CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÌ ĂN LIỀN 1. Lịch sử ra đời Mì sợi xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc từ triều nhà Hán (năm 206 trước công nguyên). Từ đây sản xuất mì sợi bắt đầu trải rộng ra các nước Châu Á. Vào thế kỉ 13, Macro Polo du hành đến Trung Quốc và ông đã mang kỹ thuật sản xuất mì ở Trung Quốc trở về Châu Âu.
Tại đây, món mì sợi được biến đổi để trở thành món mì ống. Từ cuối thế kỉ 18, người Châu Âu đã bắt đầu sản xuất và sử dụng sản phẩm mì sợi. Sản phẩm này nhanh chóng trở nên phổ biến, đặc biệt là ở Ý và Pháp. Sau đó, nó được du nhập vào Châu Á.
Sau đó để tiết kiệm thời chế biến, người Châu Á (đầu tiên là Nhật) đã đưa ra công nghệ sản xuất mì chuẩn bị bữa ăn nhanh gọi là mì ăn liền. Từ đó đến nay, mì ăn liền đã không ngừng được cải tiến và phát triển về sản lượng và chất lượng. Công nghệ sản xuất mì ăn liền luôn được nâng cao. Ông Momofuku Ando (1918 – 2008), người Nhật, là người đã phát minh ra mì ăn liền.
Ông đã thành lập nên công ty Nissin trước khi giới thiệu ra thị trường sản phẩm mì ăn liền đầu tiên có tên gọi “Chicken Ramen” vào năm 1958. Ý tưởng sản xuất mì ăn liền đến với ông rất tình cờ khi chứng kiến cảnh những người dân đứng xếp hàng trong đêm giá lạnh để chờ mua những vắt mì tươi tại một cửa hàng không lâu sau thế chiến thứ II.1 Ông Momofuku Ando (1918 – 2008) SVTH: Lê Đức Lan Anh Trang 2 Đồ án học phần phân tích thực phẩm SVTH: Lê Đức Lan Anh Trang 3 Đồ án học phần phân tích thực phẩm Vào năm 1971, Công ty Nissin đã đưa ra thị trường loại mì ăn liền tô và đưa vào sản xuất thương mại. Sản phẩm này đã được làm chín trước, do đó khi sử dụng, chỉ cần trụng nó trong nước sôi khoảng từ 3 – 5 phút. Vì sự tiện dụng của mì ăn liền và cũng vì sự bận rộn của mình nên người Nhật trở nên ưa chuộng món mì ăn liền và do đó nó nhanh chóng trở nên phổ biến ở Nhật Bản cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới.
Tình hình phát triển 1. Thế giới Từ đó đến nay, mì ăn liền đã không ngừng được cải tiến và phát triển về sản lượng và chất lượng. Công nghệ sản xuất mì ăn liền luôn được năng cao. Hiện nay, mì ăn liền được tiêu thụ trên khắp các châu lục với số lượng khổng lồ.
Năm 2004, lượng mì gói được tiêu thụ trên toàn thế giới là 70 tỷ gói, trong đó thị trường có sức tiêu thụ lớn nhất là các nước Châu Á. Xét về số lượng tiêu thụ, theo số liệu thống kê năm 2005: Trung Quốc tiêu thụ nhiều mì ăn liền nhất với 44,3 tỷ gói; Indonesia đứng thứ hai với 12,4 tỷ gói; Nhật bản 5,4 tỷ gói. Việt Nam Hiện nay, tại Việt Nam các sản phẩm mì ăn liền được sử dụng rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân vì tính tiện dụng và giá trị dinh dưỡng của chúng. Có thể nói sản phẩm mì ăn liền ngày nay đã phần nào đi vào đời sống của người dân, trở thành một sản phẩm được ưa thích rộng rãi.
