình Liêu chiếm tỷ lệ bao nhiêu?
Khóa luận dẫn chứng hai nguồn số liệu: Theo cuộc tổng điều tra dân số ngày 01/04/1999, người Tày chiếm 58,4% dân số toàn huyện. Theo số liệu thống kê ngày 01/04/2009, huyện Bình Liêu có 93% là người dân tộc thiểu số, trong đó người Tày chiếm 50,3%.
3. Khóa luận đã phân loại hệ thống nghi lễ Then của người Tày gồm những hình thức nào?
Nghi lễ Then được chia thành các loại chính: Then cầu an giải hạn (đầu năm), Then Nàng Hai/Nàng Hang (Tết Trung thu), Then cúng mụ (đầy tháng trẻ em) và Lẩu Then (Lễ cấp sắc gồm các loại: khai quang, tăng sắc, khao quân, cáo lão).
4. Địa hình và khí hậu huyện Bình Liêu có những đặc trưng số liệu nào nổi bật?
Huyện có diện tích 471,38 km², đỉnh núi cao nhất là Cao Xiêm (1.330 m) và Cao Ba Lanh (1.050 m). Khí hậu có nhiệt độ trung bình từ 17–22°C (mùa đông có đợt xuống 4°C); lượng mưa trung bình năm trên 2.400 mm với khoảng 165 ngày mưa; độ ẩm không khí trung bình trên 80%.
5. Sản phẩm nông - lâm nghiệp đặc trưng nào của Bình Liêu được nhắc tới trong nghiên cứu?
Khóa luận nhấn mạnh các cây lâm nghiệp như hồi, quế, thông Mã Vĩ (chiếm 57% diện tích rừng trồng), keo (chiếm 30%) và sản phẩm miến dong truyền thống sản xuất từ củ dong riềng trồng từ tháng 3 đến tháng 11 hàng năm.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Ngọc Anh đã hoàn thành mục tiêu nghiên cứu về việc bảo tồn và khai thác các giá trị văn hóa Then của cộng đồng người Tày tại huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh. Công trình cung cấp hệ thống tư liệu phong phú, chính xác về điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử hình thành tộc người cũng như không gian diễn xướng Then bản địa. Các giải pháp gắn kết di sản văn hóa phi vật thể với hoạt động du lịch được đề xuất có tính ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào định hướng phát triển kinh tế cộng đồng bền vững tại khu vực miền núi biên giới phía Bắc.