CHƯƠNG 1 Với tất cả những ưu điểm của dự án như đã nêu ở trên, ta thấy việc xây dựng dự án thật sự cần thiết và cấp bách, nhằm nâng cao mức sống của nhân dân trong vùng, và góp phần vào sự phát triển kinh tế – văn hóa của khu vực. Thuận tiện cho việc đi lại, học hành, làm ăn của người dân và thuận tiện cho việc quản lý đất đai và phát triển du lịch Tạo điều kiện khai thác, phát triển du lịch và các loại hình vận tải khác … Với những lợi ích nêu trên, thì việc quyết định xây dựng tuyến đường dự án là hết sức cần thiết và đúng đắn. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG KẾT CẤU NHỊP CẦU BÊ TÔNG CỐT THÉP SVTH: TRẦN VĂN TỨ 11 TIỂU LUẬN CÔNG NGHỆ XD CẦU GVHD: Th. Khái niệm chung Bê tông cốt thép là loại vật liệu kết hợp từ hai loại vật liệu bê tông và cốt thép, làm việc cùng với nhau nhờ sự dính bám giữa bê tông và cốt thép.
Bê tông là loại vật liệu dòn, chịu nén tốt và chịu kéo kém. Do đó cần phải tăng cường cho khu vực chịu kéo của bê tông bằng những cốt thép có khả năng chịu kéo tốt. Các cấu kiện chịu nén cũng nên được đặt cốt thép bên trong bê tông và nhờ cốt thép mà cấu kiện sẽ ổn định tốt hơn và tăng thêm cường độ chịu nén của cấu kiện. Diện tích tổng cộng các mặt cắt của cốt thép thường vào khoảng 0,05 đến 3% so với tổng diện tích mặt cắt bê tông.
Đó là một ưu điểm về mặt kinh tế của vật liệu bê tông cốt thép, vì hàm lượng cốt thép trong bê tông cốt thép chiếm tỷ lệ thấp và giá cốt thép đắt hơn nhiều so với giá bê tông. Sự làm việc chung giữa bê tông và cốt thép trong kết cấu bê tông cốt thép được đảm bảo bởi ba yếu tố vật lý là: - Sự dính bám chặt chẽ giữa bê tông và cốt thép. - Giá trị gần như bằng nhau của các hệ số dãn nở tuyến tính do nhiệt độ của bê tông và cốt thép. Khi nhiệt độ không quá 1000 C thì: bt = 0,000008 0,000015 và t = 0,000012 Do đó khi nhiệt độ thay đổi, các lớp bê tông tiếp giáp cốt thép và cốt thép có biến dạng gần như bằng nhau và không xuất hiện nội lực có thể phá vỡ sự dính bám giữa chúng.
- Bê tông chất lượng cao, đủ độ chặt có khả năng bảo vệ cốt thép chống rỉ và chống cháy. Ưu điểm của cầu bê tông cốt thép - Khả năng dùng vật liệu địa phương tương đối sẵn (cát, đá, sỏi) chiếm khoảng 70 đến 80% khối lượng bê tông cốt thép. Do vậy giá thành rẻ hơn kết cấu thép khi phải cùng làm nhiệm vụ như nhau. - Bê tông cốt thép có tuổi thọ cao, cốt thép được bảo vệ chống rỉ, còn cường độ bê tông tăng dần theo thời gian.
- So với gạch, đá, gỗ thì bê tông cốt thép cho khả năng chịu lực lớn hơn, ổn định và bền hơn kết cấu thép. - Cầu bê tông cốt thép bền chắc, chi phí duy tu bảo dưỡng không đòi hỏi nhiều. Ưu điểm này có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế. SVTH: TRẦN VĂN TỨ 12 TIỂU LUẬN CÔNG NGHỆ XD CẦU GVHD: Th.S PHẠM XUÂN HÒA - Do trọng lượng bản thân lớn, môđun đàn hồi thấp, nên ảnh hưởng về chấn động do tác dụng của tải trọng bên ngoài thường nhỏ hơn so với cầu thép.
