Định Kiến Giới Về Tính Cách Nữ Nông Dân Khu Vực Đồng Bằng Sông Hồng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu định kiến giới về tính cách nữ nông dân khu vực đồng bằng sông hồng luận án ts tâm lý học xã hội, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Tâm lý học xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

249
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Định Kiến Giới Về Tính Cách Nữ Nông Dân

Định kiến giới (ĐKG) là một hiện tượng tâm lý phổ biến, ảnh hưởng sâu sắc đến vai trò giớibất bình đẳng giới. Trên toàn cầu, xóa bỏ định kiến giới và phân biệt đối xử với phụ nữ là mục tiêu quan trọng. Dù đã có tiến bộ, sự phân biệt giới vẫn còn tồn tại tinh vi. Nghiên cứu để nhận diện các biểu hiện của định kiến giới trong đời sống hiện tại là rất cần thiết. Định kiến giới với phụ nữ dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực, hạn chế cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, và trao quyền. Trong những trường hợp cực đoan, định kiến giới còn là nguyên nhân của bạo lực và tổn thương tâm lý. Nước ta, với ảnh hưởng của Nho giáo, định kiến giới tồn tại sâu bền qua nhiều thế hệ. Việc nghiên cứu về định kiến giới đối với nữ nông dân là vô cùng quan trọng để góp phần nâng cao vị thế của họ trong xã hội.

1.1. Tổng Quan Nghiên Cứu Về Định Kiến Giới

Các nghiên cứu về định kiến giới ngày càng phong phú trên tạp chí, sách báo, đề cập đến định kiến giới ở nhiều góc độ khác nhau. Các nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng của khuôn mẫu giới đối với phụ nữ trong các lĩnh vực như giáo dục, lãnh đạo, và quản lý. Tuy nhiên, vẫn còn thiếu những nghiên cứu chuyên sâu về định kiến giới đối với tính cách của nữ nông dân. Do đó, việc nghiên cứu về định kiến giới đối với nữ nông dân khu vực Đồng Bằng Sông Hồng (ĐBSH) là cần thiết.

1.2. Tính Cấp Thiết Của Nghiên Cứu Định Kiến Giới

So với những người phụ nữ được đào tạo, định kiến giới đối với nữ nông dân có xu hướng gay gắt hơn. Phần lớn họ là những người phụ nữ nghèo, ít được đào tạo, dễ bị tổn thương. Đồng bằng sông Hồng là vùng kinh tế trọng điểm với nền sản xuất nông nghiệp quan trọng và dân số nông thôn lớn. Do ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, nữ nông dân vẫn là đối tượng của định kiến giới.

II. Thách Thức Ảnh Hưởng Của Định Kiến Giới Lên Nữ Nông Dân

Ảnh hưởng của định kiến giới lên nữ nông dân khu vực Đồng Bằng Sông Hồng là rất lớn. Nó tạo ra những rào cản vô hình, hạn chế sự phát triển và tiềm năng của họ. Định kiến giới kìm hãm nữ nông dân trong những khuôn mẫu giới truyền thống, khiến họ khó có thể tham gia vào các hoạt động xã hội, kinh tế, và chính trị một cách bình đẳng. Sự bất bình đẳng giới này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của nữ nông dân và sự phát triển của cộng đồng nông thôn. Cần có những giải pháp thiết thực để xóa bỏ định kiến giới và tạo điều kiện cho nữ nông dân phát huy tối đa tiềm năng của mình.

2.1. Vai Trò Giới Và Sự Phân Công Lao Động Trong Gia Đình

Định kiến giới ảnh hưởng đến sự phân công lao động trong gia đình, khiến nữ nông dân phải gánh vác nhiều công việc nhà hơn so với nam giới. Điều này gây ra áp lực lớn về thời gian và sức khỏe cho họ, hạn chế khả năng tham gia vào các hoạt động kinh tế và xã hội. Vai trò giới truyền thống cũng khiến nữ nông dân ít có cơ hội học tập, nâng cao trình độ, và phát triển bản thân. Thay đổi sự phân công lao động bất hợp lý sẽ giúp giảm bớt gánh nặng cho nữ nông dân.

