Chương 1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU I, NHỮNG VAN DE LIEN QUAN ĐẾN GIÁ TRỊ VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRI Giá trị là một khái niệm được nghiên cứu trên phạm vi rất rộng. Theo nghiên cứu của các nhà giá trị học, thì những hiểu biết về giá trị và giá trị học có từ thời xa xưa, tuy nhiên chưa xuất hiện chính thức với tư cách là một khái niệm khoa học. Mãi đến cuối thế kỷ XIX, giá trị học mới tách ra thành một lĩnh vực khoa học độc lập và thuật ngữ giá trị được dùng để chỉ một khái niệm khoa học. Lúc đầu khái niệm giá trị được sử dụng chủ yếu trong kinh tế để chỉ tính có ích của hàng hoá.
Sau này được sử dụng rộng rãi hơn trong các ngành khoa học xã hội = nhắn văn. Năm 1902, Thomas và Zananiecki đã dùng khái niệm giá trị trong tác phẩm “The Polish peasant in Europe and American” (Người nông din Balan ở Châu Au và Châu Mj). Các nhà tâm lý học sử dụng một số thuật ngữ liên quan như thai độ, nhu cẩu, tình cảm, thiên hướng, sở thích, cảm hứng, động cơ, giá trị. Các nhà xã hội học và chính trị học quy chiếu vào mối quan tâm đạo đức, ý thức hệ, chuẩn mực, thái độ, nhân quyền, trách nhiệm, văn hoá, phong cách sống.
Trong những năm của thập kỷ vừa qua, vấn để giá trị và định hướng giá trị ngày cảng được nhiều nước quan tâm, Cụ thể là đã có những công trình nghiên cứu đặc biệt về giá trị và định hướng giá trị mang tim vóc thế giới. Các nhà khoa học Đức chú ý nghiên cứu giá trị xã hội nhằm khẳng định lối sống con người, nhân biệt những vấn để có tính chất sống còn trên bình diện các sự kiện, sự việc và khả năng thực tế, -13- Các nhà khoa hoc Balan, mà tiêu biểu là nhà xã hội học Szerepaski thì xem giá trị như là nhu cẩu và lợi ich, là đối tượng vật chất và tính than mà con người coi trọng, gan gũi và chiếm đoạt, Các nhà khoa học Nga, tiêu biểu là Tagarnop thì chú trọng nghiên cứu mặt giá trị về lợi ích và hứng thú của con người, coi đó như là nguyên liệu để thoả mãn, đồng thời cũng là những ý tưởng, ý định với tư cách là chuẩn mực, mục dich, lý tưởng và nhắn cách. Năm 1977 - 1978, các công trình nghiên cứu giá trị và định hướng giá trị của thanh niên được chú ý tại các Trung tim nghiên cứu khoa học về thanh niên ở Bungary, Đa phẩn, các công trình này tập trung nghiên cứu về giáo dục đạo đức, những vấn để định hướng giá trị cho thanh niên, và đặc biệt là sự khác biệt trong thang giá trị của thanh niên so với thé hệ cha ông. Năm 1985, Viện nghiên cứu thế giới của Nhật Ban đã chú trọng nghiên cứu thanh niên của II quốc gia lứa tuổi 18 - 24.
Tiếp theo đó, Viện khảo sát xã hội Châu Âu nghiên cứu trên thanh niên 6 10 nước Châu Âu. CA hai cuộc điểu tra này đều để cập chủ yếu đến vấn để giá trị và định hướng giá trị của thanh niên nhằm chuẩn bi cho họ bước vào cuộc sống. Năm 1987, Ở Hungary, Szabo lldiho và một nhóm nghiên cứu đã có chương trình nghiễn cứu về giá trị và định hướng giá trị của thanh niên độ tuổi 14 - 30. Năm 1986 - 1987, UNESCO đã để nghị The Club of Rome tiến hành điều tra quốc tế về giá trị đạo đức của con người chuẩn bị bước vào thế kỷ 21 trong tinh hình có những vấn để hiến đổi thường xuyên và nhanh chóng đang ảnh hưởng đến xã hội vào những năm cuối thé kỷ 20, Năm 1988, UNESCO phát hành tập tài liệu nghiên cứu về hệ thống cẩu trúc của giả trị, hình thành bộ công cụ đo đạc, kiểm chứng giá trị, giúp cho những công trình nghiên cứu giá trị đúng hướng.
