phần Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng và 8 tiết. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Xung quanh vấn đề tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đạo đức, vấn đề thực trạng đạo đức và vấn đề xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập. Các nghiên cứu này đƣợc các tác giả trình bày dƣới dạng các đề tài khoa học, các luận văn, luận án, sách, tạp chí và dƣới nhiều góc độ khác nhau dựa trên các mục tiêu nghiên cứu. Có thể kể tới một số công trình sau: Nhóm thứ nhất, đi sâu làm rõ thêm về nguồn gốc, bản chất, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức: GS.
Hoàng Chí Bảo và TS. Trần Thị Minh Tuyết (2014), Chuyện kể về Hồ Chí Minh, Nxb Thông tin và truyền thông: các tác giả đã sƣu tầm, tổng hợp những mẩu chuyện vô cùng xúc động về tấm gƣơng đạo đức của Ngƣời, qua đó, bạn đọc có thể hiểu rõ hơn tƣ tƣởng đạo đức Hồ Chí Minh, càng thêm quyết tâm nguyện suốt đời học tập và làm theo tấm gƣơng đạo đức của Ngƣời; GS. Vũ Khiêu (2012), Hồ Chí Minh - Ngôi sao sáng mãi trên bầu trời Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia: Cuốn sách là công trình chuyên khảo, tập hợp những kết quả nghiên cứu công phu trong nhiều năm cũng nhƣ những trải nghiệm của tác giả về cuộc đời, sự nghiệp và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, trong đó tƣ tƣởng đạo đức Hồ Chí Minh là một trong những tƣ tƣởng lớn đƣợc coi là điểm nhấn của cuốn sách, đem lại cho ngƣời Luan van 8 đọc những thu hoạch bổ ích, cảm nhận mới về con ngƣời, sự nghiệp và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh trên nhiều bình diện, từ đó thấy rõ hơn tầm vóc, ảnh hƣởng và giá trị nhiều mặt của nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh đối với dân tộc và thời đại; Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2009), Mãi mãi học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Phân viện Đà Nẵng (1995), Góp phần nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trần Ngọc Ánh (2011), “Về mối tương quan giữa đức và tài trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Triết học, số 5 (240): các tác giả đã nêu rõ quan điểm về vai trò, sức mạnh của đạo đức cách mạng, mối quan hệ giữa đức và tài, những nội dung cơ bản về tƣ tƣởng đạo đức Hồ Chí Minh nhƣ trung với nƣớc, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tƣ; yêu thƣơng quý trọng con ngƣời, luôn tin tƣởng ở quần chúng, sống có tình có nghĩa; tinh thần quốc tế trong sáng. Nhóm thứ hai, vai trò và tầm quan trọng của việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức đối với cán bộ công chức, làm rõ thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ công chức và một số giải pháp nhằm nâng cao đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức hiện nay: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Phân viện Đà Nẵng (1998), Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình đổi mới, Nxb Đà Nẵng: trong bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, PGS, PTS.
Mạch Quang Thắng khẳng định tƣ tƣởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần quý báu của toàn Đảng và toàn dân ta và tƣ tƣởng của Ngƣời vẫn luôn luôn có trong hành trang của dân tộc Việt Nam; Lê Hữu Nghĩa (2016), Bản lĩnh chính trị của cán bộ công chức trong thời đại công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế, Tạp chí Cộng sản, số 879: tác giả đã khẳng định, bản lĩnh chính trị của mỗi cán bộ công chức cũng nhƣ của Đảng đã tạo nên sức mạnh, sự thống nhất ý chí, bảo đảm cho Đảng ta vƣợt qua mọi khó khăn, thử thách lãnh đạo cách mạng Việt Nam; Trần Ngọc Ánh (2012), Luan van 9 “Chỉnh đốn, đổi mới Đảng theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và trên tinh thần Nghị quyết Trung ƣơng 4 khóa XI”, Tạp chí Triết học, số 11 (258): tác giả khẳng định sự cần thiết và tầm quan trọng đặc biệt của việc chỉnh đốn, đổi mới Đảng theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và trên tinh thần Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng lần thứ 4 khóa (XI), trong đó, nhấn mạnh mục đích của việc đổi mới, chỉnh đốn Đảng là cơ hội để mỗi cán bộ công chức tăng cƣờng tự rèn luyện, giáo dục và tu dƣỡng lý tƣởng, phẩm chất đạo đức cách mạng; TS. Nhị Lê (2016), với cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 30 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, và bài viết đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 116 “Sự suy thoái về tƣ tƣởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng: bình tĩnh phòng ngừa, chủ động ngăn chặn và kiên quyết tẩy trừ”: tác giả thẳng thắn phân tích thực trạng suy thoái về chính trị, tƣ tƣởng, đạo đức, lối sống trong một số bộ phận cán bộ công chức hiện nay, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng công tác lý luận đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế; Nguyễn Trọng Phúc (2016), “Đảng cộng sản Việt Nam: Những bài học về xây dựng, chỉnh đốn Đảng”, Tạp chí Cộng sản, số 880: tác giả nêu ra 4 bài học, trong đó có bài học về củng cố quan hệ mật thiết với nhân dân, nâng cao đạo đức cách mạng và không ngừng đổi mới phƣơng thức lãnh đạo của Đảng. Tất cả các công trình trên đã đề cập toàn diện đến vấn đề đạo đức Hồ Chí Minh, vấn đề thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ công chức và sự vận dụng tƣ tƣởng đạo đức Hồ Chí Minh vào giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức. Tuy nhiên, chƣa có công trình nào nghiên cứu vấn đề cụ thể về vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong việc xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng hiện nay.