Trước nhu cầu to lớn của thị trường, ngành công nghệ mì ăn liền đã và đang có những bước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là khi nền kinh tế nước nhà chuyển sang cơ chế thị trường. Các công ty quốc doanh như MILIKET, COLUSA,…cũng như các công ty liên doanh như VIFON, A – ONE, VINA ACECOOK,…đã không ngừng nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa chủng loại và mẫu mã để đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng. Số liệu thống kê không chính thức năm 2008 cho thấy, tại Việt Nam có hơn 50 doanh nghiệp sản xuất mì ăn liền, sản lượng đạt khoảng 5 tỷ gói/năm, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt từ 15% - 20%. Về tiêu thụ, năm 2012, mức tiêu thụ của thị trường là 5,1 tỷ gói.
Hiện nay, mặt hàng mì ăn liền đã phổ biến trong cuộc sống của người dân Việt Nam từ khu vực thành thị tới nông thôn. Theo thống kê của Hiệp hội Mì ăn liền thế giới, Việt Nam là quốc gia đứng thứ tư thế gới về tiêu thụ mì gói. SVTH: Lê Đức Lan Anh Trang 4 Đồ án học phần phân tích thực phẩm 1. Giá trị dinh dưỡng và tính tiện dụng của mì ăn liền Sản phẩm mì ăn liền được sự ưa chuộng của người tiêu dùng vì nó có các ưu điểm nổi bật sau: Đứng về khía cạnh dinh dưỡng, đây là loại sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao do được chế biến từ bột mì (là nguồn tinh bột tốt) và phụ gia có chứa các chất dinh dưỡng như protein, lipid, vitamin, khoáng.
Như vậy, sản phẩm mì ăn liền có chứa tương đối đầy đủ chất dinh dưỡng cơ bản. Trung bình 100 gam mì cung cấp 359 calo. Thành phần hóa học của mì sợi Thành phần Nước Protein Lipid Glucid Cenllulose Tro (%) mì sợi 15,5 11 1,1 74 0,5 1,0 Bảng1. Hàm lượng vitamin và khoáng trong mì ăn liền (mg/100g) Vitamin Khoáng B1 B2 PP Ca P Fe 0,1 0,04 1,1 3,4 97 1,5 Tính tiện dụng của mì ăn liền: Quá trình vận chuyển nhanh, gọn.
Quá trình bảo quản tương đối đơn giản. Dễ sử dụng, dễ chế biến: chỉ cần cắt bao gói, cho nước sôi vào chờ khoảng 3 -5 phút là có thể ăn được. Mì sợi có độ tiêu hóa cao. Tổn thất chất khô trong quá trình nấu chín thấp, thường khoảng 4 – 7 %.
Tùy theo phụ gia thêm vào mà ta có sản phẩm theo khẩu vị riêng của từng loại mì. Giá thành rẻ: Ở Việt Nam, giá thành các sản phẩm mì ăn liền thường dao động từ 1000 - 3000 đ/gói, tùy chủng loại. Một số sản phẩm mì cao cấp giá cũng chỉ ở mức 7000 - 10000 đ/ gói. Do đó thích hợp với mọi tầng lớp, đặc biệt là người lao động và sinh viên.
SVTH: Lê Đức Lan Anh Trang 5 Đồ án học phần phân tích thực phẩm 1. Phân loại và đặc điểm chung 1. Phân loại Dựa trên phương pháp chế biến, mì ăn liền được được chia làm hai loại: Mì ăn liền có chiên Mì ăn liền không chiên: là loại mì được làm khô (sấy) bằng luồng không khí nóng (700C – 800C). Lợi điểm của mì sấy là nó chứa một hàm lượng béo thấp, do đó thời gian bảo quản loại mì này dài hơn và nó được ưa thích hơn.
Tuy nhiên, vì quy trình sản xuất loại mì này năng suất thấp và mùi vị, cấu trúc không phù hợp nên sản phẩm này không phổ biến ở Châu Á so với loại mì chiên. Đặc điểm chung Là loại mì có dạng sợi. Được tạo dạng vắt tròn hay chữ nhật. Sử dụng nhanh bằng cách ngâm mì trong nước sôi.
Thường sử dụng luôn cả nước ngâm mì. Cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng cho 1 bữa ăn nhanh. Mì có thể qua quá trình chiên hay không chiên. Nguyên liệu và các chỉ tiêu của nguyên liệu Nguyên liệu chính để sản xuất mì ăn liền là bột mì, nguyên liệu phụ là nước và dầu chiên (shortening).