-'14 - Trong 10 năm trở lại đây, các nước Châu A và Thái Binh Dương đã có nhiễu cuộc hội thảo nghiên cứu về gid trị và định hướng giá tri. Đáng chú ý là "Chương trình giáo dục cho người Philippin” và tập tài liệu “Giá trị trong hành động” của Trung tâm canh tân và Công nghệ giáo dục thuộc tổ chức Bộ trưởng Đông Nam Á, xuất hản 1992, nhằm đưa chương trình và cách giáo dục giá trị vào nhà trường và cộng đẳng của các nước Đông Nam A. - Đầu những năm 1990, tại Nhật Bản, nhà giáo dục học T. Makiguchi đã viết cuốn sách mang tên "Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo”.
Có nhiều vấn để được trình hãy trong cuốn sách này, đặc biệt giá trị được xét ở khía cạnh giáo dục với nhiều nội dung mới mẻ. Bên cạnh việc phân tích các loại giá trị như giá trị đạo đức, giá trị kinh tế, giá trị thẩm mỹ, tắc gid cũng đồng thời đưa ra một hệ thống giá trị mới lấy thiện, ích, mỹ làm chuẩn. Đây là hệ thống giá trị được xem là phù hợp trong giai đoạn kinh tế phát triển như hiện nay [34,108]. Báo cáo tại hội nghị Royaumont cũng nhấn mạnh đến những biến động của thế giới đang tác động đến sự thay đổi của các giá trị, nhấn mạnh sự khủng hoảng giá trị là một vấn dé toàn cầu.
Hội nghị nhắc đến những giá trị như tinh than tập thể, sự bảo vệ đời sống con người, bảo vệ thiên nhiên và chân giá trị nhân loại, sự công bing, tự do, hình đẳng, tất cả những diéu đó tạo nên một trung tâm các giá trị được toàn cầu chấp nhận. Ở Việt Nam, sau Đại Hội VI của Đảng, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giá trị và định hướng giá trị. Cụ thể như để tài nghiên cứu về giá trị nhân văn của Hỗ Tén Trinh, giá trị dao đức của Vũ Khiếu, giá trị văn hóa nghệ thuật của Tô Ngọc Thanh. Dưới ánh sáng của nghị quyết đại hội Đảng lan thứ VII, các để tài nghiên cứu cấp nhà nước trong chương trình nghiên cứu về con người (KX-07) đều để cận đến vấn để giá trị và định hướng giá trị của con người Việt Nam trong điều kiện chuyển sang nên kinh tế thị trường, đổi mới, mở cửa.
Đó là các để tài: tS: - Tổng quan về gid tri và giáo dục giá trị. Để tài KX-07-O4 năm 1993 do Lê bức Phúc và Mac Văn Trang chủ nhiệm. - Định hướng giá trị của thanh niên sinh viên trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam. Luận án PTS Khoa học Triết học.
Hà Nội, 1995 của tác giả Dương Tự Đàm. - Giá trị, định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị. Để tài KX-07-04 năm 1995 do Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang chủ nhiệm. Bề tài lấy mẫu trên thanh niên cả 3 miễn thuộc nhiều ting lớp, nghề nghiệp, trình độ học vấn khác nhau.