2.2. Hạn Chế Tiếp Cận Giáo Dục Và Cơ Hội Phát Triển

Định kiến giới có thể khiến nữ nông dân ít có cơ hội tiếp cận giáo dục và các chương trình đào tạo. Quan niệm khuôn mẫu giới cho rằng phụ nữ chỉ nên làm công việc nhà và chăm sóc gia đình, khiến việc đầu tư vào giáo dục cho nữ nông dân bị coi nhẹ. Điều này dẫn đến sự thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng, hạn chế khả năng thích ứng với những thay đổi của thị trường lao động và sự phát triển của nông nghiệp.

III. Giải Pháp Cách Thay Đổi Định Kiến Giới Về Nữ Nông Dân

Thay đổi định kiến giới là một quá trình lâu dài và cần sự chung tay của toàn xã hội. Cần có những biện pháp đồng bộ từ giáo dục, truyền thông, đến chính sách để xóa bỏ những khuôn mẫu giới lỗi thời và tạo điều kiện cho nữ nông dân phát huy tối đa tiềm năng của mình. Việc nâng cao nhận thức về bình đẳng giới và trao quyền cho nữ nông dân là rất quan trọng. Nữ quyền cần được đẩy mạnh hơn nữa, đồng thời cần có sự thay đổi từ chính bản thân nữ nông dân để xây dựng một xã hội bình đẳng và phát triển.

3.1. Giáo Dục Về Bình Đẳng Giới Từ Gia Đình Đến Nhà Trường

Giáo dục về bình đẳng giới cần được bắt đầu từ gia đình, nhà trường, và cộng đồng. Cần loại bỏ những nội dung mang tính định kiến giới trong sách giáo khoa và các chương trình giáo dục. Cha mẹ cần giáo dục con cái về sự bình đẳng giữa nam và nữ, khuyến khích con gái theo đuổi những ước mơ và hoài bão của mình. Các hoạt động ngoại khóa và các câu lạc bộ về nữ quyền cũng cần được khuyến khích phát triển.

3.2. Truyền Thông Về Hình Ảnh Tích Cực Của Nữ Nông Dân

Truyền thông đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi định kiến giới. Cần xây dựng những hình ảnh tích cực về nữ nông dân trên các phương tiện truyền thông đại chúng, cho thấy sự đóng góp to lớn của họ vào sự phát triển của kinh tế nông thôn và xã hội. Cần tránh những stereotype tiêu cực về nữ nông dân và tôn vinh những tấm gương nữ nông dân thành công, có những đóng góp tích cực cho cộng đồng.

IV. Nghiên Cứu Thực Tiễn Thực Trạng Định Kiến Giới Ở ĐBSH

Nghiên cứu thực tiễn về định kiến giới đối với nữ nông dân khu vực Đồng Bằng Sông Hồng cho thấy vẫn còn tồn tại những quan niệm xã hộikhuôn mẫu giới tiêu cực. Tuy nhiên, mức độ định kiến giới đã giảm so với trước đây, cho thấy những nỗ lực thúc đẩy bình đẳng giới đã có những tác động tích cực. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng định kiến giới thể hiện rõ hơn ở nhóm nam giới, nhóm người có trình độ học vấn thấp hơn, và nhóm người làm nghề nông nghiệp.

4.1. Mức Độ Định Kiến Giới Về Tính Cách Của Nữ Nông Dân

Nghiên cứu cho thấy định kiến giới về tính cách của nữ nông dân vẫn tồn tại trên cả ba mặt: nhận thức, xúc cảm, và hành vi. Tuy nhiên, mức độ định kiến giới ở mặt nhận thức có xu hướng thấp hơn so với mặt xúc cảm và hành vi. Điều này cho thấy, nhiều người đã nhận thức được sự bất bình đẳng giới, nhưng vẫn còn gặp khó khăn trong việc thay đổi cảm xúc và hành vi của mình.