- Có thể dễ dàng chế tạo theo những hình dạng bất kỳ. - Khi chịu tải trọng, độ võng phát sinh ở giữa nhịp của cầu bê tông cốt thép nhỏ hơn 5 đến 10 lần độ võng của cầu thép cùng nhịp. Nhược điểm của cầu bê tông cốt thép - Vật liệu bê tông cốt thép có trọng lượng đơn vị khá lớn, phần lớn khả năng chịu lực của vật liệu dùng để chịu trọng lượng bản thân kết cấu. Trọng lượng bản thân kết cấu chiếm từ 60 đến 70% toàn bộ tải trọng tác dụng trên cầu.
Kết cấu nặng, cồng kềnh gây khó khăn cho công tác vận chuyển. - Để tránh xâm thực của môi trường bên ngoài, bề rộng vết nứt cho phép của kết cấu bê tông cốt thép từ 0,2 đến 0,3mm. Tương ứng với bề rộng vết nứt này, ứng lực trong cốt thép còn rất nhỏ, nên làm hạn chế tính ưu việt về kinh tế của loại vật liệu này. - Trong xây dựng cầu, nếu không có điều kiện thi công lắp ghép thì phải dùng hình thức đổ tại chỗ, những trường hợp này chi phí làm đà giáo ván khuôn rất tốn kém, thi công phức tạp, giá thành cao.
Không những thế trong quá trình thi công còn ảnh hưởng đến giao thông đường thuỷ đối với những sông có yêu cầu thông thuyền. - Do trọng lượng bản thân lớn, lại chịu ảnh hưởng của sự thay đổi nhiệt độ. nên cầu bê tông cốt thép chưa vượt được những nhịp rất lớn. Hiện nay cầu bê tông cốt thép vượt nhịp không quá 360m (cầu vòm ở thành phố Sydney - Australia), trong khi đó đối với cầu thép có thể vượt nhịp tới trên 1000m.
- Thi công cầu bê tông cốt thép khó bảo đảm chất lượng, vì gia công ván khuôn khó chính xác, chất lượng của xi măng không ổn định, các chỉ tiêu cơ lý của vật liệu khó xác định chính xác, lại thay đổi theo thời gian (co ngót và từ biến). Rất khó kiểm tra chất lượng sau khi thi công, trong thi công chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài. người ta đang tìm nhiều biện pháp để khắc phục những nhược điểm của cầu bê tông cốt thép. Những phương hướng chính là: SVTH: TRẦN VĂN TỨ 13 TIỂU LUẬN CÔNG NGHỆ XD CẦU GVHD: Th.S PHẠM XUÂN HÒA - Sử dụng kết cấu lắp ghép, loại kết cấu này giải quyết các vấn đề sau: + Rút ngắn được thời gian thi công.
+ Tiết kiệm được đà giáo ván khuôn. + Trong quá trình thi công có thể cơ giới hoá và công nghiệp hoá công nghệ chế tạo. + Chất lượng tốt, vì các cấu kiện của kết cấu được chế tạo trong nhà máy, có đầy đủ các phương tiện thí nghiệm và kiểm tra chất lượng bê tông, thiết bị đo lường chính xác, hao hụt vật liệu ít. - Sử dụng vật liệu có cường độ cao: Do vật liệu có cường độ cao mà tiết kiệm được vật liệu, kích thức kết cấu nhỏ lại, trọng lượng bản thân giảm đi vì thế khả năng vượt nhịp lớn hơn.
- Sử dụng bê tông cốt liệu nhẹ để giảm trọng lượng kết cấu. Phạm vi áp dụng Trong các cầu đường sắt thường chỉ áp dụng các cầu dầm giản đơn có chiều dài nhịp không quá 33m. Đối với kết câú nhịp lớn hơn và với các sơ đồ tĩnh học khác, người ta thường làm cầu thép. Trong các cầu ô tô, kết cấu bê tông cốt thép thường và bê tông cốt thép dự ứng lực được dùng rộng rãi với đủ mọi chiều dài nhịp từ 3 mét đến 360 mét.