Để tài nêu lên được định hướng giá trị chung trên các lĩnh vực nhân cách, nghề nghiệp, đẳng thời nêu được sự khác biệt cùng nguyên nhân của sự khác biệt đó giữa nam nữ và giữa các khu vực. Ngoài các để tài mang tam cỡ quốc gia, còn có một số bài viết và báo cáo về gid trị va định hướng giá trị được trích đăng trên các tap chi khoa học. - “Con người Việt Nam trong công cuộc đổi mới” của GS - TS Phạm Minh Hạc. Kỷ yếu hội thảo khoa học.
Thành Phổ Hỗ Chí Minh tháng 7/1993. Bài viết để cập đến những yêu cầu đặt ra cho con người Việt Nam trong thời đại mới. - Nghiên cứu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam (bdo cáo tại Hội nghị khoa học quốc tế về con người, giáo dục và phát triển thế kỷ XXI, diễn ra từ 27-29/7/1994) do PGS. PTS Nguyễn Quang Liấn trình bay.
Tác giả đã nói lên được nhiều giá trị mới đang xuất hiện trong tư tưởng và hướng sống của thế hệ trẻ. - Giá trị - định hưởng giá trị và nhân cách. Tạp chí Nghién Cứu Giáo Dục 7/1993 của GS Tran Trọng Thuỷ. Bài viết đi sâu vào giải thích chức năng và ý nghĩa co bản của giá trị.
- Bước đầu ñm hiểu một số biểu hiện về định hướng giá trị tình bạn của thiếu niên & một số trường Trung Học Cơ Sở nội thành Thành Phố Hồ Chi Minh. Luận văn tốt nghiện đại học 1998 của Phùng Đình Dụng. Để tài xoáy sâu vào các giá trị cần có trong tình ban của học sinh. - Đầu năm 2002, luận án tiến sĩ “Binh hướng giá trị của thanh niên sinh viễn hiện nay trước sự chuyển đổi về kinh tế, xã hội của đất nước” của Đỗ Ngọc Hà.
Để tài cho thấy những giá trị nào điều tiết cuộc sống hàng ngày và hành vi xã hội của sinh viên, trên cơ sử đó xây dựng biểu định hướng giá trị của sinh viên Việt Nam. NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC Đạo đức là vấn để liên quan trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của con người, Đạo đức có quan hệ mật thiết với việc xây dựng các mối quan hệ ứng xử giữa con người với con người nhằm duy trì một xã hội tốt đẹp. Từ xa xưa, những năm 500 Trước Công Nguyễn, đạo đức đã được để cập đến như một nội dung thiết yếu không thể không có trong giáo dục. Nhà triết học cổ Hy Lạp Platon để cao giáo dục Chân, Thiện, Mỹ trong nghiên cứu triết học.
Aristote đã nói đến đức dục trong ba mặt Thể, Đức, Trí [40,43]. Đặc biệt Khổng Tử với hoc thuyết Nho giáo đã đưa ra những chuẩn mực cẩn có của người quân tử, Việc đánh giá con người dựa trên phẩm chất đạo đức của người đó là chủ yếu. Theo ông, người luật gia, phép nước [41,57]. Những vấn dé đạo đức xuất hiện từ thời xa xưa đó đã góp phẩn tạo nền tang vững chắc cho việc nghiên cứu đạo đức sau này.
Các quan niệm về dao đức, về thiện, ác lin lượt xuất hiện trong các tác phẩm của P.Anghen, Kant, Heghen, Phobach. Kant cho thiện là mệnh lệnh tuyệt đối, là cái phù hợp với những quy tắc đạo đức; Hêghen quan niệm ác là những dục vọng xấu xa của con người như lòng tham lam, sự thèm muốn; Phơbách coi cái thiện tuyệt đối là tình yêu thương đẳng loại [20,7]. Triết học Mác ra đời đã dem lại sự giải thích đúng dan về các hiện tượng của đời sống xã hội, trong đó có cả đạo đức. Theo quan niệm của triết học này, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, luôn luôn vận động biến đổi cùng với sự vận động biến đổi của lịch sử [4,40].
-17- Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về đạo đức thường gắn liễn tên tuổi của các học giả lớn.