Song, nguồn tƣ liệu quý giá của tất cả các công trình khoa học nêu trên là những gợi mở và là cơ sở quan trọng để tác giả thực hiện đề tài này. Luan van 10 CHƢƠNG 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC 1. NGUỒN GỐC TƢ TƢỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH 1. Tƣ tƣởng và văn hóa truyền thống Việt Nam Trƣớc hết, đó là chủ nghĩa yêu nƣớc và ý chí đấu tranh bất khuất để dựng nƣớc và giữ nƣớc.
Từ văn hóa dân gian đến văn hóa bác học, từ nhân vật truyền thuyết đến các tên tuổi sáng ngời trong lịch sử nhƣ Hai Bà Trƣng, Ngô Quyền, Trần Hƣng Đạo, Nguyễn Trãi đều đã phản ánh chân lý đó một cách hùng hồn. Chủ nghĩa yêu nƣớc là dòng chủ lƣu chảy xuyên suốt trƣờng kỳ lịch sử Việt Nam, là chuẩn mực cao nhất, đứng đầu bảng văn hóa - tinh thần Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nƣớc đã trở thành động lực, sức mạnh truyền thống, đạo lý làm ngƣời, niềm tự hào và là nhân tố hàng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con ngƣời Việt Nam. Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo từ nƣớc ngoài du nhập vào Việt Nam đều đƣợc tiếp nhận khúc xạ qua lăng kính của tƣ tƣởng yêu nƣớc đó.
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên ở một dân tộc có bề dày chống ngoại xâm hàng nghìn năm. Thực tiễn của sự nghiệp dựng nƣớc và giữ nƣớc đã làm nảy sinh một cách tự nhiên truyền thống yêu nƣớc và trở thành một “hằng số” bất biến trong quá trình tồn tại và phát triển của ngƣời Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nƣớc. Đó là một truyền thống quý báu của ta.
Từ xƣa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lƣớt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nƣớc và lũ cƣớp nƣớc [44, tr. Luan van 11 Thông qua con đƣờng học hành ở trƣờng về lịch sử và văn học Việt Nam, thông qua khí phách và sự giáo dục trực tiếp của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân phụ của Ngƣời, đặc biệt là đƣợc chứng kiến phong trào đấu tranh của nhân dân xứ Nghệ, dần dần, chủ nghĩa yêu nƣớc Việt Nam cứ thấm vào trong tâm trí Hồ Chí Minh. Thời niên thiếu Hồ Chí Minh là thời kỳ dân tộc Việt Nam có nhiều đau thƣơng. Hàng loạt phong trào đấu tranh bị dìm trong biển máu.
Nhiều xu hƣớng cứu nƣớc bị thất bại, cả dân tộc lâm vào sự bế tắc, khủng hoảng về con đƣờng cứu nƣớc, khát vọng cháy bỏng của nhân dân ta là độc lập và tự do dân chủ đang chơi vơi giữa bầu trời phủ đầy bóng đen của chiến tranh xâm lƣợc. Môi trƣờng dân tộc mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nƣớc Việt Nam và khát vọng của nhân dân là nền tảng vững chắc đầu tiên tạo đà cho Hồ Chí Minh vƣợt xa hơn hẳn những nhà yêu nƣớc đƣơng thời để tìm thấy con đƣờng giải phóng đúng đắn cho phong trào cách mạng nƣớc ta. Đó cũng chính là cơ sở tƣ tƣởng đã dẫn dắt Ngƣời đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh viết: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nƣớc, chứ chƣa phải chủ nghĩa cộng sản đã đƣa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba” [49, tr.
Thứ hai, là tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tƣơng thân, tƣơng ái, “lá lành đùm lá rách” trong hoạn nạn, khó khăn. Truyền thống này hình thành cùng một lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm. Ngƣời Việt Nam quen sống gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa xóm, tắt lửa tối đèn có nhau. Bƣớc sang thế kỷ XX, mặc dù xã hội Việt Nam đã có sự phân hóa về giai cấp, truyền thống này vẫn còn rất bền vững.
Vì vậy, Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát huy sức mạnh của truyền thống nhân nghĩa, nhấn mạnh bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh). Luan van 12 Ngƣời thƣờng nhấn mạnh, nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình có nghĩa. Tình nghĩa ấy đƣợc Ngƣời nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Ngay cả khi tiếp thu lý luận Mác-Lênin - đỉnh cao của trí tuệ nhân loại cũng phải trên nền tảng của giá trị truyền thống đó.