Và đủ mọi sơ đồ tĩnh học (cầu dầm, cầu vòm, cầu khung, cầu hệ thống liên hợp.), đủ hình dạng khác nhau. Trên các tuyến đường sắt và tuyến đường ô tô, các cầu nhỏ và cống thường chiếm khoảng 80 đến 90% số lượng các công trình nhân tạo trên đường. Do đó hợp lý nhất về mặt duy tu khai thác là làm các công trình đó bằng kết cấu bê tông cốt thép, để dành kết cấu thép cho những nhịp dài, nhịp cầu đường sắt. Các công nghệ thi công kết cấu nhịp cầu bên tông cốt thép Kết cấu bê tông cốt thép kết hợp khả năng chịu nén tốt của bê tông và khả năng chịu kéo lớn của thép đặc biệt là thép cường độ cao, cùng với khả năng dễ tạo hinh, giá thành thấp hơn nhiều so với cầu thép cả đầu tiw xây dựng mới và bảo dưỡng.
Vì vật kết SVTH: TRẦN VĂN TỨ 14 TIỂU LUẬN CÔNG NGHỆ XD CẦU GVHD: Th.S PHẠM XUÂN HÒA cấu BTCT được áp dụng chủ yếu trong các công trình cầu trên thế giới. Kết cấu nhịp cầu BTCT được thi công theo hai phương pháp là đổ bê tông liền khối và lắp ghép Phương pháp thi công đổ bê tông liền khối - Là phương pháp mà kết cấu nhịp được đúc liền mạch không có mối nối. Để đảm bảo tính liền khối có thể đúc toàn khối tức là thi công hoàn chỉnh toàn bộ kết cấu trong một đợt đổ bê tông hoặc chia chiều dài kết cấu nhịp ra làm nhiều đốt và đổ bê tông lần lượt từng đốt, đốt nọ liền mạch với đốt kia gọi là phương pháp thi công phân đoạn hay chia kết cấu nhịp thành từng dầm được thi công riêng rẽ gọi là đúc phân phiến. - Thi công đúc liền khối, kết cấu nhịp có thể đổ bê tông tại chỗ hoặc không tại chỗ trong đó đổ bê tông tại chỗ là phổ biến.
- Đúc tại chỗ là biện pháp thi công đổ bê tông liền khối kết cấu nhịp ngay tại vị trí thiết kế. Thi công đúc tại chỗ được tiến hành theo phương pháp toàn khối trên đà giáo cố định nếu lượng thi công không lớn và do cấu tạo của kết cấu nhịp bắt buộc phải theo. Nếu khối lượng thi công lớn kết cấu nhịp phải cắt khúc và tiến hành thi công phân đoạn theo một trong những biện pháp sau. + Đúc trên đà giáo cố định + Đúc tại chỗ trên đà giáo di động + Đúc đẩy + Đúc hẫng cân bằng 2.
Công nghệ thi công theo phương pháp đà giáo cố định - Nhược điểm: + Đà giáo cố định bằng gỗ hoặc bằng thép bố trí ngay bên dưới của nhịp cầu đổ bê tông dẫn đến không đảm bảo tĩnh không dưới cầu, chịu ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên ( địa hình, địa chất, thủy văn…). Khi muốn di chuyển tới vị trí khác phải tháo dỡ hoàn toàn. Vì vậy thi công bằng đà giáo cố định đòi hỏi lượng lớn chi phí và nhân công. + Thi công trên đà giáo cố định rất nhạy cảm với biến dạng của đà giáo, dễ phát sinh các vết nứt trong quá trình bê tông ninh kết do biến dạng đà giáo, vì vậy khi thi công phải có biện pháp tạo độ vồng cho đà giáo + Khi thi công kết cấu ứng suất trước phải áp dụng biện pháp kéo sau.
SVTH: TRẦN VĂN TỨ 15 TIỂU LUẬN CÔNG NGHỆ XD CẦU GVHD: Th.S PHẠM XUÂN HÒA + Sau khi bê tông đã đủ khả năng chịu được trọng lượng bản thân mới được tiến hành hạ giáo làm cho thời gian thi công kéo dài.