phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được cấu trúc thành 3 chương: - Chương |. Cơ sở khoa hoc và phương pháp nghiên cứu; - Chương 2. Cảnh quan đới bờ biển tỉnh Phú Yên; - Chương 3. Đánh giá dịch vụ cảnh quan và định hướng không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đới bờ tỉnh Phú Yên.
CƠ SO KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tông quan các công trình nghiên cứu có liên quan đên đê tài 1. Hướng nghiên cứu hoạch định không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bao vệ môi trường đới bờ biển Hầu hết các khu vực ven biển trên thế giới là khu vực đa dụng (multi-use), nơi diễn ra các hoạt động khác nhau của con người. Các khu vực ven biển thu hút nhiều cách sử dụng đôi khi chồng chéo lên nhau gây ra các tác động bắt lợi cho nhau (xung đột người sử dung) [66] hoặc tác động đến môi trường biển ven bờ (xung đột giữa người dùng và môi trường).
Quản lý xung đột giữa những người sử dụng tài nguyên ven biển và ngăn chặn thiệt hại về môi trường có thê đạt được qua Quy hoạch không gian trên phan đất liền và khu vực biển ven bờ. Trong thực tiễn, việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường thường được gắn kết trong quy hoạch không gian. Quy hoạch không gian bao trùm nhiều lĩnh vực: sử dụng đắt, tái tạo đô thị, vùng, giao thông, kinh tế. có ảnh hưởng đến sự phân bố các hoạt động theo không gian trong tương lai.
Nó nhằm mục đích hình thành khung tổ chức lãnh thé hợp lý hơn trong việc sử dụng tài nguyên, trong tâm đất đai và mối liên hệ giữa chúng, cân bằng nhu cầu phát triển với nhu cầu bảo vệ môi trường và đạt được các mục tiêu kinh tế và xã hội. Một loại quy hoạch khác - Quy hoạch bảo vệ môi trường hướng đến bảo đảm tối ưu trên lãnh thé với sự tái sản xuất xã hội của tat cả các lĩnh vực, các ngành trong vùng, thông qua hợp lý sử dụng không gian theo hướng phát triển bền vững [94]. Quan điểm của quy hoạch không gian nêu trên cũng được áp dụng trong quy hoạch không gian biên (QHKGB) nhằm đối phó với suy thoái môi trường của các khu vực biên [107]. Theo Ủy ban Hải dương học Liên Chính phủ của UNESCO [73]: “OHKGB là một quá trình phan tích và phân bồ các phan của không gian biển theo không gian ba chiêu cho các mục đích sử dụng cụ thể, để đạt được mục tiêu sinh thải, kinh tế và xã hội, thường được xác định thông qua tiến trình chính tri”.
QHKGB gan đây càng được quan tâm vi đã thúc day và hỗ trợ, giúp giải quyết các xung đột phức tạp ở vùng ven biên và biển trong chiến lược phát triển kinh tế biển [73, 74]. Đó là một quá trình dé cải thiện việc ra quyết định và tiếp cận dựa trên cảnh quan, HST nhằm quản lý các hoạt động của con người trong môi trường biển. Tại Việt Nam, Lê Đức An (2013) [1] đã nêu ra một số đặc điểm địa lý học của đới bờ biển, đồng thời định hướng một số vấn đề khai thác, sử dụng. Hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường luôn đi song hành trong các quy hoạch môi trường hay quy hoạch bảo vệ môi trường ở quy mô cấp tỉnh [15] và cấp huyện [13].
Ở quy mô quốc gia, trong Chương trình KC 09/16-20, Trần Đức Thạnh và nnk. (2020) [40] đã thực hiện đề tài về Phương án quy hoạch không gian biển Vinh Bắc Bộ, trong đó đã phản ánh nội hàm của QHKGB là QHKG sử dụng tài nguyên biển theo các không gian khác nhau. Nguyễn Chu Hồi (2015) [10] đã xây dựng quy hoạch không gian biển cho thành phố Hải Phòng. Hướng tiếp cận cảnh quan trong sử dụng hợp lý tài nguyên đới bờ biển 1.