4.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Định Kiến Giới

Nghiên cứu cũng xác định được một số yếu tố ảnh hưởng đến định kiến giới đối với nữ nông dân, bao gồm: tư tưởng phong kiến, sự duy trì định kiến giới trên các phương tiện truyền thông, sự tự định kiến giới của chính nữ nông dân, và sự thiếu hụt về cơ hội phát triển. Các yếu tố này cần được giải quyết đồng bộ để giảm thiểu tác động tiêu cực của định kiến giới.

V. Ứng Dụng Giải Pháp Giảm Thiểu Định Kiến Giới Cho Nữ Nông Dân

Để giảm thiểu định kiến giới cho nữ nông dân, cần có những giải pháp cụ thể và thiết thực. Các giải pháp này cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức, trao quyền kinh tế, và thúc đẩy sự tham gia của nữ nông dân vào các hoạt động xã hội và chính trị. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, và cộng đồng để tạo ra một môi trường bình đẳng và hỗ trợ cho nữ nông dân.

5.1. Trao Quyền Kinh Tế Cho Nữ Nông Dân

Trao quyền kinh tế cho nữ nông dân là một trong những giải pháp quan trọng để giảm thiểu định kiến giới. Cần tạo điều kiện cho nữ nông dân tiếp cận các nguồn vốn, kỹ thuật, và thị trường. Các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp và phát triển kinh doanh cho nữ nông dân cần được đẩy mạnh. Đồng thời, cần có những chính sách bảo vệ quyền lợi của nữ nông dân trong các hoạt động kinh tế.

5.2. Khuyến Khích Sự Tham Gia Của Nữ Nông Dân Vào Chính Trị

Sự tham gia của nữ nông dân vào các hoạt động chính trị là rất quan trọng để đảm bảo quyền lợi của họ được bảo vệ. Cần khuyến khích nữ nông dân tham gia vào các tổ chức xã hội, các hoạt động bầu cử, và các quá trình ra quyết định. Đồng thời, cần có những chính sách hỗ trợ nữ nông dân đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo trong cộng đồng.

VI. Tương Lai Hướng Đến Xóa Bỏ Định Kiến Giới Về Nữ Nông Dân

Hướng đến tương lai, cần có những nỗ lực không ngừng để xóa bỏ định kiến giới về nữ nông dân. Điều này đòi hỏi sự thay đổi sâu sắc về quan niệm xã hội và hành vi của mỗi cá nhân. Cần xây dựng một xã hội tôn trọng sự đa dạng và bình đẳng, nơi mà nữ nông dân được công nhận và đánh giá cao về những đóng góp của họ. Sự phát triển bền vững của nông thôn và xã hội không thể thiếu vai trò của nữ nông dân.

6.1. Phát Triển Nông Thôn Gắn Liền Với Bình Đẳng Giới

Sự phát triển nông thôn bền vững cần gắn liền với bình đẳng giới. Cần đảm bảo rằng nữ nông dân được hưởng lợi từ những thành quả của sự phát triển kinh tế và xã hội. Các chính sách phát triển nông thôn cần quan tâm đến nhu cầu và quyền lợi của nữ nông dân, đồng thời tạo điều kiện cho họ tham gia vào các quá trình ra quyết định.

6.2. Vai Trò Của Nghiên Cứu Trong Việc Thay Đổi Định Kiến

Nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi định kiến giới. Các nghiên cứu về định kiến giới đối với nữ nông dân cần được tiếp tục thực hiện để cung cấp những bằng chứng khoa học cho các chính sách và chương trình hành động. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cần được phổ biến rộng rãi để nâng cao nhận thức của cộng đồng về vấn đề này.

