Chương I: Điều kiện về “Cơ sở vật chất” khi thành lập cơ sở giáo dục mầm non có vốn đầu tư nước ngoài. Chương II: Điều kiện về “Nhân sự” khi thành lập cơ sở giáo dục mầm non có vốn đầu tư nước ngoài. Chương III: Điều kiện về “Chương trình giáo dục” khi thành lập cơ sở giáo dục mầm non có vốn đầu tư nước ngoài. Trong mỗi chương, tác giả sẽ tập trung phân tích và làm rõ ba nội dung như sau: (1) Vấn đề thực tiễn cần giải quyết; (2) Cách thức giải quyết vấn đề; (3) Đề xuất giải pháp; Đi kèm với các giải pháp được đề xuất, tác giả đã thực hiện kiểm nghiệm thông qua Phiếu khảo sát để đánh giá được tính khả thi của các giải pháp này.
Kết quả kiểm nghiệm các giải pháp đã đề xuất sẽ được thể hiện thông qua Phụ lục II và Phụ lục III của đề án này. ĐIỀU KIỆN VỀ CƠ SỞ VẬT CHẤT KHI THÀNH LẬP CƠ SỞ GIÁO DỤC MẦM NON CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1. Vấn đề thực tiễn cần giải quyết và cách thức giải quyết Điều 49 Luật giáo dục 2019 quy định “Nhà trường được thành lập khi có đề án thành lập trường phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục theo quy định của Luật Quy hoạch” và “Nhà trường được phép hoạt động giáo dục khi đáp ứng điều kiện có đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị đáp ứng yêu cầu hoạt động giáo dục; địa điểm xây dựng trường bảo đảm môi trường giáo dục, an toàn cho người học, người dạy và người lao động”. Tuy nhiên, để được thành lập cơ sở giáo dục mầm non có vốn đầu tư nước ngoài, thực tiễn cần giải quyết hai vấn đề về diện tích sử dụng xây dựng trường và quy hoạch về hoạt động giáo dục theo như phân tích dưới đây.
Thứ nhất, về điều kiện đáp ứng diện tích xây dựng trường. Theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 36 Nghị định số 86/2018/NĐ-CP quy định: “Trường tập trung tại một địa điểm, có môi trường tốt. Diện tích mặt bằng xây dựng trường được xác định trên cơ sở số nhóm lớp, số trẻ với bình quân ít nhất 08 m2/trẻ đối với khu vực thành phố, thị xã và 12 m2/trẻ đối với khu vực nông thôn”. Theo Báo cáo tham luận công tác quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nêu rõ cụm từ “Diện tích mặt bằng xây dựng trường" không thống nhất với các văn bản pháp lý liên quan khác về xây dựng, dẫn đến quá trình xem xét cấp giấy chứng nhận đầu tư/ thẩm định cấp phép thành lập/ thẩm định cấp phép hoạt động có sự chênh lệch về quy mô diện tích/học sinh cũng như các điều kiện khác.
Mặt khác, tại Thông tư 13/2020-TT-BGDDT quy đinh về tiêu chuẩn cơ sở vật chất các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học quy định về “diện tích khu đất xây dựng trường, điểm trường” được xác định trên cơ sở số nhóm, lớp, số trẻ em với bình quân tối thiểu 12m2 cho một trẻ 10 em; đối với các đô thị miền núi, khu vực trung tâm các đô thị có quỹ đất hạn chế cho phép bình quân tối thiểu 10m2 cho một trẻ em2. Thông tư này lại xác định diện tích đất bằng thuật ngữ “diện tích khu đất xây dựng trường, điểm trường”. Rõ ràng khái niệm này không thống nhất với Cụm từ “Diện tích mặt bằng xây dựng trường" đã được quy định tại Nghị định số 86/2018/NĐ-CP. Do đó dẫn đến cách hiểu khác nhau khi không có một văn bản nào định nghĩa chi tiết về các khái niệm này.
Theo Nghị định 46/2017/NĐ-CP quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục được sửa đổi bởi Nghị định 135/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/11/2018 quy định về điều kiện diện tích trường mẫu giáo, trường mầm non, nhà trẻ hoạt động giáo dục: “Diện tích khu đất xây dựng gồm: Diện tích xây dựng; diện tích sân chơi; diện tích cây xanh, đường đi. Diện tích khu đất xây dựng bình quân tối thiểu 12 m2 cho một trẻ em đối với khu vực đồng bằng, trung du (trừ thành phố thị xã); 08 m2 cho một trẻ em đối với khu vực thành phố, thị xã, núi cao và hải đảo.” Liên quan đến lĩnh vực xây dựng, Thông tư 06/2021/TT-BXD quy định về phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành quy định “Tổng diện tích sàn của nhà/công trình: Tổng diện tích sàn của tất cả các tầng, bao gồm cả các tầng hầm, tầng nửa hầm, tầng lửng, tầng kỹ thuật, tầng áp mái và tầng tum. Diện tích sàn của một tầng là diện tích sàn xây dựng của tầng đó, gồm cả tường bao (hoặc phần tường chung thuộc về nhà) và diện tích mặt bằng của lôgia, ban công, cầu thang, giếng thang máy, hộp kỹ thuật, ống khói”.3 Điều 7 Thông tư 23/2014/TT – BTNMT về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy định: 2 Khoản 3 Điều 5 Thông tư 13/2020- TT - BGDDT 3 Phụ lục II phân cấp công trình xây dựng theo quy mô kết cấu (Ban hành kèm theo Thông tư số 06/2021/TT-BXD ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng). 11 “Diện tích xây dựng: ghi diện tích mặt bằng chiếm đất của nhà ở tại vị trí tiếp xúc với mặt đất theo mép ngoài tường bao của nhà, bằng số Ả Rập, theo đơn vị mét vuông, được làm tròn số đến một chữ số thập phân; Diện tích sàn: ghi bằng số Ả Rập theo đơn vị mét vuông, được làm tròn số đến một chữ số thập phân.