Các khái niệm, quan điểm về cảnh quan, cảnh quan biển và đới bờ biển - Cảnh quan: Cảnh quan (CQ) từ những ngày đầu tiên được hiểu với nghĩa là phong cảnh trong hội họa, kiến trúc, du lịch. Trong quá trình phát triển của xã hội, nhận thức của cảnh quan được hoàn thiện hơn dưới góc độ khoa học. Khi nghiên cứu tải nguyên thiên nhiên trên lục địa, CQ như một tổng hợp thé lãnh thé tự nhiên hay một địa hệ [18] được cấu tạo bởi các hợp phần tự nhiên (Đá mẹ, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng và sinh vật) tương tác với nhau bởi dòng vật chất và năng lượng. Các hợp phần thành tạo CQ tự nhiên này phù hợp với các vùng chưa hoặc it bi tác động của con người.
Từ giữa thế kỷ XX con người đã tác động mạnh vào thiên nhiên, làm cho thiên nhiên bị biến đối theo các cấp độ khác nhau. Lúc này nảy sinh khái niệm cảnh quan thiên nhiên bị biến đổi [18, 131] hay cảnh quan nhân sinh, và biến đồi rất mạnh, thành tạo các CQ mới với khía cạnh tích cực như năng suất cao, tác động tiêu cực ít nhất; cảnh quan này gọi là CQ văn hóa [18, 131, 132]. Các nhà địa lý nhấn mạnh rằng hoạt động của con người là yếu tố quyết định là biến đổi hoặc thành tạo CQ mới trên nền của CQ tự nhiên. - Cảnh quan biển: xuất hiện từ khoảng cuối thế kỷ XIX, thường được sử dụng bang các thuật ngữ như: cảnh quan biển - “marine landscape, seascape”, môi trường song của biên - “marine habitat”, sinh cảnh biến - “marine biotope”.
Thuật ngữ CQ biển được sử dụng chủ yếu khi phân kiểu CQ bằng cách sử dụng kết hợp các thành phan phi sinh vật và hữu cơ, các sinh cảnh khác được sử dụng đồng nghĩa khi phân chia môi trường sống của các quần xã sinh vật biển. Trong hướng dẫn kỹ thuật đánh giá đặc tính cảnh quan biển (SCA) của châu Âu, cảnh quan biển được (seascape) được định nghĩa là: “Một khu vực của biển, bờ biển và đất liền với những đặc điểm đặc trưng là hệ quả của tương tác của đất liên với biển, bởi các yếu tô tự nhiên và/hoặc con người” [105]. Tuyên bố chính sách biển của Vương quốc Anh ủng hộ định nghĩa này về cảnh quan biển và bồ sung tuyên bố chính sách: “Cảnh quan biển nên được hiểu với nghĩa cảnh quan gắn với bờ biển hoặc biển và các yếu tố môi trường biển xung quanh về các khía cạnh có mối quan hệ với nhau nhu văn hóa, lịch sử và khảo cổ”. Theo đó, cảnh quan biển bao ham cả khía cạnh tài nguyên cũng như đặc điểm đặc trưng của vùng biển [121].
Dưới quan điểm sinh thái cảnh quan biên, Pittman (2017) [109] định nghĩa “Cảnh quan biển (seascape) là không gian không đông nhất và động, có thể được phân định ở một phạm vi rộng về thời gian và không gian”. Hệ thong phân loại cảnh quan, đặc điểm cầu trúc cảnh quan đới bờ a) Phân loại và phân vùng cảnh quan trên dat liên Hiện nay, trường phái cảnh quan học Nga (Liên Xô cũ) và Việt Nam tồn tại 3 quan niệm về cảnh quan: 1. Quan niệm cảnh quan là khái niệm chung; 2. Quan niệm kiêu loại (phân kiểu); 3.