28/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo, danh mục các công trình đã công bố, phụ lục, luận án gồm 4 chƣơng.diem) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.diem) Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU Ở NƢỚC NGOÀI Từ những năm 70 (thế kỷ XX) khi các phong trào nữ quyền trên thế giới phát triển mạnh, các nhà khoa học đi tìm căn nguyên, cơ chế, giải pháp cho những bài toán về giới, lý giải về địa vị thấp kém của ngƣời phụ nữ so với nam giới….Dƣới góc độ tâm lý học xã hội, tổng kết các công trình nghiên cứu về ĐKG, ĐKG liên quan đến tính cách ngƣời phụ nữ, có thể nêu một cách khái quát một số hƣớng nghiên cứu chính nhƣ sau: 1. Một số lý thuyết cơ bản lý giải về nguồn gốc hình thành định kiến giới Có nhiều các lý thuyết khác nhau lý giải nguồn gốc hình thành định kiến giới. Sau đây là một số lý thuyết: a.

Lý thuyết học tập xã hội (Theories of social learning) Đại biểu của lý thuyết này là Albert Bandura - ngƣời đã đem ứng dụng lý thuyết học tập xã hội trong tâm lý học xã hội (1979). Tiếp cận học tập xã hội đƣa ra 2 cơ chế chính để giải thích cách trẻ em học tập các hành vi liên quan đến giới: cơ chế thứ nhất là sự củng cố, cơ chế thứ hai là học bằng quan sát và sự bắt chƣớc. Theo cơ chế thứ nhất, trẻ em đƣợc thƣởng với “hành vi phù hợp với giới” và bị trừng phạt vì “hành vi không phù hợp với giới”. Đây là một cách để củng cố những hành vi phù hợp.

Qua đó, một đứa trẻ trai sẽ học cách ứng xử theo kiểu “con trai” và một đứa trẻ gái sẽ học cách ứng xử theo kiểu “con gái”. Theo cơ chế thứ hai: đứa trẻ học tập bằng cách quan sát ngƣời khác và làm theo họ, quá trình này gọi là bắt chƣớc. Đứa trẻ bắt chƣớc những ngƣời cùng giới tính với nó hoặc ngƣời tán dƣơng hành động của chúng (cha, mẹ, bạn bè,…), hoặc bắt chƣớc những cách ứng xử trong sách, vở (truyện, tranh, sách giáo khoa,. Thông qua hai cơ chế này, đứa trẻ dễ dàng học đƣợc các hành vi phù hợp với những khuôn mẫu giới sẵn có ngay từ thời thơ ấu và tiếp tục tồn tại trong suốt thời kỳ trƣởng thành, dƣới sự củng cố liên tục của các yếu tố văn hóa và truyền thông 7 (LUAN.diem) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Vì vậy, những định kiến giới dần đƣợc hình thành [106]. Nhƣ vậy, theo lý thuyết học tập xã hội, những khuôn mẫu giới, định kiến giới tồn tại sẵn trong nền văn hóa, biểu hiện trong hành vi ứng xử của ngƣời nam giới và PN trong đời sống hàng ngày là nguồn gốc của quá trình hình thành ĐKG ở con ngƣời. Lý thuyết này đã gợi ý cho chúng tôi xem xét yếu tố duy trì ĐKG về tính cách ngƣời nữ nông dân từ những tƣ tƣởng “trọng nam, khinh nữ” còn tồn tại trong cuộc sống xã hội hiện nay. Thuyết nhận thức Các đại biểu của thuyết này là Koffka, Kohler, Kurt Lewin,….Lý thuyết này cho rằng: trẻ em phát triển các sơ đồ giới, tổ chức thông tin về bản thân chúng và về nửa còn lại của thế giới theo những mẫu hình về nam giới và phụ nữ mà chúng tìm thấy trong nền văn hóa.