Đối với nhà ở một tầng thì ghi diện tích mặt bằng sàn xây dựng của nhà đó. Đối với nhà ở nhiều tầng thì ghi tổng diện tích mặt bằng sàn xây dựng của các tầng.” Trên thực tế, việc xác định diện tích mặt bằng xây dựng trường chưa thực sự thống nhất giữa các cơ quan chức năng, cụ thể: Tại Sở KH & ĐT Tp Hồ Chí Minh, một số trường hợp xác định diện tích để tính quy mô cho Cơ sở giáo dục mầm non được tính dựa trên tổng diện tích sàn xây dựng. Tuy nhiên, khi xin ý kiến từ Sở GDĐT Tp HCM thì nhận được quan điểm tính theo diện tích xây dựng. Thực tiễn xảy ra ở Cơ sở giáo dục mầm non X khi thực hiện hồ sơ liên quan đến thủ tục xin dự án đầu tư, mặc dù tổng diện tích sàn xây dựng Nhà đầu tư được quyền sử dụng: 610m2, trong đó: 420m2 là diện tích bố trí phòng học cho học sinh, còn lại 180m2 là diện tích làm khu vui chơi và sân cho trẻ.
Tuy nhiên, Sở Giáo dục và Đào tạo TP Hồ Chí Minh quy định Diện tích mặt bằng xây dựng là diện tích mặt bằng xây dựng để xác định quy mô trẻ tối đa chứ không phải là diện tích khu đất xây dựng.4 Một ví dụ khác, cách hiểu từ Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh có phần khác so với Sở Giáo dục và Đào tạo Hồ Chí Minh. Trong một dự án khác, Sở KHĐT Hồ Chí Minh đã yêu cầu xác định phần diện tích mặt bằng để xác định quy mô trẻ.5 Tại Nghị định 46/2017/NĐ-CP có đề cập “Đối với nơi khó khăn về đất đai, có thể thay thế diện tích xây dựng bằng diện tích sàn xây dựng và bảo đảm đủ diện tích theo quy định”. 4 Phụ lục I - Theo văn bản 01 được ban hành từ sở Giáo dục và Đào Tạo Hồ Chí Minh 5 Phụ lục I - Theo văn bản 02 ban hành từ sở KH&ĐT Tp HCM 12 Về bản chất, cách xác định diện tích xây dựng và diện tích sàn xây dựng là hoàn toàn khác nhau. Việc quy định khá chung chung và mơ hồ, không có xác định cụ thể địa điểm nào khó khăn về đất đai, và như thế nào gọi là khó khăn về đất đai sẽ dẫn đến sự không thống nhất áp dụng pháp luật.
Thứ hai, về việc phù hợp với quy hoạch mạng lưới giáo dục. Căn cứ Khoản 1 Điều 33 Nghị định số 86/2018/NĐ-CP quy định điều kiện để cơ sở giáo dục được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư: “Phù hợp với quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt”. Khoản 1 Điều 49 Luật Giáo dục 2019 quy định điều kiện thành lập nhà trường và điều kiện được phép hoạt động giáo dục: “Nhà trường được thành lập khi có đề án thành lập trường phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục theo quy định của Luật Quy hoạch”. Theo ý kiến của Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà nhấn mạnh yêu cầu phù hợp với Quy hoạch là vấn đề cần được quan tâm tại Hội nghị Phát triển giáo dục và đào tạo vùng Đông Nam Bộ đến năm 2023, tầm nhìn đến năm 2045; triển khai thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 7/10/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 20456.
Hiện nay, theo phản hồi của Sở Kế hoạch và Đầu tư, đa phần ý kiến của Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Đức và các quận, huyện tại địa điểm thực hiện dự án đều trả lời chỉ có quy hoạch đối với cơ sở giáo dục công lập, không có cơ sở để trả lời về các dự án có vốn đầu tư nước ngoài có phù hợp mạng lưới các cơ sở giáo dục hay không. Do đó, nhiều Nhà đầu tư đã thuê mặt bằng trước đó, dự kiến cải tạo thành cơ sở giáo dục nhưng khi thực hiện xin dự án đầu tư không được phê duyệt do vị trí đất không thuộc quy hoạch mạng lưới giáo dục7. Một ví dụ điển hình, theo Công văn số: XXXX/SQHKT- QHKTT ban hành ngày XX/YY/2023 về việc cho ý kiến về hồ sơ điều chỉnh địa điểm dự án đầu tư của một cơ 6 https://baochinhphu.vn/quy-hoach-giao-duc-phai-di-truoc-tich-hop-thuc-chat-voi-quy-hoach-phat-trien-kinh-te- xa-hoi- htm 7 Báo cáo tham luận công tác quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. 13 sở giáo dục mầm non có vốn đầu tư nước ngoài liên quan đến quy hoạch tại địa điểm mới.