Quan niệm cá thé (phân vùng). Quan niệm cảnh chung được sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, bao hàm cả trong phân loại và phân vùng cảnh quan. Phân loại đã được coi là vẫn đề cốt lõi của nghiên cứu cảnh quan kê từ đầu thế kỷ XX. Có hai hệ thống phân loại CQ ưu thế ở Liên Xô cũ: A.
Ixatsenko (1969, 1991) [19, 131] xây dựng theo hệ phân vị của các đơn vị đồng phụ thuộc gồm 8 cấp: kiểu, phụ kiểu, lớp, phụ lớp, loại, phụ loại và thể loại. Theo Nikolaev (2006) [132], hệ thống đơn vị phân loại gồm: thống, hệ, phụ hệ, bộ (được phân chia trong phạm vi xứ dia ly tự nhiên), lớp, phụ lớp, nhóm, kiểu, phụ kiểu, hạng, phụ hạng, loại, loại phụ (tr. Theo Công ước về cảnh quan Châu Âu [75]: "Đặc điểm cảnh quan là một biểu hiện từ sự kết hợp đặc biệt của các yếu tổ tự nhiên và văn hoá làm cho một nơi khác biệt với các nơi khác, tốt hơn hoặc tệ hơn". Các phương pháp đánh giá đặc điểm cảnh quan (LCA) được phát triển ở Anh và Pháp vào đầu những năm 1990 và đã trở thành hướng nghiên cứu cảnh quan quan trọng trên khắp lãnh thé châu Âu [63, 123].
Mục tiêu của chúng nhằm tích hợp các khía cạnh tự nhiên, văn hóa của cảnh quan và nhận thức của con người trong việc định hướng không gian phục vụ quy hoạch và phát triển. Phân tích toàn diện về phân loại cảnh quan ở Châu Âu [84] cho thấy sự khác biệt đáng ké giữa các hệ thống phân loại khác nhau được áp dụng cho các quốc gia Châu Âu. Một tập hợp các đặc tính cảnh quan, được chỉ ra trong việc thành lập bản đồ phân loại cảnh quan và đánh giá đặc điểm canh quan: (1) các yếu tố môi trường vô sinh và hữu sinh; (2) các vấn đề sinh thái cảnh quan; (3) các đặc tính về KT - XH - KT; (4) đặc tính lịch sử; (5) đặc tính mỹ học nhân văn; và (6) sự tham gia của các bên liên quan và chính sách. Nguyễn Cao Huan và nnk (2009) đã phân vùng cảnh quan lãnh thé Việt Nam — Lào (đất liền và biển ven bờ) [14].
b) Phân loại và phân vùng cảnh quan biển * Châu Au và Bắc Mỹ: đã chú trọng van đề phân kiéu/loai cảnh quan biển. Vincent et al. (2004) [124] đã công bố 3 nhóm loại cảnh quan biển với khái niệm được xác định như sau: - CO biển ven bờ như vịnh hep và cửa sông nơi đáy biên và khôi nước có mỗi liên kết chặt chẽ với nhau; cả đáy biển và lớp nước phía trên đều là thành phan của cảnh quan biển. - CO đáy biển (bao gom các đặc điểm địa hình và đặc điểm sinh thái đáy) xuất hiện cách xa bờ biển, tức là đáy biển của vùng biển mở; các cảnh quan biển bao gồm đáy biển và lớp nước tiếp xúc nền đáy.
- Cảnh quan khối nước (biển) của vùng biển mở, chang hạn như các khối nước hỗn hợp và phân tầng, các hệ thống front; các cảnh quan biển bao gồm khối nước phía trên của lớp nước tiếp xúc nền đáy. Khái niệm phân loại và lập bản đồ cảnh quan biên được đưa ra theo quan điểm về bảo tồn thiên nhiên biển của Canada [114]. Các tác giả đã áp dụng cảnh quan biển như một công cụ hỗ trợ lập kế hoạch mạng lưới các Khu bảo tồn (KBT) biển đại điện bảo vệ một số lượng nhất định các cảnh quan biển.