Sơ đồ giới này bao gồm những thứ mà đứa trẻ biết về giới và chúng khuyến khích trẻ em nghĩ và hành động theo những cách dập khuôn giới, đồng nhất với sơ đồ giới. Cùng với việc sử dụng lặp lại, sơ đồ giới trở nên tự động hóa. Theo Kohlberg, khi đã hình thành kiến thức về giới, mối quan hệ tƣơng tác giữa hành vi và suy nghĩ của một ngƣời nam hay nữ sẽ tạo nên bản sắc giới ổn định, hay còn gọi là sự bất biến về giới, sau đó một trẻ nam hay nữ sẽ thực hiện các hành vi, hình thành các phẩm chất cá nhân theo khuôn mẫu giới trong xã hội, gọi là quá trình đồng nhất giới. Sự đồng nhất giới đƣợc coi là yếu tố tổ chức và điều hành cơ bản quá trình học hỏi các khuôn mẫu giới và rèn luyện định kiến giới ở trẻ em [106].

Có rất nhiều điểm giống với lý thuyết học tập xã hội. Thuyết nhận thức cũng lý giải về nguồn gốc của những biểu tƣợng về giới đƣợc hình thành trong đầu óc con ngƣời bắt nguồn từ những sơ đồ giới có sẵn trong nền văn hóa. Những sơ đồ giới này có tác dụng điều chỉnh hành vi của con ngƣời theo khuôn mẫu giới. Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi sẽ xem xét xem ĐKG ở mặt nhận thức có dự báo đƣợc ĐKG ở mặt hành vi hay không? c.

Thuyết phân tâm học Đại biểu là Sigmun Freud và một vài ý kiến đƣợc phát triển bởi Chodorow (1978). Lý thuyết phân tâm học lý giải các hành vi giới của nam và nữ là khác biệt, sự khác biệt này dựa trên khác biệt sinh học và mối quan hệ tay ba bố - mẹ - con.diem) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Freud cho rằng: Giải phẫu của ngƣời PN quyết định số mệnh của họ - đây là nguồn gốc lý giải địa vị hạng hai của ngƣời PN. Ông cho rằng, đặc điểm sinh học của ngƣời PN quyết định tâm lý, năng lực và vai trò của họ trong xã hội. Theo ông, những đặc điểm nam tính mới là những đặc điểm mang tính Ngƣời đầy đủ, còn khái niệm nữ tính là một con ngƣời lệch lạc do thiếu dƣơng vật.

Vì thế, toàn bộ cấu trúc tâm lý của PN xoay quanh vấn đề đấu tranh để bù trừ sự thiếu hụt [106, tr. Nhƣ vậy, thuyết phân tâm lý giải về địa vị thấp kém của PN so với nam giới đơn thuần chỉ là từ sự khác biệt về đặc điểm cơ thể của ngƣời PN so với nam giới. Những lý giải này có thể dẫn tới việc coi những ĐKG tiêu cực về ngƣời PN là đúng đắn, hợp lý và nó có thể trở thành nguyên nhân duy trì những ĐKG. Thuyết vai trò xã hội (Social role theory) Đại biểu là Taviris và Eagly là hai tác giả tiêu biểu cho lý thuyết vai trò về sự phát triển và phân hóa giới.

Lý thuyết vai trò xã hội nhấn mạnh rằng sự khác biệt giới trong hành vi xã hội của nam và nữ chịu ảnh hƣởng mạnh mẽ bởi các vai trò xã hội mà họ đóng. Mỗi một vai trò mà nam hoặc nữ đảm nhận đều đƣợc xã hội mong đợi khác nhau. Các quan niệm về vai trò xã hội truyền thống có ảnh hƣởng đến hành vi ứng xử của mỗi giới tính. Khi nam giới và PN thực hiện các vai trò khác nhau theo giới tính, họ sẽ bị đánh giá và bị trừng phạt.

Sự đánh giá và trừng phạt có thể diễn ra ở bên ngoài hay bên trong nội tâm. Sự khác biệt giới là do sự khác biệt vai trò, mà các vai trò xã hội thƣờng dẫn đến các khuôn mẫu xã hội. Song thực tế, các khuôn mẫu giới luôn thay đổi chậm hơn so với sự biến đổi của xã hội. Điều này mang đến căng thẳng tâm lý cho những cá nhân một mặt đang thể nghiệm những vai trò giới trong thực tế, trong khi vẫn chịu áp lực của những khuôn mẫu giới vốn chậm biến đổi [106] Trong giai đoạn hiện nay, khi vai trò xã hội thực tế của ngƣời nam giới và PN thay đổi rất nhanh, đặc biệt là sự đảm đƣơng vai trò kinh tế của ngƣời PN, song những quan niệm mang định kiến về vai trò giới lại thay đổi chậm chạp hơn.