Bên cạnh đó còn có các phụ gia như: CMC (carboxyl metyl cellulose), Natri polyphosphat, muối ăn, bột màu thực phẩm và gia vị bao gồm: muối ăn, đường, bột ngọt, hành, tiêu, ớt, trứng, tôm,… 1. Nguyên liệu chính Nguyên liệu chính để sản xuất mì ăn liền là bột mì. Bột mì được chế biến từ hạt lúa mì. Thành phần bột mì dao động trong khoảng khá rộng, tùy thuộc vào loại bột và thành phần hóa học của hạt mì.
Trong thành phần hóa học của hạt mì có cả các chất hữu cơ và vô cơ. Chất hữu cơ chiếm tới 83 – 85%, trong đó chủ yếu là glucid, lipid, vitamin, sắc tố và enzyme. Chất vô cơ chiếm khoảng 15 – 17% gồm nước và chất khoáng. SVTH: Lê Đức Lan Anh Trang 6 Đồ án học phần phân tích thực phẩm Hình 1.
Thành phần một số loại bột (% theo chất khô) Loại bột Tỷ lệ Độ tro Cellulose Tinh bột Protein Lipid Pentose Thượng 10,5 0,47 0,13 80,16 10,28 0,25 1,59 hạng Loại I 22,4 0,53 0,22 77,84 11,15 1,20 1,84 Loại II 47,5 1,20 0,48 75,52 14,80 2,02 3,44 Bột cám 18,4 5,40 8,35 13,8 16,17 4,77 22,02 Hạt 100 1,74 1,51 68,99 15,51 2,06 6,42 (Ghi chú: tỷ lệ phần trăm loại bột thu được từ bột mì ban đầu.) Vai trò của bột mì trong sản xuất mì ăn liền: Là nguồn gluten và tinh bột chính của mì ăn liền. Là chất tạo hình, tạo bộ khung, hình dáng, góp phần xác định trạng thái: độ cứng, độ đặc, độ dai và độ đàn hồi cho sợi mì. Các thành phần quan trọng trong bột mì: Glucid Chiếm khoảng 70 – 90% chất khô, gồm đường (0,6 – 1,8%), dextrin (1 – 1,5%), hemicellulose (2 – 8%), tinh bột (80%), pentose (1,2 – 3,5%), cellulose (0,01 – 0,05%), maltose (0,005 – 0,05%), saccharose (0,1 – 0,55%), rafinose và fructose (0,5 – 1,1%). SVTH: Lê Đức Lan Anh Trang 7 Đồ án học phần phân tích thực phẩm Protid Protid trong bột mì là protid không hoàn hảo, gồm có hai dạng: đơn giản và phức tạp.
Dạng đơn giản gọi là protein, bao gồm bốn loại: albumin, globulin, prolamin và glutelin. Dạng phức tạp gọi là protid gồm có glucoproteit, nucleoproteit, cromoproteit. Trong bột mì lượng prolamin và glutelin chiếm một tỉ lệ khá cao. Khi nhào bột hai thành phần này hút nước tạo mạng lưới phân bố đều trong khối bột nhào.
Mạng lưới này vừa dai, vừa đàn hồi, được gọi là gluten. Nhờ đó mà bột mì nhão, có tính dai, dễ cán, cắt định hình nên được dùng trong sản xuất mì ăn liền. Chất lượng gluten ướt được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu cảm quan và các chỉ tiêu vật lý như: màu sắc, độ dai, độ căng đứt, độ đàn hồi. Lipid Hàm lượng chất trong bột mì khoảng từ 2 – 3%, trong đó ¾ là chất béo trung tính, còn lại là phosphatit, stearin, sắc tố và vitamin tan trong chất béo.
Trong quá trình bảo quản bột, chất béo dễ bị phân hủy, giải phóng acid béo tự do, ảnh hưởng đến độ acid và vị của bột, đồng thời ảnh hưởng đến tính chất gluten. Vitamin và khoáng Bảng 1.