Điều này khiến cho những khuôn mẫu giới về tính cách ngƣời PN xƣa trở nên không còn phù hợp trong xã hội hiện tại. Nhƣ vậy, các lý thuyết khác nhau lý giải về nguồn gốc hình thành ĐKG là khác nhau. Ba lý thuyết: học tập xã hội, thuyết nhận thức, thuyết vai trò xã hội đều 9 (LUAN.diem) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.diem) nhấn mạnh yếu tố xã hội dẫn đến việc hình thành ĐKG. Thuyết phân tâm cho rằng sự ƣu việt về mặt sinh học của nam so với nữ là nguyên nhân cơ bản khiến những ĐKG đƣợc duy trì.

Các quan niệm này vẫn cùng song song tồn tại và ảnh hƣởng đến việc duy trì những ĐKG đối với ngƣời PN. Song những nghiên cứu về giới đã chỉ ra những đặc điểm giới là do đƣợc hình thành chứ không phải đƣợc sinh ra. Do đó, những ĐKG đối với ngƣời PN cũng là kết quả của quá trình xã hội hóa là quan điểm đƣợc chứng minh trong phần lớn các nghiên cứu hiện nay. Nghiên cứu định kiến giới về tính cách ngƣời phụ nữ.

Những nghiên cứu về khuôn mẫu giới “nam tính”, “nữ tính” Từ những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến những ĐKG đối với tính cách ngƣời PN. Nghiên cứu về sự khác biệt giới trong đặc điểm tính cách, Broverman và các cộng sự của ông (1972) nghiên cứu trên sinh viên các trƣờng chuyên nghiệp dự đoán “kiểu mẫu đàn ông” và “kiểu mẫu phụ nữ” dựa vào một bảng thống kê các đặc điểm. Những đặc điểm mà ít nhất 75% sinh viên nghĩ là đặc điểm của đàn ông thì đƣợc xếp vào cột bên trái, những đặc điểm có ít nhất 75% sinh viên nghĩ là đặc điểm của phụ nữ thì đƣợc xếp vào cột bên phải. Kết quả mô tả những đặc điểm “nam tính”, “nữ tính” nhƣ sau: Đặc điểm nam tính Đặc điểm nữ tính  Gây hấn  Nói nhiều  Độc lập  Tế nhị  Lãnh đạm  Hòa nhã  Tự tin  Cẩn thận, chu đáo  Rất khách quan  Nhạy cảm  Thích toán học và khoa học  Quan tâm đến diện mạo  Chủ động  Ngăn nắp  Đua tranh  Điềm tĩnh  Suy luận lôgic  Dễ xúc động  Thực tế  Thích văn học nghệ thuật  Tự tin  Có khả năng diễn đạt cảm nghĩ  Đƣơng đầu  Sử dụng ngôn ngữ bóng gió  Mạo hiểm  Phụ thuộc 10 (LUAN.diem) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.diem) Broverman đã gom lại các đặc điểm nam tính và nữ tính và đi đến kết luận: Nam giới đƣợc xem là có các đặc điểm liên quan đến năng lực và do đó thiên về công việc nhiều hơn, trái lại nữ giới đƣợc xem là mang đặc điểm diễn cảm, đầm ấm và do đó thiên về con ngƣời nhiều hơn.

Vì năng lực đƣợc truyền thống xã hội xem trọng nhiều hơn là diễn cảm và đầm ấm nên sự khác nhau nhận thấy giữa nam và nữ mang thành kiến ủng hộ nam nhiều hơn [dẫn theo Trần Thị Minh Đức, 24, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